Mở đầu
Hơn ba mơi năm trôi qua kể từ Hội nghị Liên Hiệp Quốc về môi tr-
ờng tại Stockhom(Thuỵ Điển)-1972 và hơn mời năm sau Hội nghị Thợng đỉnh
trái đất về Môi trờng và phát triển tại Rio de Janeiro( Brazil)-1992, Hội nghị
Thợng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg đợc tổ chức để
tìm sự đồng thuận của các quốc gia trên quy mô toàn cầu về sự khẩn thiết các
biện pháp hữu hiệu trong công tác bảo vệ môi trờng và sự phát triển bền vững,
Chính phủ Việt Nam đang có những nỗ lực tiến kịp sự phát triển trên thế giới
trong định hớng phát triển mang tính bền vững là xu thế mang tính phổ biến
trên phạm vi toàn cầu. Chủ trơng của chúng ta là: " Phát triển kinh tế xã hội
gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trờng, bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa
môi trờng nhân tạo với môi trờng thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học".
Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra với tốc dộ
nhanh chóng, đặc biệt là ở ba vùng kinh tế trọng điểm. Hải Phòng là thành
phố cảng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trong những năm gần
đây, thành phố Hải Phòng đang từng ngày phát triển, nỗ lực phát huy các tiềm
lực của mình, bớc phát triển trở thành đô thị loại một đã chứng tỏ điều đó nh-
ng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức của một thành phố lớn. Trong bối
cảnh chung của một nớc Việt Nam đang phát triển , Hải Phòng còn rất nhiều
nhiệm vụ kinh tế xã hội cần giải quyết. Quản lí tốt rác thải rắn đô thị cũng là
một trong các nhiệm vụ kinh tế xã hội của thành phố, đây cũng là chơng trình
hành động trọng điểm trong chiến lợc bảo vệ môi trờng quốc gia đến năm
2010.
Hiện nay quản lí chất thải rắn đô thị ở Hải Phòng còn cha đạt mức
hiệu qủa nh mong muốn, chỉ đạt 70-75% lợng chất thải phát sinh hàng ngày,
đáng chú ý là lợng chất thải này cha đợc tái chế , tái sử dụng cũng nh chế biến
hiệu quả. Đặt trong xu thế hiện nay, kinh tế chất thải đang trở thành ngành
1
kinh tế đáng chú trọng trong việc góp phần vào sự phát triển bền vững, thì
công tác quản lí chất thải rắn đô thị ở Hải Phòng phải đợc chú trọng là điều tất
yếu. Khai thác tốt hình thức kinh tế này không chỉ có ý nghĩa về mặt môi tr-
thuộc tính của chúng về lí, hoá, sinh của chúng trong đó thuộc tính hoá học là
quan trọng nhất. Chất thải mang tính tích luỹ dần, nên từ một lợng nhỏ vô haị
qua thời gian chúng tích luỹ thành lợng lớn gây tác hại nguy hiểm. Các hoá
chất có thể chuyển từ dạng này sang dạng khác hoặc kết hợp với nhau thành
các chất nguy hiểm hơn hoặc ít nguy hiểm hơn. Một số chát thải rắn, lỏng, khí
còn có đặc thù sinh học nên thông qua các quá trình biến đổi sinh học trong
cơ thể sống hoặc qua các chất thải khác mà biến đổi thành các sản phẩm tạo ra
các ổ dịch bệnh nhất là các vùng có khí hậu ẩm nhiệt đới thích hợp.
1.2. Nguồn gốc chất thải.
1.2.1.Do sản xuất và tiêu thụ năng lợng.
