LUẬN VĂN: Xuất khẩu giầy dép Việt Namthực trạng và giải pháp - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Xuất khẩu giầy dép Việt Nam-
thực trạng và giải pháp
Lời mở đầu

Trước năm 1996, xu hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường đã hình thành nhưng
phải đến đại hội VI mới xuất hiện bước ngoặt trong đổi mới chính sách và cơ chế
quản lý kinh tế nói chung, cơ chế quản lý thương mại và dịch vụ nói riêng. Bước
ngoặt này đã đem lại hiệu quả kinh tế kỳ diệu cho nền kinh tế, biến nền kinh tế nước
ta từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá gắn sản xuất
với thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành phần kinh tế được tự do kinh
doanh những mặt hàng mà nhà nước không cấm, nhà nước bảo hộ những hoạt động
kinh doanh hợp pháp và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế bình đẳng. Việc
chuyển hướng nền kinh tế đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu. Qua từng
năm, kim ngạch xuất nhập khẩu đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu tăng lên nhanh
chóng và xuất khẩu trở thành mặt trận kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu đã được công nhận là một mô hình
phát triển đưa các quốc gia thoát khỏi tình trạng lạc hậu và đói nghèo, đưa quốc gia
tiến gần đến mức chung của thế giới.

I. Thương mại quốc tế.
1. Lý thuyết thương mại quốc tế.
Lý thuyết thương mại quốc tế nhằm giải thích tại sao có thương mại giữa các nước
và tại sao xuất hiện các dạng thức thương mại. Thương mại là sự trao đổi tự nguyện
giữa các quốc gia, dân tộc hay nói cho chính xác là các nước sẽ tự nguyện tham gia
vào thương mại một khi họ thu được lợi ích từ thương mại.
Adam Smith là nhà kinh tế học đầu tiên đưa ra lý thuyết khoa học về thương mại.
Theo ông, thương mại giữa hai quốc gia dựa trên lợi thế tuyệt đối. Khi một nước tỏ
ra hiệu quả hơn (có lợi thế tuyệt đối) về sản xuất một mặt hàng nào đó và tỏ ra kém
hiệu quả hơn (có nhược điểm tuyệt đối) về sản xuất một mặt hàng khác trong so sánh
với một nước thứ hai thì cả hai nước sẽ có lợi hơn khi chuyên môn hoá vào sản xuất
mặt hàng thuộc về lợi thế tuyệt đối của mình và dùng một phần sản phẩm đó trao đổi
với nước kia để nhận được sản phẩm mà sản xuất ra nó là nhược điểm tuyệt đối của
mình. Bằng cách này, nguồn lực của mỗi nước sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn và
sản phẩm của cả hai mặt hàng sẽ tăng lên.
David Ricardo đã đưa ra một lý thuyết tổng quát hơn về thương mại. Theo ông,
thương mại cả đôi bên cùng có lợi có thể xảy ra ngay cả khi một trong hai nước có
lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng so với nước kia, trừ phi lợi thế tuyệt
đối là đồng đều cho tất cả các mặt hàng. David Ricardo giải thích đó là do lợi thế
tương đối mang lại.
Lợi thế tuyệt đối là một khái niệm hết sức quan trọng của kinh tế học. Theo quy luật
lợi thế so sánh, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác
trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào
thương mại quốc tế tạo ra lợi ích cho mình nghĩa là quốc gia có hiệu quả thấp trong
sản xuất tất cả các loại hàng hoá sẽ chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi các loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng ít bất lợi nhất (những hàng hoá có lợi thế tương
đối) để đổi về các loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng bất lợi nhất (những hàng hoá
không có lợi thế tương đối). Tuy nhiên, lý thuyết của David Ricardo là phiến diện vì

