TIỂU LUẬN:
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử
dụng vốn lưu động và các biện pháp
để sử dụng có hiệu quả vốn lưu động
của doanh nghiệp
Lời mở đầu
ở nước ta trong một thời gian dài nền kinh tế chỉ tồn tại hai thành phần là kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể, các thành phần kinh tế khác là đối tượng cải tạo xã
hội chủ nghĩa.
Cũng từ đó trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt trong công nghiệp xây dựng, vận tải,
thương nghiệp, dịch vụ, kinh tế quốc dân đã chiếm ưu thế tuyệt đối. Nhưng hai
thành phần kinh tế này ngày càng tỏ ra kém hiệu quả và sự yếu kém của nó là một
trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế trì trệ, Nhận ra sự không hợp quy luật
của nền kinh tế chỉ duy trì chế độ sở hữu nhà nước và tập thể về tư liệu sản xuất
trong các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực lưu thông. Đại hội đảng lần 6 (1986) đã có
quyết sách chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
nghĩa là khẳng định nền kinh tế nước ta cần hình thành cơ cấu đa sở hữu.
Với nhiều thành phần kinh tế như vậy, mỗi thành phần có một vị trí vai trò
kế quan niệm về yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là đất đai,lao động và vốn.
Theo ông, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản
xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xúât của một DN, đó là máy móc, trang thiết
bị, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ Trong quan niệm về vốn của mình
Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá có thể
chuyển đổi đem lại lợi nhuận cho DN, ông đã đồng nhất vốn với tài sản cố định của
DN.
Trong cuốn kinh tế học của David Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa: Vốn
hiện vật và vốn tài chính của DN. Bản thân vốn là một hàng hoá nhưng được tiếp
tục vào quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá khác, vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của DN. Như
vậy, DavidBegg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Samuelson.
Nhìn chung, vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và
tài sản tài chính được các cá nhân, các tổ chức, các DN bỏ ra để tiến hành sản xuất
kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận.Vốn là một đầu vào của quá trình
sản xuất kinh doanh, các tác giả đã thống nhất vốn với tài sản của DN. Vốn và tài
sản là hai mặt hiện vật và giá trị của một bộ phận nguồn gốc sản xuất mà DN huy
động vào quá trình sản xuất và kinh doanh của mình,
2. Căn cứ vào vai trò và đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn khi tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh, có thể chia vốn sản xuất kinh doanh của DN
thành hai bộ phận: Vốn cố định và vốn lưu động. (Theo như đề tài đã chọn
trong bài tiểu luận này tôi chỉ đề cập đến vốn lưu động)
_ Vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất ứng ra để mua sắm tài sản
lưu động và tài sản lưu thông để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN.
Nó khác với tư liệu lao động (các tài sản cố định), đối tượng lao động (nguyên vật
liệu, nhiên liệu ) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất đến chu kỳ sản xuất sau lại
phải sử dụng các đối tượng lao động khác. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn
Để đánh giá trình độ quản lí, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN, người ta sử dụng thước đo hiệu quả sử dụng sản xuất kinh doanh của DN đó.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai giác độ là hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội. Trong phạm vi quản lí DN, người ta chủ yếu quan tâm đến hiệu quả
kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực các
DN để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với chi phí thấp nhất.
Về mặt lượng, hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan kết quả thu được và
chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao
so vơí chi phí bỏ ra thì hiệu quả kinh tế càng cao.
