Phân loại rác tại nguồn –
Sự khởi đầu của công nghệ tái
chế chất thải
Dương Thị Tơ và các cộng sự
Trung tâm Tư vấn, Đào tạo & chuyển giao Công nghệ môi trường
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng cùng với
đời sống vật chất của người dân không ngừng được nâng cao đang làm cho lượng rác thải
ngày càng tăng lên. Nếu không được xử lý tốt, rác thải sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng. Tại
các nước phát triển, bên cạnh việc vận động và áp dụng các biện pháp, chế tài để giảm
thiểu xả thải rác, các chính phủ đã chú trọng đầu tư cho ngành công nghiệp tái chế chất
thải. Nhờ đó, môi trường được cải thiện đồng thời tăng nguyên liệu, sản phẩm cho nền
kinh tế. Song công nghiệp tái chế chất thải chỉ phát triển được khi có nguồn rác được
phân loại tốt, vì vậy phân loại rác tại nguồn đã được xác định là giải pháp cần thiết trong
chu trình thu gom và xử lý chất thải nói chung và rác thải sinh hoạt đô thị nói riêng.
1. Quản lý chất thải thông qua phân loại tại nguồn - Kinh nghiệm của một số nước
phát triển.
Ở châu Âu, nhiều quốc gia đã thực hiện quản lý chất thải thông qua phân loại tại nguồn
và xử lý tốt, đạt hiệu quả cao về kinh tế và môi trường. Tại các quốc gia như Đan Mạch,
Anh, Hà Lan, Đức việc quản lý chất thải rắn được thực hiện rất chặt chẽ, công tác phân
loại và thu gom rác đã thành nền nếp và người dân chấp hành rất nghiêm quy định này.
Các loại rác thải có thể tái chế được như giấy loại, chai lọ thủy tinh, vỏ đồ hộp được thu
gom vào các thùng chứa riêng. Đặc biệt, rác thải nhà bếp có thành phần hữu cơ dễ phân
hủy được yêu cầu phân loại riêng đựng vào các túi có màu sắc theo đúng quy định thu
gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost. Đối với các loại rác bao bì
có thể tái chế, người dân mang đến thùng rác đặt cố định trong khu dân cư, hoặc có thể
gọi điện để bộ phận chuyên trách mang đi nhưng phải thanh toán phí thông qua việc mua
tem dán vào các túi rác này theo trọng lượng.
Đối với chất thải công nghiệp, các công ty đều phải tuân thủ quy định phân loại riêng
từng loại chất thải trong sản xuất và chất thải sinh hoạt của nhà máy để thu gom và xử lý
riêng biệt. Với các sản phẩm sau khi sử dụng sinh ra nhiều rác, chính quyền yêu cầu các
công ty ngay từ giai đoạn thiết kế xây dựng phải dự kiến nơi chứa các sản phẩm thải loại
Như vậy, có thể thấy tại các nước phát triển, quá
trình phân loại rác tại nguồn đã diễn ra cách đây
trên 30 năm và đến nay về cơ bản là thành công
tuy ở các mức độ khác nhau. Ở mức độ thấp, việc
tách rác thành hai dòng hữu cơ dễ phân hủy được
thu gom xử lý hàng ngày và các loại khó phân
hủy, có thể tái chế hoặc đốt, chôn lấp an toàn
được thu gom hàng tuần. Quá trình tái chế rác thực sự diễn ra tại các nhà máy tái chế,
công việc tiếp theo ở đây là dùng thiết bị chuyên dụng, kết hợp lao động thủ công để tiếp
tục phân loại rác thành nhiều dòng riêng biệt, ví dụ đối với vỏ chai thủy tinh đã phải chia
ra 6 loại khác nhau: loại có thể làm sạch và sử dụng lại, loại này lại phải chia ra theo mỗi
màu sắc và kích thước, thường là 3 - 4 loại; loại bị sứt mẻ hay không thể sử dụng lại phải
nghiền nhỏ để làm nguyên liệu nấu thủy tinh.