Đây là ngành chiếm vị trí hàng đầu trong việc gây ô nhiễm môi trờng .
các sản phẩm chính của đốt nhiên liệu là khí cacbonic. Tuy xảy ra khủng
hoảng vào những năm 70 nhng tiêu thụ năng lợng trên phạm vi toàn cầu vẫn
không ngừng tăng lên. Sự giảm tiêu thụ dầu mỏ đợc bù lại bằng sự tăng cờng
sử dụng than đá, khí thiên nhiên và năng lợng hạt nhân. Vì các nguồn năng l-
ợng mới và năng lợng hạt nhân chỉ mới chiếm một phần rất bé trong tổng số
3
này nên nguồn năng lợng chủ yếu vẫn lấy từ đốt nhiên liệu hoá thạch. Nh đã
biết, một trong các sản phẩm chính của sự đốt nhiên liệu là khí cacbonic.Theo
các chuyên gia , lợng khí cacbonic đợc giải phóng ra khi đốt khối lợng nhiên
liệu này tơng ứng với việc đốt 660 tỉ tấn cacbon.
Con số khổng lồ này cho thấy vai trò chính của ngành sản xuất năng l-
ợng trong việc làm ô nhiễm sinh quyển.
1.2.2.Sản xuất công nghiệp.
Công nghiệp hoá học, công nghiệp luyện kim và cả công nghiệp điện
tử hiện đại đã đa vào sinh quyển vô số hợp chất hũ cơ và vô cơ, thờng là những
chất có độc tính cao, khó phân huỷ, đôi khi không thể bị phân huỷ nh thuỷ
ngân, camidi, antimoan,
Ngành công nghiệp tổng hợp hữu cơ đã và đang sản xuất ra một số lợng
lớn các hợp chất mới, hoàn toàn là sự sáng tạo của con ngời . Hậu quả là một
- Các hoá chất có thể chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác hoặc
kết hợp với nhau thành chất nguy hiểm hơn hoặc ít nguy hiểm hơn.
2. Chất thải rắn đô thị.
2.1. Khái niệm.
Chất thải rắn đô thị(MSW- Municipal Solid Waste) là một loại chất
thải rắn tổng hợp ở khu vực đô thị, bao gồm cả chất thải sinh hoạt của các hộ
gia đình thải ra, chất thải rắn của hoạt động thơng mại và dịch vụ, chất thải rắn
của hoạt động công nghiệp, chất thải rắn từ hoạt động xây dựng, chất thải
bệnh viện... Chúng có một đặc thù riêng và đang trở thành mối quan tâm đặc
biệt của mỗi quốc gia trong việc thu gom, vận chuyển, tái chế tái sử dụng và
chôn lấp.
Cùng với quá trình đô thị hoá, MSW gia tăng không ngừng. ở Việt
Nam chỉ tính riêng lợng chất thải sinh hoạt ở đô thị, theo số liệu thống kê từ
năm 1996 đến năm 1999, lợng chất thải sinh hoạt bình quân khoảng 0,6 đến
5
0.8 kg/ngời/ngày. Một số đô thị nhỏ, lợng chất thải sinh hoạt phát sinh dao
động khoảng 0,3 đến 0,5kg/ngời/ngày.
Việc thu gom và quản lí chất thải rắn đô thị còn rất hạn chế, theo số
liệu năm 1999 thu gom MSW ở các đô thị trong cả nớc mới chỉ đạt khoảng
40-70%(Hà Nội 65%, Hải Phòng 64%, Hạ Long 50%, Vinh 60%, Việt Trì
30%, Huế 60%, Đà Nẵng 66%, Biên Hoà 30%, Vũng Tàu 70%, Thành phố Hồ
Chí Minh 70-75%. Nhiều thị xã, tỉ lệ thu gom chất thải rắn trung bình chỉ đạt
từ 20-40%, thậm chí có nhiều thị trấn và thị xã còn cha có tổ chức thu gom
chất thải rắn , cha có bãi tổ chức thu gom chất thải rắn và cha có bãi đổ rác
chung của cả đô thị. ở các thành phố lớn, chất thải từ các đờng phố chủ yếu đ-
ợc công ty môi trờng đô thị, dịch vụ công cộng hoặc công ty vệ sinh thu gom
tới các bãi rác hoặc các xí nghiệp chế biến rác .
Trong công tác xử lí chất thải rắn đô thị ngời ta quan tâm tới các đặc
tính của rác thải rắn đô thị, đặc biệt là nhấn mạnh tới thuộc tính có thể
chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác của nó.
-Chế biến phân hữu cơ.
-Hoá rắn.
