TIỂU LUẬN:
Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
a- Đặt vấn đề I- Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta được bắt đầu từ cuối
năm 1960. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III( 9- 1960) của Đảng lao động Việt
Nam đã quyết nghị “ Nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở miền Bắc nước ta là
quân đầu người khoảng dưới 100 đô la. Trong khi phân công lao động xã hội chưa
phát triển và lực lượng sản xuất ở trình độ thấp thì quan hệ sản xuất đã được đẩy lên
trình độ tập thể hóa và quốc doanh hóa là chủ yếu. Đến năm 1960: 85,8% tổng số hộ
nông dân vào hợp tác xã; 100% hộ tư sản được cải tạo trong tổng số tư sản công
thương nghiệp thuộc diện cải tạo, gần 80% thợ thủ công cá thể vào hợp tác xã tiểu
thủ công nghiệp
Đứng trước thực trạng này Đảng ta đã quyết định xóa bỏ cơ chế hành chính,
quan liêu, bao cấp, và xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lược lượng sản xuất ở nước ta hiện nay để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa , nhanh chóng đi lên chủ nghĩa cộng sản.
Chính vì những lý do trên mà em quyết định chọn đề tài: “Vấn đề đổi mới lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam”. Em nghĩ rằng việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp em và các bạn tìm
hiểu về vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam liệu có phải là tất yếu và liệu nó có tuân theo
một quy luật nào của tự nhiên hay không?. 2- Lực lượng sản xuất
Trong hệ thống các khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất là các khái niệm dùng để chỉ quan hệ mà C. Mác gọi là “
quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội: quan hệ của người với tự nhiên
và quan hệ của con người với nhau.
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa người với giới tự nhiên. Nghĩa
là trong quá trình thực hiện sự sản xuất xã hội, con người chinh phục giới tự nhiên
bằng tổng hợp các sức mạnh hiện thực của mình, sức mạnh đó được chủ nghĩa duy
vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất nói lên
năng lực thực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội.
Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng lao
động, biết sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất.Trong quá trình sản xuất,
lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp với
nhau tạo thành lực lượng sản xuất. Trong đó, “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn
thể nhân loại là công nhân, là người lao động”( 2).
Do đặc trưng sinh học- xã gội riêng có của mình, cong người, trong nền sản
xuất có sức mạnh và kỹ năng lao động thần kinh cơ- bắp. Trong lao động sức mạnh
và kỹ năng ấy đã được nhân lên gấp nhiều lần. Hơn nữa, lao động của con người
ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ. Trí tuệ con người không
phải là cái gì siêu tự nhiên,mà là sản phẩm của tự nhiên và của lao động. Nhưng
trong quá trình lịch sử lâu dài của xã hội loài người, trí tuệ hình thành phát triển cùng
với lao động làm cho lao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao hơn. Hàm lượng
trí tuệ trong lao động, đặc biệt là trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện nay,
đã làm cho con người trở thành một nguồn kực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực cơ
bản, nguồn lực vô tận.
quyết định nhất, là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất. Công cụ lao động,
theo Ph. Ăngghen là “ khí quan của bộ óc con người”, là “ sức mạnh của tri thức đã
được vật thể hóa” có tác dụng “ nối dài bàn tay” và nhân lên sức mạnh trí tuệ của con
người. Còn Mác gọi là hệ thống xương cốt và cơ bắp của nền sản xuất Công cụ lao
động là vật thể hay phức hợp vật thể mà con người đặt giữa mình với đối tượng lao
động. Trong quá trình sản xuất, công cụ lao động luôn luôn được cải tiến, tinh xảo
hơn để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn. Nó là yếu tố động nhất và
cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất. Cùng với sự biến đổi vá phát triển của công
cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con
người cũng tiến bộ, phong phú thêm, những ngành sản xuất mới xuất hiện, sự phân
công lao động phát triển. Chính sự chuyển đổi, cải tiến và hoàn thiện không ngừng
của nó đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét cho cùng
chính đó là nguyên nhân sâu xa xa của mọi biến cải xã hội. Trình độ phát triển của
công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là cơ sở
xác định trình dộ phát triển của sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa
các thời đại kinh tế. Đối với mỗi thế hệ mới, những tư liệu lao động do thế hệ trước
để lại trở thành điểm xuất phát của sự phát triển tương lai. Vì vậy những tư liệu đó là
cơ sở kế tục của lịch sử.
Tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động,
khi chúng kết hợp với lao động sống. Chính con người với trí tuệ và kinh nghiệm của
mình đã chế tạo ra tư liệu lao động. Tư liệu lao động dù có ý nghĩa đến đâu, nhưng
nếu tách khỏi người lao động thì cũng không thể phát huy được tác dụng, không thể
trở thành lực lượng sản xuất của xã hội.
Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C. Mác đã nêu một tư tưởng quan
trọng về vai trò của lực lượng sản xuất đối với việc thay đổi các quan hệ xã hội. C.
Mác viết: “ Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản
xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản
+ Quan hệ giữa người với người đối với việc sở hữu về tư liệu sản xuất.
+ Quan hệ giữa người và người đối với việc tổ chức quản lý.
+ Quan hệ giữa người và người đối với việc phân phối sản phẩm lao động.
Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào ý
muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất thuộc đời
sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở
sâu xa của đời sống tinh thần xã hội. Ba mặt quan hệ đó trong quá trình sản xuất xã
hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với
sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất. Các quan hệ sản xuất của một
phương thức sản xuất là một hệ thống bao gồm nhiều mối quan hệ phong phú và đa
dạng biểu hiện dưới nhiều hình thức. Mỗi mặt quan hệ của hệ thống quan hệ sản xuất
có vai trò và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nó tác động tới nền sản xuất xã hội nói
riêng và tới toàn bộ tiến trình lịch sử nói chung.
Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu
đối với tư liệu sản xuất- biểu hiện thành chế độ sở hữu- là đặc trưng cơ bản của
phương thức sản xuất. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất của mỗi nền kinh tế- xã
hội xác định, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất luôn luôn có vai trò quyết định đối
với tất cả các quan hệ xã hội khác . Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ
bản, quan hệ trung tâm của các quan hệ sản xuất. Chính quan hệ sở hữu- quan hệ
giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu các tư liệu sản xuất đã quy định địa vị
của từng tập đoàn trong hệ thống sản xuất xã hội. Đến lượt mình, địa vị của từng tập
đoàn người trong hệ thống sản xuất lại quy định cách thức mà các tập đoàn trao đổi
hoạt động cho nhau, quy định cách thức mà các tập đoàn tổ chức quản lý quá trình
sản xuất. Cuối cùng, chính quan hệ sở hữu là cái quyết định phương thức phân phối
sản phẩm cho các tập đoàn người theo địa vị của họ đối với hệ thống sản xuất xã hội.
“ Định nghĩa quyền sở hữu tư sản không phải là gì khác mà là trình bày tất cả những
quan hệ xã hội của sản xuất tư sản”.( 7).
ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất cụ thể. Do vậy, việc sử
dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất sẽ cho phép toàn bộ hệ thống
quan hệ sản xuất có khả năng vươn tới tối ưu. Trong trường hợp ngược lại, các quan
hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hưởng tiêu cực đến
sự phát triển kinh tế- xã hội.
Hiện nay, nhờ ứng dụng những thành tựu to lớn của khoa học quản lý hiện đại
nên vai trò của các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc biệt đối với việc
điều hành sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất ở tầm vĩ mô, trên thực tế
đã tăng lên gấp bội so với vài thập kỷ trước đây. Đây là điều rất đáng lưu ý trong việc
phân tích và đánh giá vai trò của các quan hệ sản xuất hiện đại.
Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức- quản lý, trong hệ thống các quan hệ sản
xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý
nghĩa hết sức to lớn đối với sự vân động của toàn bộ nền kinh tế- xã hội.
Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lý
sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con người, nên các
quan hệ phân phối là “ chất xúc tác” của các quá trình kinh tế- xã hội. Quan hệ phân
phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự sản xuất, làm năng động toàn bộ đời
sống kinh tế- xã hội; hoặc trong trường hợp ngược lại, nó có khả năng kìm hãm sản
xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội.
4- Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà
tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài
người- Quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất. Quy luật này vạch ra tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản
xuất vào sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đến lượt mình, quan hệ sản xuất tác
lượng sản xuất hùng mạnh mà lại không biến chúng từ chỗ là tư liệu sản xuất do cá
nhân sử dụng thành những tư liệu sản xuất xã hội, chỉ có thể được sử dụng chung bởi
một số đông người”( 8). Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
không tách biệt với nhau.
Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi, phát triển do lực lượng sản xuất
quyết định.
Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn,
con người luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động và chế tạo ra
những công vụ lao động mới, tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát triển của
công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất,
kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ. Lực lượng sản xuất trở thành yếu tố
hoạt động nhất, cách mạng nhất. Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định,
có khuynh hướng lạc hậu hơn sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản
xuất là nội dung của phương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội
của nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình
thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung thay đổi trước, sau đó hình thức
mới biến đổi theo. Tất nhiên, trong quan hệ với nội dung , hình thức không phải là
mặt thụ động, nó cũng tác động trở lại đối với việc phát triển của nội dung.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình
thành, biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Sự phù
hợp đó là động lực cho lực lượng sản xuất pats triển mạnh mẽ. Nhưng, lực lượng sản
xuất luôn phát triển còn quan hệ sản xuất có xu hướng tương đối ổn định. Khi lực
lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù hợp
với nó nữa, trở thành chướng ngại đối với sự phát triển của nó, sẽ nảy sinh mâu thuẫn
gay gắt giữa hai mặt của phương thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu
dẫn đến việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất
mới phù hợp với tính chất và trình độ mới của lực lượng sản xuất, mở đường cho lực
xuất( thúc đẩy hoặc kìm hãm), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ
thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phân phối
phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó ảnh hưởng đến thái
độ của quảng đại quần chúng lao động- lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội; nó tạo
ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp
dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công lao
động
Tuy nhiên, không được hiểu một cách giản đơn tính tích cực của quan hệ sản
xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ
thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm cả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan
hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc
đẩy con người hành động nhằm phát triển sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội. Sự tác động của quy
luật này đã đưa xã hội loài người trải qua các phương thức sản xuất: công xã nguyên
thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và phương thức sản xuất cộng
sản tương lai.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất là quy luật vận động, phát triển của xã hội qua sự thay thế kế tiếp
nhau từ thấp lên cao của các phương thức sản xuất. Nhưng không phải bất cứ nước
nào cũng phải nhất thiết, tuần tự trải qua tất cả các phương thức sản xuất mà loài
người đã biết đến. Thự tế phát triển của lịch sử nhân loại cho thấy, tùy theo điều kiện
lịch sử- cụ thể, một số nước có thể bỏ qua một hoặc một số phương thức sản xuất để
tiến lên phương thức sản xuất mới cao hơn. Đó chính là sự biểu hiện của quy luật
chung trong điều kiện cụ thể của mỗi nước. Quy luật chung chi phối sự vận động
phát triển của tất cả các nước; còn hình thức, bước đi cụ thể lại tùy thuộc vào điều
kiện cụ thể của mỗi nước.
nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển và tiến
bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
2- Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất- kỹ thuật
tương ứng.
Cơ sở vật chất của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực
lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật( công nghệ) tương ứng mà lực
lượng lao động xã hội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng
nhu cầu xã hội.
Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất- kỹ thuật của một xã hội là:
sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học- kỹ thuật; tính
chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị.
Nói cơ sở vật chất- kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ sở
vật chất- kỹ thuật đó đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phương thức
sản xuất đó được khẳng định sự thay thế phương thức sản xuất cũ và được phát triển
đúng trên cơ sở bản thân nó.
Đặc trưng của cơ sở vật chất- kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước chủ
nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Cơ sở vật chất- kỹ thuật
của chủ nghĩa tư bản, đặc trưng của nó là nền đại công nghiệp cơ khí hóa và chỉ khi
xây dựng xong cơ sở đó, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới trở thành
phương thức sản xuất thống trị.
Chủ nghĩa xã hội- giai doạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơn chủ
nghĩa tư bản- đòi hỏi một cơ sở vật chất- kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ kỹ
thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện
đại.
Do vậy có thể hiểu: Cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội sẽ là nền
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất yếu khách quan vì:
+ Nó là con đường duy nhất để tạo ra sự phát triển về chất đối với lực lượng
sản xuất và năng suất lao động. Chất của lực lượng sản xuất là hệ thống công cụ lao
động hiện đại với trình độ công nghệ hiện đại.
+ Công nghiệp hóa tạo điều kiện để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần
ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội bởi vì công nghiệp hóa sẽ làm cho
lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng, khối kượng của cải sản xuất ra
ngày càng nhiều tù đó mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội nói
chung và của con người nói riêng.
+ Là con đường duy nhất để đảm bảo sự thắng lợi cuối cùng vủa chủ nghĩa xã
hội.
Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không những là tất yếu mà còn là điều
kiện sống còn của chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hóa là tất yếu khách quan đối với
những nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong đó có nước ta.
3- Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Tạo điều kiện biến đổi về chất lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng
sức chế ngự của con người đối với tự nhiên, tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế;
do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân; góp phần quyết định sự
thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
- Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố tăng cường vai trò kinh tế của Nhà
nước; nâng cao năng lực tích lũy, tăng công ăn việc làm, nhờ đó làm tăng sự phát
triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế của con người- nhân tố trung tâm
của nền sản xuất xã hội.
- Tạo điều kiện vật chất cho tăng cường củng cố an ninh và quốc phòng.
- Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế dân tộc tự chủ, đủ sức
thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế.
chất mong muốn; gốm zin côn hoặc các- bua- si- lích chịu nhiệt cao
- Về công nghệ sinh học: công nghệ vi sinh, kỹ thuật cuzin, kỹ thuật gen và
nuôi cấy tế bào được ứng dụng ngày càng nhiều trong công nghiệp, nông nghiệp, y
tế, hóa chất, bảo vệ môi trường
Vào khoảng những năm 80, cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật( hay công
nghệ) hiện đại chuyển sang giai đoạn thứ ba- giai đoạn có nhiều quan điểm khác
nhau đặt tên gọi cho nó. Tương ứng với giai đoạn thứ ba cuộc cách mạng này còn có
một nội dung mới: điện tử và tin học.
- Về điện tử và tin học: một lĩnh vực vô cùng rộng lớn và hấp dẫn, nhất là lĩnh
vực máy tính, diễn ra theo 4 hướng nhanh( máy siêu tính); nhỏ( vi tính); máy tính có
xử lý kiến thức( trí tuệ nhân tạo); máy tính nói từ xa( viễn tin học).
Cuộc cách mạng này có hai đặc trưng chủ yếu:
Một là, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cách đây hơn 100
năm C. Mác đã từng dự đoán về mối quan hệ và sự phát triển giữa khoa học và lực
lượng sản xuất. Người viết “ Thiên nhiên không tạo ra máy móc, đầu xe lửa điện
báo tất cả các thứ đó là thành quả của bộ óc con người, được bàn tay con người tạo
ra là sức mạnh tri thức đã được vật hóa. Sự phát triển vốn cố định là chỉ tiêu cho thấy
rằng tri thức xã hội chung đã biến thành lượng sản xuất với mức độ cao, và do đó
cũng là chỉ tiêu nói lên mức độ phụ thuộc và biến đổi của chính những điều kiện hoạt
động xã hội với trí tuệ chung”( 11).