không chỉ có nước giàu mà còn cả nước nghèo cũng không thể phát triển nếu tự tách
mình hoặc bị cô lập khỏi thị trường quốc tế. Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển
kéo theo sự phát triển không ngừng của trao đổi và lưu thông hàng hoá cũng như sự
phát triển của phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế. Thương mại quốc tế
ngày nay không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu
giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế. Vì vậy phải coi trọng thương mại
quốc tế như là một tiền đề, một nhân tố phát triển trong nước trên cơ sở lựa chọn một
cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế.
2. Đặc trưng của thương mại quốc tế
Nghiên cứu thương mại quốc tế như là một hoạt động kinh doanh thì nó có những
đặc trưng cơ bản sau:
+ Sự khác nhau giữa giao dịch thương mại quốc tế và buôn bán trong nước
Giao dịch thương mại quốc tế là sự mở rộng giao dịch buôn bán trong nước cùng với
sự phát triển của nền kinh tế, xu hướng hợp tác kinh tế giữa các nước ngày càng phát
triển. Trong hệ thống kinh tế thế giới thì mỗi quốc gia có vai trò như một mắt xích và
các mắt xích liên kết chặt chẽ với nhau.
+ Phương thức giao dịch phức tạp hơn so với giao dịch buôn bán trong nước do
- Thời gian vận chuyển hàng hoá là tương đối lâu do khoảng cách không gian
- Bảo quản hàng hoá phức tạp, khó khăn vì quãng đường vận chuyển dài, tải qua
nhiều vùng khí hậu dẫn đến hay xảy ra tranh chấp về chất lượng hàng hoá.
+ Thanh toán và giải quyết tranh chấp.
+ Chịu ảnh hưởng sâu sắc các chính sách kinh tế-xã hội của các nước
- Chính sách khuyến khích hay hạn chế ngoại thương của chính phủ.
- Sự điều chỉnh hối đoái của các quốc gia có đồng tiền mạnh - Thị hiếu, văn hoá, thói quen tập quán của mỗi nước.
+ Xu hướng kinh doanh thương mại quốc tế.
II. Xuất khẩu hàng hoá và vai trò của xuất khẩu hàng hoá.
1. Khái niệm xuất khẩu.

vốn và khoa học công nghệ. Song không phải quốc gia nào cũng có đầy đủ những
điều kiện đó. Hiện nay, các nước đang phát triển đang thiếu vốn và kỹ thuật công
nghệ nhưng lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên lại rất dồi dào. Các nước phát
triển lại dồi dào về vốn và khoa học công nghệ nhưng lại thiếu lao động và tài
nguyên thiên nhiên. Để giải quyết tình trạng này, họ buộc phải nhập từ bên ngoài
những yếu tố sản xuất trong nước chưa hoặc gặp khó khăn trong sản xuất, có nghĩa là
phải cần một nguồn ngoại tệ chính là khoản ngoại tệ thu về từ xuất khẩu. Xuất khẩu
là hoạt động chính tạo ra tiền đề cho nhập khẩu, tạo điều kiện cho qui mô và tốc độ
tăng trưởng của nhập khẩu.
Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện qua một số khía cạnh
sau:
+ Xuất khẩu đảm bảo cho khả năng phát triển kinh tế.
ở những nước đang phát triển, một trong những vật cản chính của quá trình tăng
trưởng kinh tế là sự thiếu vốn. Nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là chủ
yếu nhưng mọi cơ hội tiếp nhận đầu tư hay vay nợ nước ngoài chỉ tăng lên khi chủ
đầu tư hay người cho vay nợ nhận thấy khả năng xuất khẩu của nước đó vì đây là
nguồn chính đảm bảo khả năng trả nợ.
+ Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Thực tế cho thấy rằng xuất khẩu góp phần làm dịch chuyển nền kinh tế của các quốc
gia đang phát triển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được nhìn
nhận dưới hai cách sau: - Chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa. Điều này
có nghĩa là trong trường hợp nền kinh tế qui mô nhỏ và lạc hậu, sản xuất còn chưa đủ
tiêu dùng thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm nếu
không muốn nói là không thể tăng trưởng. Do đó các ngành sản xuất không có cơ hội
để phát triển và mở rộng.