2.3.1.Chôn lấp.
Chôn lấp rác trong các bãi thải đã đợc chuẩn bị trớc(có thể đợc lót thành
xung quanh và đày bằng các vật liệu chống thấm nh đất sét, chất dẻo) là ph-
ơng pháp truyền thống xa nay. Rác đợc đổ thành từng lớp có chiều dày
khoảng 0,5 đến 1 mét, sau đố đầm nén chặt và phủ lên trên lớp đất hay cát. Độ
cao đổ rác trong bãi chôn lấp tuỳ thuộc vào thiết kế, thông thờng ở nớc ta
chiều cao đổ rác từ 5 đến 10 m.
Chọn phơng pháp chôn lấp rác thải trớc hết phải dựa vào đặc tính của
chất thải . Thành phần, cấu tạo chất thải phát sinh ở các nớc đang phát triển
cho thấy cần phải có cáh tiếp cận thích hợp.
7
Dành sẵn các khu đất là điều kiện tiên quyết đối với tất cả các hình
thức chôn lấp chất thải rắn. Do vẫn còn chất cặn thừa trong mọi loại hình xử lí,
cho nên đối với đất đai cần giảm đảng kể các chất cặn thừa bằng các phơng
pháp xử lí dùng năng lợng và các phơng pháp xử lí có chi phí lớn.
Hầu hết các phơng pháp xử lí và chôn lấp chất thải ở các nớc đang
phát triển là chôn lấp hợp vệ sinh, làm phân ủ, thiêu đôt(nhiệt phân) và huỷ kị
khí.
2.3.2.Thiêu đốt.
Đốt rác trong các loại lò đốt thờng sử dụng nhiên liệu là dầuvà kết hợp
với việc thu nhiệt khi đốt rác để sản xuất ra nhiệt năng hay điện năng...Tro và
các thành phần không cháy đựơc sau khi đốt đem đi chôn lấp.
Tuy nhiên thiêu đốt không phải là một giải pháp quan trọng về kinh tế
và phù hợp về kỹ thuật đối với các thành phố ở các nớc đang phát triển, xét về
khía cạnh giá trih calo thấp và nồng độ hơi nớc cao trong chất thải, Trong
nhiều trờng hợp , công đoạn cuối cùng của quá trình thiêu đốt cần phải có
thêm nhiên liệu bổ xung. Hơn nữa, thiêu đốt là quá trình cần phải có vốn cũng
nh chi phí vận hành dễ vợt quá khả năng của hầu hết các thành phố ở các nớ
tế một cách tiêu cực. Trong nhiều trờng hợp chất thải của các xí nghiệp công
nghiệp có thành phần hoá học và thành phần khoáng gần nh các nguyên liệu
tự nhiên, trong một số trờng hợp thậm chí còn tốt hơn nữa, do đó nhiều nhà
khoa học khảng định có thể dùng chất thải công nghiệp này để thay thế một
phần cho cá nguyên liệu nói trên, và trong thực tế điều này đã đợc thực hiện ở
một số xí nghiệp vật liệu xây dựng với kết quả tốt đẹp.
3.Chất thải sinh hoạt.
3.1.Khái niệm.
Thuật ngữ chất thải sinh hoạt dùng để chỉ tất cả các loại chất thải
còn lại xuất phát từ moị khía cạnh của hoạt động của con ngời trong cuộc
sống hàng ngày, từ phân, nớc tiểu của các hoạt động sinh lí tự nhiên đến thức
ăn thừa, rác quét nhà... cho đến xác ô tô hỏng, đồ gỗ bị thay thế...
9
3.2.ảnh hởng của chất thải sinh hoạt.
Do trong chất thải sinh hoạt có chứa những chất hữu cơ có thể lên men,
là môi trờng phát triển của các vi sinh vật gây bệnh nên đây đợc coi là loại
chất thải nguy hiểm nhất. Các chất thải còn lại chỉ ảnh hởng đến môi trờng ở
khía cạnh mỹ quan và lấn chiếm đất canh tác. Trong nhiều trờng hợp chất thải
sinh hoạt còn gọi là rác thải.