Nói khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là nó bao gồm cả khoa học
tự nhiên- kỹ thuật lẫn khoa học- xã hội, nhất là khoa học kinh té; nó do con người tạo
ra thông qua con người- nhân tố trung tâm- nhân tố chủ thể- đến lực lượng sản xuất.
Nó đòi hỏi phải có chính sách đầu tư đúng đắn cho khoa học kỹ thuật. Ngày nay, bất
cứ sự tiến bộ nào của kỹ thuật( công nghệ) sản xuất đều phải dựa trên những thành
tựu của khoa học làm cơ sở lý thuyết cho nó.
Hai là, thời gian cho một phát minh mới của khoa học rút ngắn lại và phạm vi
ứng dụng của một thành tựu khoa học vào sản xuất và đời sống ngày càng mở rộng.
ở nước ta, một nước bỏ qua chế độ tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội, công nghiệp
hóa và hiện đại hóa được tiến hành trong điều kieej thế giới đã trải qua hai cuộc cách
đối lao động công nghiệp ngày một tăng lên.
- Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản
đơn trong tổng lao động xã hội.
- Tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất chất( dịch vụ) tăng nhanh
hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
ở nước ta, phương hướng phân công lại lao động xã hội hiện nay cần triển
khai trên cả hai địa bàn: tai chỗ và nơi khác để phát triển về chiều rộng kết hợp phát
triển theo chiều sâu.
Trong hai địa bàn này cần ưu tiên địa bàn tại chỗ; nếu cần chuyển sang địa bàn
khác( đi vùng kinh tế mới) phải có sự chuẩn bị chu đáo.
Vấn đề phân công lao động xã hội có liên quan chặt chẽ với việc xây dựng cơ
cấu kinh tế hợp lý.
Cơ cấu kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: cơ cấu ngành và lĩnh vực kinh
tế, cơ cấu thành phần kinh tế và hướng phát triển tên các vùng kinh tế.
Cơ cấu kinh tế hiểu theo nghĩa hẹp là tổng thể quan hệ kinh tế giữa các ngành,
các lĩnh vực kinh tế, giữa các vùng kinh tế trong đó, quan hệ giữa công nghiệp,
nông nghiệp và dịch vụ là ba bộ phận có tầm quan trọng- “ bộ xương” của cơ cấu
kinh tế. Các quan hệ này được xem xét dưới các khía cạnh: trình độ công nghệ, quy
mô, nhịp điệu phát triển giữa chúng.
Xây dựng cơ cấu kinh tế là yêu cầu cần thiết khách quan của mỗi nước trong
thời kỳ công nghiệp hóa. Vấn đề quan trọng là tạo ra một cơ cấu kinh tế tối ưu( hợp
lý). Xây dựng một cơ cấu kinh tế được gọi là tối ưu khi nó đáp ứng được các yêu cầu
sau:
- Phản ánh được và đúng các quy luật khách quan, nhất là các quy luật kinh tế.
- Phù hợp với xu hướng của sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã và đang
diễn ra như vũ bão trên thế giới.
- Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, ngành, xí nghiệp, cả
III- Vấn đề đổi mới quan hệ sản xuất dẫn đến phát triển lực lượng sản xuất
trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam
ở nước ta trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây, đã có lúc chúng
ta tưởng rằng có thể thiết lập được một quan hệ sản xuất cao hơn, đi trước để mở
đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Song kết quả lại diễn ra trái với mong muốn
của chúng ta. đó là lực lượng sản xuất không phát triển, tình trạng trì trệ kéo dài,
hàng hóa sản xuất rra kém chất lượng, giá thành cao không thể cạnh tranh với hàng
ngoại, lại khan hiếm không đủ để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, đời sống
nhân dân rất khó khăn.