Ở mức độ thành công cao hơn, rác được tách thành 3 hay nhiều hơn nữa các dòng rác
ngay từ hộ gia đình hoặc ở điểm tập kết trong khu dân cư, nhờ đó công tác tái chế rác thải
sẽ đạt hiệu quả cao hơn, tốn ít chi phí hơn, thậm
chí người dân không phải nộp phí xử lý rác cho
chính quyền, mà còn được nhận lại tiền bán phế
liệu cho nhà máy tái chế, tuy số tiền này không
lớn. Người dân thành phố Minamata rất hài lòng
và tự hào vì đã đi đầu về bảo vệ môi trường trong
việc quản lý chất thải rắn. Hiện ở châu Âu đang
vận động phân loại rác thành 9 loại.
Có thể nhận thấy sự thành công của việc sử dụng
lại và tái chế chất thải là kết quả của ba yếu tố có liên quan hữu cơ, một là quá trình kiên
trì vận động, tuyên truyền và cưỡng chế người dân thực hiện phân loại rác tại nguồn; hai
là sự đầu tư thỏa đáng của Nhà nước và xã hội vào các cơ sở tái chế rác thải để đủ năng
lực tiếp nhận và tiếp tục phân loại, tái chế lượng rác đã được phân loại sơ bộ tại nguồn;
ba là trình độ phát triển của xã hội cả về mặt kinh tế, nhận thức, sự đầu tư cơ sở vật chất
đạt ngưỡng cần thiết để thực hiện xử lý tái chế phần lớn lượng rác thải ra hàng ngày và
Phan Chu Trinh từ năm 2002. Các hộ gia đình trong phường được hướng dẫn cách phân
loại rác thành hai túi, một loại có thể làm phân compost và loại còn lại, được phát túi
nilông hai màu để phân loại rác tại nhà. Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình chưa cao,
khi dự án kết thúc thì quá trình phân loại cũng chấm dứt. Từ tháng 3/2007, với sự hỗ trợ
từ phía Chính phủ Nhật Bản thông qua tổ chức JICA, thành phố Hà Nội đã tiến hành triển
khai dự án phân loại rác tại nguồn áp dụng đối với 4 quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba
Đình và Đống Đa. Các hộ gia đình trên địa bàn 4 quận sẽ được tuyên truyền nâng cao
nhận thức về tác dụng của tái chế rác thải và sự cần thiết phân loại rác tại nhà. Tại thành
phố Hồ Chí Minh, Dự án “Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn với công nghệ
phân loại rác tại nguồn ở quận 5 - VNM 5-20” trong Chương trình ASIA URBS với sự tài
trợ của Ủy ban châu Âu đã được triển khai từ năm 2004 và kết thúc vào tháng 9/2006.
Mục tiêu của dự án là quản lý rác thải bằng cách tiếp cận và giải quyết trên cả ba mặt
kinh tế - kỹ thuật, môi trường và xã hội góp phần quan trọng vào việc giải quyết tình
trạng ô nhiễm môi trường bức thiết trên địa bàn quận 5 - một trong những quận trung tâm
có mật độ dân cư rất cao. Gần đây nhất, tại Long An, thị xã Long An đang triển khai
chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn dưới sự hỗ trợ của Liên minh châu Âu. Dự
án sẽ cung cấp túi nilông cùng thùng đựng rác 2 màu để hỗ trợ người dân tiến hành phân
loại rác dễ phân hủy và rác có thể tái chế ngay tại các hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp,
trường học, cơ sở dịch vụ
Đây là các dấu hiệu đáng mừng,
một mặt chúng ta hy vọng các
dự án này thành công, nhưng
mặt khác phải nhìn nhận các dự
án này do các tổ chức quốc tế tài
trợ chỉ đóng vai trò phát động,
kích hoạt phong trào tái chế, tái
sử dụng rác và thúc đẩy phân
loại rác tại nguồn để tái chế rác
đạt kết quả tốt. Phong trào chỉ
thực sự thành công khi chính các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, các nhà