Sự ô nhiễm môi trờng bởi các chất thải sinh hoạt liên quan chủ yếu đến
các thành phố và khu công nghiệp đông dân c, ở đó dân số đông, mật độ dân
số cao, do đó lợng chất thải lớn và tập trung.Vấn đề ô nhiễm môi trờng bởi các
chất thải sinh hoạt đã có từ thời tiền sử. Nó là nguyên nhân chính của các vụ
dịch bệnh từ trớc đến nay trên thế giới.
II. Kinh tế chất thải.
1.Khái niệm.
Kinh tế chất thải bao gồm tất cả các khía cạnh của hoạt động kinh tế
liên quan đến phát sinh, thu gom, phân loại, tái chế, tái sử dụng,vận chuyển,
chôn lấp hoặc thiêu đốt chất thải.
2.Mô hình thị trờng cho dịch vụ quản lí chất thải.
2.2.Đờng cầu các dịch vụ MSW.
Đờng cầu của thị trờng các dịch vụ MSW đại diện các quyết định trả
giá của các cơ sỏ tạo rác thải MSW. Trong bối cảnh này, lợng cầu phản ánh
các thay đổi về giá cả sẽ có một ý nghĩa rất quan trọng cho thấy rác thải đọc
quản lí nh thế nào. Để hiểu đợc điều này, chúng ta xem xét lại việc giảm lợng
cầu từ Qc đến Qc', do vậy việc tăng giá gây ra bởi quy định của chính quyền
thành phố nh đã nêu ở trên. Vậy làm thế nào để các cơ sở tạo rác thải có khả
11
Lợng của dịch vụ MSW)Qc)
Qc' Qc
năng thay đổi hành vi của họ để đạt đợc việc giảm lợng rác thải về mức này?
Một khả năng có thể tạo ra là họ vẫn tạo ra một lợng rác thải nh vậy nhng cần
ít dịch vụ hơn bởi vì họ sẽ tái chế rác thải.Cuối cùng, họ cũng có thể duy trì đ-
ợc mức sản sinh rác nh cũ nh cùng một mức độ tái chế, nhng lại có thể tiến
hành tiêu huỷ rác thải không đúng theo quy định của pháp luật nhằm trành
phải chi trả giá cao cho dịch vụ MSW, hiện tợng này đã tững sảy ra ở một số
doanh nghiệp ở Việt Nam là việc đốt rác trong bức tờng rào của doanh nghiệp
sản xuất. Vậy giải pháp nào đợc chọn phụ thuộc vào tính sãn có của nó đối với
cơ sở sản sinh ra rác thải và các mức giá của giải pháp đó tơng đơng hay
ngang bằng với mức giá các dịch vụ MSW. Nhận ra đợc phản ứng thị trờng tự
nhiên của các cơ sở có nhu cầu đối với các dịch vụ MSW giá cao hơn, chính
quyền địa phơng có thể khuyến khích tái chế bàng cáh đa ra một chơng trình
chi phí hiệu quả cho dân c ở khu vức đó. Nếu thiếu một chơng trình nh vậy,
một số cơ sở sản xuất sinh ra rác thải có thể có đọng cơ tiêu huỷ rác thải của
họ một cách bất hợp pháp.
Đờng cầu D hay MPB của các dịch vụ rác thải đô thị cũng có phản
ứng đối với sự thay đổi giá cả nhất định. Ví dụ, những cá nhân giàu có ở dô thị
có xu hớng sản sinh ra một lợng rác thải lớn hơn, vì họ mua nhều hàng hóa
hơn và thay đổi thờng xuyên hơn. Nh vậy, cầu về dịch vụ MSW có thể sẽ dịch
chuyển sang bên phải khi thu nhập của cộng đồng tăng lên, với điều kiện các
2.T cách pháp nhân và khả năng tài chính.
2.1.T cách pháp nhân.
Công ty môi trờng đô thị Hải Phòng đợc thành lập theo quyết định
số:393/QĐ-UB ngày 28/5/1994 của UBND thành phố Hải Phòng và quyết
định số 1175/QĐ ngày 29/6/2000 của UBND thành phố Hải Phòng về việc
chuyển đổi Công ty Môi trờng đô thị Hải Phòng thành doanh nghiệp Nhà nớc
hoạt động công ích.