dụng quốc tế phát triển theo. Ngược lại sự phát triển của các ngành này tạo điều
kiện cho ngành xuất khẩu càng phát triển hơn.
+ Ngân sách nhà nước cũng có thêm một khoản thu nhờ thuế xuất khẩu.
3.2. Đối với một doanh nghiệp.
+ Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Những yếu tố đó đòi hỏi
doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường. Trên cơ sở
đó, doanh nghiệp phát triển tới một mức độ cao hơn.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ
kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước trên cơ sở hai bên cùng có lợi,
tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt động kinh
doanh, tăng uy tín của doanh nghiệp.
+ Xuất khẩu khuyến khích phát triển các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
như hoạt động đầu tư, nghiên cứu phát triển, marketing III. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu.
1. Xuất khẩu trực tiếp.
Đây là hình thức xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất
ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước sau đó xuất khẩu ra nước ngoài
với danh nghĩa là hàng của mình. Với hình thức này doanh nghiệp đứng ở thế chủ
động trong hoạt động kinh doanh, mọi lợi nhuận doanh nghiệp được hưởng hết.
Nhưng doanh nghiệp lại cần có nghiệp vụ ngoại thương cao và kinh nghiệm xuất
khẩu.
2. Xuất khẩu uỷ thác.
Dưới hình thức này, các đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian thay
cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương, tiến hành
những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá cho nhà sản xuất và qua đó thu được
một số tiền nhất định. Hình thức xuất khẩu này giúp cho các doanh nghiệp có thể
xuất khẩu những mặt hàng mà họ có khả năng sản xuất nhưng không có điều kiện

Là hình thức một nước bán hàng hoá cho một nước khác mà không cần làm thủ tục
xuất nhập khẩu. Hình thức này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí xuất nhập
khẩu.
IV. Nội dung của hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu là một quy trình kinh doanh bao gồm nhiều công đoạn khác
nhau, mỗi công đoạn lại mang những đặc trưng riêng. Vì vậy hoạt động xuất khẩu
phức tạp hơn nhiều so với hoạt động thương mại trong nước.
1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu.
Thị trường là yếu tố sống còn và là yếu tố vận động không ngừng, vì vậy bất kỳ
doanh nghiệp nào cũng phải nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu để chỉ ra phương thức hoạt
động của nó như thế nào cho phù hợp để từ đó doanh nghiệp có đối sách thích hợp
trong quá trình xuất khẩu sang từng loại thị trường. Hoạt động nghiên cứu thị trường
bao gồm: 1.1 Nghiên cứu môi trường.
Điều này thể hiện việc nghiên cứu môi trường kinh tế, môi trường văn hoá-xã hội,
môi trường chính trị, hệ thống luật pháp, môi trường công nghệ.
1.2 Nghiên cứu giá cả hàng hoá.
Xu hướng biến động của giá cả trên thị trường quốc tế rất phức tạp và chịu sự chi
phối của những nhân tố lạm phát, chu kì, cạnh tranh lũng đoạn giá cả.
1.3. Nghiên cứu về cạnh tranh.
+ Ai có thể là đối thủ cạnh tranh
+ Cạnh tranh như thế nào (cạnh tranh về độ tin cậy, đổi mới công nghệ hay khuyếch
trương quảng cáo)
1.4. Nghiên cứu về nhu cầu.
Nhu cầu là một yếu tố chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những nhân tố khác như văn hoá,
sở thích, kinh tế, chính trị
2. Tạo nguồn hàng xuất khẩu.
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá, dịch vụ của một công ty hoặc một địa