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau.
Song, một trong những nguyên nhân quan trọng là do chúng ta đã áp đặt chủ quan
một quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất . Trong điều kiện lực
lượng sản xuất còn ở trình độ thấp kém, phổ biến là sản xuất nhỏ nhưng vì muốn tiến
nhanh lên chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã nhấn mạnh quá mức quan hệ sở hữu mà
chưa chú ý đúng mức tới quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, trao đổi. Từ
đó đã dẫn đến việc mở rộng ồ ạt hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể, các thành
phần kinh tế khác bị ngăn cấm hoặc
xóa bỏ để chuyển sang kinh tế quốc doanh và tập thể qua các đợt cải tạo công thương
nghiệp tư bản tư doanh. Bên cạnh đó, việc duy trì quá lâu cơ chế hành chính, tập
trung, quan liêu, bao cấp và kèm theo nó là sự phân phối bình quân, lợi ích cá nhân
chưa được quan tâm đúng mức đã kìm hãm sức sản xuất của xã hội. Các thành phần
kinh tế tư nhân, tư bản nhà nước chưa được phát huy tác dụng. Động lực sản xuất bị
giảm, người lao động xa lánh tư liệu sản xuất, thờ ơ với các kế hoạch của tập thể và
Nhà nước.
Thực tế phát triển kinh tế ở nước ta gần 40 năm qua đã chứng minh rằng: quan
hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất không chỉ khi nó trở nên lạc
hậu, mà cả khi nó được áp đặt một hình thức đi trước quá xa so với lực lượng sản
nhảy vọt về chất.
Việc giải phóng lực lượng sản xuất có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
tiến trình đổi mới nền kinh tế nước ta, bởi vì:
Thứ nhất: nền kinh tế nước ta còn kém phát triển do điểm xuất phát thấp, đang
ở trạng thái đan xen nhiều loại hình và thành phần kinh tế ở những trình độ rất khác
nhau như phân tán và tập trung, thủ công và hiện đại, lạc hậu và tiên tiến Trong tình
hình đó, nếu không kiến tạo được những hình thức quan hệ sản xuất đa dạng thích
ứng với trình độ của lực lượng sản xuất ở tất cả các thành phần kinh tế hiện có, chúng
ta sẽ không thể khai thác được tiềm năng to lớn của những thành phần kinh tế đó. Vì
vậy, thừa nhận sự tồn tại lâu dài và thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế
nhiều thành phần là giải pháp quan trọng nhất để giải phóng và phát triển lực lượng
sản xuất ở nước ta.
Thứ hai: Khi lực lượng sản xuất được giải phóng sẽ tạo ra động lực để khai
thác và sử dụng có hiệu quả tất cả các nguồn kực hiện có như nguồn lực nhàn rỗi
trong dân cư, tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và trí tuệ con người.
Thứ ba: chỉ khi lực lượng sản xuất được giải phóng, mọi tiềm năng sản xuất
được gợi mở, khơi thông, chúng ta mới có thể thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư của nước
ngoài để tranh thủ vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại và tri thức quản lý kinh nghiệm
tiên tiến nhằm thúc đẩy nhanh chóng tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền
kinh ế nước ta.
Giải phóng lực lượng sản xuất thực chất là giải tỏa, tháo gỡ những lực lượng
cản kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Giải phóng và phát triển lực lượng
sản xuất là hai quá trình diễn ra đồng thời và có tác động qua lại hỗ trợ lẫn nhau.
Quá trình phát triển lực lượng sản xuất đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên đổi
mới quan hệ sản xuất, khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực có thể có, cả
nguồn lực bên trong và bên ngoài. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất của nhiều