14
2.2.Khả năng tài chính.
Với vai trò là doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động phục vụ lợi ích công nên
toàn bộ ngân sách hoạt động của công ty do nhà nớc cấp để chi phí cho việc
chi trả lơng cho 1090 công nhân thực hiện việc quản lí rác thải trên địa bàn 3
quận Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền và các loại rác thải trên sông trên biển
thuộc địa bàn Hải Phòng, các hoạt động thu gom, vận chuỷên, vận hành bãi
rác Tràng Cát cũng nh đầu t và duy tu, bảo dỡng trang thiết bị và các chi phí
phát sinh khác của công ty.
3. Các họat động chủ yếu của công ty
3.1. Quản lí rác thải
*Thu gom, vận chuyển, xử lí rác thải trên địa bàn các quận nội thành và
trên sông trên biển
Trong một vài năm gần đây, phạm vi hoạt động của công ty liên tục đợc
mở rộng, phơng thức thu gom vận chuyển rác cũng đợc cải tiến không ngừng
để đáp ứng những yêu cầu cao hơn của xã hội.Từ năm 2001 đến nay, công ty
chơng trình phân loại rác thải tại nguồn nh một hình thức xã hội hóa công tác
vệ sinh môi trờng làm cho việc thu gom rác trên địa bàn triệt để hơn.
Song song với công tác duy trì VSMT theo quy trình của Sở giao thông
công chính, công ty Môi trờng đô thị Hải Phòng thực hiện chơng trìnhPhân
loại rác tại nguồn . Về chất lợng, công tác phân loại rác đợc đánh giá có
hiệu quả, tỉ lệ phân loại đạt đợc phổ biến chung cho 3 quận là 85-90%.
3.2.Quản lí bãi chôn lấp Tràng Cát.
2001 đến nay dã góp phần đáng kể vào việc quay vòng ô chôn lấp tại bãi . L-
ợng rác hữu cơ nh vậy cha lớn nhng ý nghĩa về mặt xã hội lại không nhỏ vì nó
khẳng định việc phân loại rác thải tại nguồn trên địa bàn thành phố Hải Phòng
16
là có khả năng thực hiện đợc. Phân loại rác tại gia đình không chỉ là việc phân
chia rác thành 2 loại làm cho việc xử lí rác đợc dễ dàng mà còn giảm hẳn l-
ợng rác vứt không đúng nơi quy định tại các điểm công cộng nhất là đối với
các khu dân c tập trung thành xóm, khu tập thể . Phân loại rác cũng tạo điều
kiện cho việc thu phí vệ sinh thuận lợi hơn .
3.3.2.Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trờng
Công ty cùng hội phụ nữ mở đợt tuyên truyền sâu rộng về tầm quan
trọng của việc bảo vệ mô trờng sinh thái cũng nh tác hại của việc rác thải đổ
xuống ao hồ, nơi công cộng .Đồng thời mở lớp tập huấn với cán bộ cơ sở về
việc xử lí rác thải tại cơ sở.Tứng bớc triển khai công tác xã hội hóa VSMT tới
từng gia đình: Túi nilon thì đốt, rác hữu cơ một phần làm thức ăn cho gia súc,
phần còn lại ủ làm phân bón, phần rác cứng(kim loại, nhựa, thủy tinh) gom
lại làm phế liệu cho các đơn vị tái chế, đặc biệt các phờng thành lập các đội, tổ
vệ sinh làm công tác quét, thu gom rác ở đờng phố.
Từ công tác xã hội hóa vệ sinh môi trờng đã nâng cao đợc nhận thức
của ngời dân về vấn đề môi trờng với sức khỏe đời sống
II. Hiện trạng quản lí chất thải đô thị thành phố Hải Phòng.
1.Bối cảnh.