2. Quy chế xuất nhập khẩu.
2.1. Thuế quan xuất khẩu.
Thuế quan xuất khẩu làm tăng thu cho ngân sách nhưng nó lại làm cho giá cả quốc tế
của hàng hoá bị đánh thuế cao hơn mức giá cả trong nước. Tác động của thuế quan
xuất khẩu nhiều khi mang đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu do quy mô xuất khẩu
của một nước là nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới, thuế xuất khẩu là hạ
thấp tương đối mức giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với
mức giá cả quốc tế và sẽ làm giảm sản lượng trong nước của mặt hàng có thể xuất
khẩu, sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi đối với mặt hàng xuất khẩu. Mặt khác
việc duy trì một mức thuế xuất khẩu cao trong một thời gian dài sẽ làm lợi cho
những đối thủ cạnh tranh. Tóm lại, thuế xuất khẩu cao sẽ làm hạn chế hoạt động xuất
khẩu và ngược lại thuế xuất khẩu thấp sẽ tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu. 2.2. Các nhân tố phi thuế quan.
+ Hạn ngạch: là quy định của nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay
một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu hay nhập khẩu từ một thị trường trong một
thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép. Hạn ngạch nhập khẩu của
một nước sẽ ảnh hưởng đến số lượng hàng hoá xuất khẩu của nước khác.
+ Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: là hình thức quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia
xuất khẩu phải hạn chế bớt số lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách tự
nguyện, nếu không họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết. Khi một mặt hàng
xuất khẩu gặp phải hạn chế xuất khẩu tự nguyện sẽ gặp khó khăn trong số lượng
hàng được xuất khẩu tương tự như hạn ngạch
+ Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: bao gồm những quy định về về sinh, đo
lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh thực
phẩm, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường sinh thái đối với máy móc thiết bị và dây
chuyền công nghệ.
+ Trợ cấp xuất khẩu: chính phủ có thể áp dụng những biện pháp trợ cấp trực tiếp
hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất khẩu hoặc có thể thực hiện một Chương II
Thực trạng xuất khẩu giầy dép của
Việt Nam trong thời gian qua
I. Kim ngạch xuất khẩu.
Giầy dép là mặt hàng có sự khác biệt so với những hàng hoá tiêu dùng khác ví dụ
như thực phẩm . Mặt hàng này chỉ phát triển được khi đời sống của nhân dân đã đạt
được một mức nhất định. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, những năm
gần đây nước ta đang chuyển đổi mạnh mẽ từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
quan liêu sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần theo kinh tế thị
trường. Nhờ sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế này mà đời sống nhân dân được nâng cao
rõ rệt . Do đó, phát triển và mở rộng sản xuất hàng tiêu dùng có chất lượng cao là
vấn đề được quan tâm hàng đầu để đáp ứng nhu cầu trong nước và nhu cầu xuất
khẩu.
Sau khi nước ta tiến hành chính sách mở cửa vào năm 1992, ngành da giầy nước ta
đã có bước phát triển mạnh và trở thành một trong số những ngành có triển vọng
xuất khẩu cao. Thời kỳ 1991-1993 xuất khẩu giầy dép đứng hàng thứ 10 trong số các
mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam thì đến năm 1994 giầy dép đã vươn lên hàng thứ 6
và hiện nay giầy dép đứng hàng thứ 3 trong số những mặt hàng xuất khẩu chỉ sau dầu
khí và dệt may. Quy mô xuất khẩu của ngành giầy dép là rất lớn. Bảng 1 sẽ cho ta
thấy điều đó.

Bảng 1. Giá trị xuất khẩu giầy dép Việt Nam.
Đơn vị: triệu USD.

666,5

- -
Giầy nữ 30 63,84 72,46 90,1 155,2

- -
Giầy vải 20,5

35,5 51,54 87,2 105,7

- -
Dép và các loại khác

12 14,2 21 25 37,1 - -
Nguồn: bộ Thương Mại và Ngân hàng thế giới Việt Nam.
Bảng số liệu trên không đầy đủ do điều kiện thu thập số liệu khó khăn nhưng qua đó
ta cũng thấy một điều rõ ràng là lĩnh vực xuất khẩu giày dép hiện nay đang chiếm
một phần đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Theo số liệu của tổng
công ty da giầy Việt Nam, năm 1999 tổng kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 1,4 tỷ USD,
tăng 30% so với năm 1998. Góp phần vào sự tăng trưởng này là một hệ thống các
doanh nghiệp, công ty hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất giày dép nói
chung và xuất khẩu giày dép nói riêng bao gồm:
+ Doanh nghiệp quốc doanh trung ương chiếm 25% số lượng sản phẩm và 18,8%
tổng kim ngạch xuất khẩu.
+ Doanh nghiệp quốc doanh địa phương chiếm 19,5% số lượng sản phẩm và 14,5%
tổng kim ngạch xuất khẩu.
+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 37,5% số lượng sản phẩm và
52,8% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Trong hệ thống doanh nghiệp sản xuất giày dép thì tổng công ty giầy da Việt Nam là
đơn vị dẫn đầu trong vấn đề định hướng phát triển sản phẩm và tìm kiếm thị trường