Hải Phòng, thành phố lớn thứ ba của Việt Nam, rộng 1.507,6 km2, có
dân số là 1.646.000 ngời(1995) nằm ở vùng Đông Bắc Đồng bằng Bắc Bộ ,
bên bờ Thái Bình Dơng, cách Hà Nội 103 km theo hớng đòng bộ cách thành
phố Hồ Chí Minh 1.200 km theo đờng hàng không, Hải Phòng nằm ở khu vực
nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm23-24 độ , lợng ma trung bình
hàng năm từ 1800-6000 mm.
Hải Phòng là thành phố cảng, trung tâm kinh tế công nghiệp thơng
mại , dịch vụ và du lịch của vùng duyên hải Bắc Bộ, là đầu mối giao thông
18
678
712
787
793
866
0
100
200
300
400
500
600
700
800
900
năm 1999
năm 2000
năm 2001
năm 2002
năm 2003
Đơn vị: m
3
.
( Nguồn : Công ty môi trờng Đô thị Hải Phòng )
2.Tổ chức quản lí.
Công ty Môi trờng Đô thị Hải Phòng trực thuộc Sở GTCC Hải
Phòng, là doanh nghiệp công ích có nhiệm vụ thu gom, vận chuyển và xử lí
toàn bộ chất thải trong nội thành. Nhng thực tế hiện nay, khác với thành phố
những toà nhà 2-5 tầng. Những toà nhà này chủ yếu dùng để ở, và trong nhiều
trờng hợp hầu hết tầng dới đợc dùng làm các cửa hiệu hay xí nghiệp nhỏ.Tất
cả các đờng phố trong nội thành đều tráng nhựa.
Nội thành Hải Phòng có 19 chợ lớn trong đó có 5 chợ lớn là chợ Ga,
chợ Sắt, chợ Tam Bạc, chợ Vạn Mỹ và chợ Hoà Bình và là nguồn gốc chính
của các loại rác xanh.
Việc thu gom rác đợc thực hiện hàng ngày bởi công nhân thu gom
của 3 đội môi trờng(mỗi quận 1 đội), phục vụ trên 110.000 hộ. Việc thu gom
này đợc thực hiện bằng xe đẩy tay. Tổng cộng là 400 xe và 656 công nhân thu
gom. Nh vậy là có khoảng 1,6 công nhân trên một xe. Giờ hoạt động chính
thức trong khoảng 18h đến 6 giờ, ngoài ra ban ngày vẫn có các ca thu gom
thêm.
Hiện nay nội thành có 62 điểm hẹn thu rác. Một số điểm hẹn nằm
gần nhau trong khi đó lại có những điểm nằm cách xa nhau đáng kể, mỗi điểm
hẹn chỉ đợc dùng ít giờ trong ngày để tránh đổ rác bừa bãi tại điểm hẹn này và
cũng giới hạn sự phiền phức với nhân dân ở trong vùng.
20
Những ngời thu gom rác ( không quét đờng) tự sở hữu xe tay của họ
để gom rác từ các hô dân trong ngõ và đờng chính, sau đó đẩy tới các điểm
hẹn để đa lên xe vận chuyển đi. Nói chung vẫn là hình thức đổ xuống các
điểm hẹn công nhân dùng xẻng xúc lên xe vận chuyển. Thu nhập tổng cộng
của công nhân gom rác bình quân khoảng 400.000 đồng/ tháng.
3.1.2.Rác công nghiệp.
Phần lớn rác thải công nghiệp của Hải Phòng do chính các nhà máy
thu gom, xử lí vận chuyển ra bãi chôn lấp chung của thành phố. Một phần rác
thải công nghiệp độc hại đã đợc hợp đồng với công ty môi trờng đô thị để thu
gom và xử lí. Hiện nay Hải Phòng có các khu công nghiệp lớn nh khu công
nghiệp Tây Bắc với các nhà máy sản xuất thép, khu công nghiệp Numora, khu
công nghiệp Bắc Thuỷ Nguyên với các nhà máy ximăng ChinFong, nhà máy
xi măng Hải Phòng, nhà máy sửa chữa tàu biển, phá dỡ tàu cũ Phà Rừng. Khu
Một số bệnh viện không có nhà thu gom xử lí rác , ba loại rác trên của
bệnh viện đợc thu gom lẫn lộn và chứa để lộ thiên. Điều này không tránh khỏi
gây ô nhiễm trong khuôn viên bệnh viện và dân c xung quanh. Việc tuân thủ
các quy định của Sở Y tế, của Uỷ ban môi trờng, của công ty Môi trờng Đô thị
cha nghiêm. Một số bệnh viện không chứa rác trong bao nilon, hoặc nilon quá
mỏng, kim tiêm dùng rồi mà không đợc bẻ cong bẻ gẫy cho vào hộp riêng mà
còn để lẫn lộn trong rác làm rách thủng bao và đễ truyền bệnh cho công nhân
vệ sinh khi đi thu gom rác.
Về phơng tiện vận chuyển Công ty Môi trờng Đô thị cha có xe
chuyên dùng để thu gom vận chuyển rác bệnh viện.
Việc quản lí và xử rác y tế là một việc làm mới mẻ đối với Việt Nam,
cha có một công nghệ đặc trng nào để xử lí rác y tế và bệnh phẩm .
Năm 1997, một dự án lò đốt rác của thành phố do công ty môi trờng
đô thị thiết lập với công suất 4,2 tấn/ngày theo công nghệ lò đốt GG24
HOVAN do hãng BESSE SAMBRE vơng quốc Bỉ với tổng kinh phí 3 triêụ
22
USD. Trong đó vốn vay u đãi từ chính phủ vơng quốc Bỉ cho trang thiết bị lò
đốt và xe ô tô chuyên dùng thu gom là 1,468 triệu USD. Nhng cho đến nay
vẫn cha thực hiện đợc.
3.1.4.Phân bùn.
Hải Phòng có khoảng 50 % hộ gia đình dùng hố xí tự hoại còn 50%
số hộ gia đình dùng hố xí thùng(bao gồm cả vùng ven đô). Lợng phát sinh
hàng ngày khoảng 45 tấn, Công ty Môi trờng đô thị Hải Phòng mới thu
khoảng 15 tấn/ngày. Số còn lại do dân thuê trực tiếp t nhân dọn làm phân bón.
Hiện công ty môi trờng còn có một đội bao gồm 77 công nhân thu
dọn phân bùn trong các ngõ nghẽn vào ban đêm với 6 xe téc để vận chuyển
phân rác.
3.2.Công tác vận chuyển.
Công ty Môi trờng đô thị hiện có khoảng 42 xe chở rác và bùn có
dung tích 4- 16 m3(1 xe téc rác 16m3) và 4 xe rác rửa đờng.
thiết kế sơ bộ cho cả 60 ha làm bãi rác, hồ sơ do các chuyên gia Phần
Lan(thuộc chơng trình cấp nớc và vệ sinh Hải Phòng) phối hợp với các kỹ s
công ty môi trờng đô thị lập.
4.Khả năng tài chính.
Chi phí cho công tác thu gom, vận chuyển và quản lí bãi rác hoàn
toàn phụ thuộc vào vốn ngân sách cấp hàng năm, tuy nhiên thành phố cũng
giao cho công ty môi trờng đô thị cơ chế thu phí vệ sinh. Nh năm 1997 về lí
thuyết là thu 5 tỉ đồng nhng thực tế chỉ thu đợc 2,9 tỉ đồng. Trong khi đó tổng
chi phí kế hoạch cho Công ty môi trờng đô thị để thu gom và vận chuyển chất
thải thành phố là 10,7 tỉ đồng, nh vậy năm 1997 cần phải đợc bao cấp là 8 tỉ
đồng.Ngân sách do Sở Tài Chính Thành phố cấp hoàn toàn, nghĩa là doanh thu
thu đợc sẽ phải nộp trực tiếp sở tài chính. Trình tự lập kế hoạch và theo dõi tài
chính tuân theo những hớng dẫn chung về các Công ty công ích ở Hải Phòng.
Biểu đồ 2.2: Khả năng trang trải về tài chính của công ty Môi trờng
Đô thị Hải Phòng
24
2.9
5
10.7
0
2
4
6
8
10
12
Thực thu
PhảI thu theo kế
hoạch
Tổng chi phí thực