Tỷ trọng
(%)
1997
Tỷ trọng
(%)
Các doanh nghiệp quốc doanh 356,994 67,54 550,4 57,06
Các doanh nghi
ệp 100% vốn
nước ngoài
79,576 15,06 262,12 27,18
Các doanh nghiệp liên doanh 91,978 17,4 152,01 15,76
Tổng số 528,748 100 964,53 100
Nguồn: tổng công ty da giầy Việt Nam.
Trong năm 1996 và 1997, các doanh nghiệp quốc doanh là những đơn vị kinh tế có
giá trị xuất khẩu giầy dép lớn nhất trong các thành phần kinh tế. Năm 1996 doanh
nghiệp quốc doanh chiếm 67,54% và năm 1997 chiếm 57,06% tỷ trọng xuất khẩu.
Điều này chứng tỏ rằng thành phần kinh tế quốc doanh vẫn chiếm vị trí quan trọng
trong sản xuất nói chung và xuất khẩu giầy dép nói riêng. Đây có lẽ là một điều dễ
hiểu vì ngành giầy dép có vai trò khá quan trọng trong nền kinh tế nước ta nên được
đầu tư nhiều và được nhà nước coi trọng. Mặt khác đây cũng là ngành đòi hỏi kỹ
thuật công nghệ cao nên thành phần kinh tế cá thể không thể có đủ vốn, kinh nghiệm
cũng như trình độ để tham gia vào lĩnh vực này.
II. Thị trường xuất khẩu giầy dép của Việt Nam.
Kể từ những năm 1980, đồ da Việt Nam đã có sự phát triển khá mạnh do có sự hợp
tác giữa Việt Nam với Liên Xô và một số nước Đông Âu cũ trong hội đồng tương trợ
kinh tế. Các sản phẩm giầy dép theo sự hợp tác này không có sự đảm bảo về chất
lượng cũng như tính cạnh tranh cao do thói quen làm ăn xã hội chủ nghĩa. Kể từ khi
hiệp định này bị cắt bỏ thì ngành giầy da nước ta mới có bước tiến bộ nhất từ sau khi
nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường vào năm 1992. Ngành giầy dép trở thành


Tổng cộng 100
Nguồn: báo cáo giữa năm 2000 của Ngân hàng thế giới.
Bảng 4 minh họa tình tình xuất khẩu giầy dép Việt Nam năm 1999 vào một số nước
trên thế giới.
Bảng 4. Xuất khẩu giầy dép Việt Nam vào một số nước (1999).

Đơn vị: triệu USD.
Quốc gia KNXK Quốc gia KNXK
Các nước ASEAN 1998 1999 Châu Âu 1998 1999

Singapo 4,2 9,3 Italia 60,3 66,8
Philipin 1,0 1,0 Nga 10,7 7,2
Indonesia 0,8 2,5 Tây Ban Nha 24,5 36,9
Malaysia 0,8 1,7 Đức 112,4

192,3

Campuchia 0 0,2 Vương quốc Anh 141 194,5

Thái Lan 1,5 0,7 Pháp 77,3 132,7

Lào 0,2 2,7 Hà Lan 65,3 125,6

Các nước châu á khác 1998 1999
Thụy Sĩ 4,7 6,4
Đài loan 87,5 46,7 Bỉ 119,6


Đơn vị: triệu USD.

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

1999

Tổng kim ngạch

26

119

271

380

520


thức mẫu mã đẹp và chất lượng tốt. Có thể nói một cách khái quát rằng trong những
năm gần đây, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của giầy dép Việt Nam là giầy thể thao,
giầy nam nữ, giầy vải, cặp túi các loại. Theo như dự báo của tổng công ty da giầy
Việt Nam thì năm 2000 các loại giầy thể thao sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu là 104 triệu
USD, chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả các loại sản phẩm giầy dép. Tiếp theo đó là
giầy vải, dự kiến đạt kim ngạch xuất khẩu là 45 triệu USD. Các loại sản phẩm trên là
các loại hàng hoá có khả năng phát triển cao trong những năm tới.
Trên đây là một số nét cơ bản về tình hình xuất khẩu giầy dép của nước ta. Để có
được những thành quả đáng khích lệ trên là do ngành da giầy đã chú trọng tới việc
đầu tư trang thiết bị phục vụ quá trình sản xuất. Các nhà đầu tư đã trang bị mới gần

Trích đoạn Về phía doanh nghiệp. Về phía nhà nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status