Về mặt chất, việc đạt được hiệu quả kinh tế cao phản ánh năng lực và trình độ
quản lí, đồng thời cũng đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được những mục tiêu kinh tế
và mục tiêu xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, khi tiến hành sản xuất kinh doanh mỗi DN đều
có mục tiêu khác nhau. Vị trí của từng mục tiêu tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát
triển và điều kiện của từng DN. Các DN thường theo duổi nhiều mục tiêu nhưng
cuối cùng các DN đều hướng tới việc làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu nghĩa
là không ngừng nâng cao lợi nhuận. Vì vậy, DN phải chú trọng nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh của mình. Một DN được coi là kinh doanh có hiệu quả khi
DN đó thu được kết quả đầu ra lớn nhất với chi phí đầu vào hợp lí nhất tương ứng.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của DN là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của
quá trình kinh doanh hay cụ thể là quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với toàn
bộ chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh đó. Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn
lưu động còn thể hiện ở nhiều chỉ tiêu liên quan khác như chỉ tiêu về khả năng
thanh toán, số vòng quay của vốn lưu động Và để đánh giá một cách toàn diện về
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nói chung và hiệu quả sử dụng vốn
lưu động nói riêng, cần phải xem xét một cách toàn diện các yếu tố liên quan, có
ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Có như vậy mới tìm ra được
các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của DN.
Để có được một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn lưu động. Hệ số
này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
_
Thời gian của một;vòng luân chuyển
= Error!
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng.
Thời gian của một vòng càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn.
Chương ii
Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
i. Mức độ sử dụng, hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
1. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ khi xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị
trường các DN được quyền chủ động trong việc huy động vốn sử dụng vốn, tìm
kiếm thị trường, theo nguyên tắc lấy thu bù chi, đảm bảo có lãi và có nghĩa vụ đóng
góp cho ngân sách nhà nước. Trải qua thời gian dài kinh doanh kém hiệu quả do sức
ỳ tâm lí rất lớn mà cơ chế cũ để lại đã làm cản trợ sự nhạy bén thích ứng với
phương pháp điều hành kinh doanh điều hành DN mới. Tuy nhiên trong mấy năm
gần đây các DN đã dần thích ứng với cơ chế mới và tập trung phát huy thế mạnh
nên sản xuất kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn.
Nghiệp vụ quản lí ở một số DN còn nhiều hạn chế dẫn đến việc quản lí tài
chính chưa thực hiện chặt chẽ và có hiệu quả.
Đó là một số nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của
sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động quản lí sử dụng vốn lưu động nói riêng.
Trên cơ sở này, cần tìm ra những giải pháp nhanh chóng đưa ra cho các DN thoát
khỏi những khó khăn này.
2. Thực trạng sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
2. Những tồn tại cần khắc phục trong việc quản lí và sử dụng vốn lưu động
Từ những phân tích thực trạng sử dụng vốn lưu động trong sản xuất kinh
doanh đã cho thấy mặc dù trong thời gian qua đã liên tục có những cố gắng vượt
bậc nhưng việc quản lí và sử dụng vốn lưu động của DN vẫn còn bộc lộ nhiều yếu
kém. Thứ nhất, là trình độ quản lí của cán bộ quản lí DN còn nhiều bất cập, nhiều
khi sự yếu kém.
Có những DN dùng các khoản vay ngắn hạn làm vốn lưu động để thay toán
công nợ, để mua bất động sản hoặc dùng vào việc khác sai với mục đích sử dụng
vốn mà không quan tâm đến nguyên tắc tín dụng.
Thứ hai, là vốn lưu động thường xuyên của các DN thường âm, có nghĩa là TS
lưu động và đầu tư ngắn hạn ( Ngắn hạn phải trả ).
Do vậy, mặc dù trong những năm qua doanh thu có tăng, tăng lợi nhuận như
sức sinh lợi của vốn lưu động chưa phải là cao, bên cạnh đó vòng quay vốn lưu
động tăng giảm thất thường. Sự không ổn định là do tỉ lệ tăng doanh thu thấp hơn tỉ
lệ tăng vốn lưu động bình quân.
Do nhu cầu về vốn lưu động để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hiện
nay là rất cao nên hầu hết các doanh nghiệp tìm đến nguồn vốn vay. Tuy nhiên việc
vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng là cần thiết nhưng phải được cân nhắc kĩ
lưỡng và sử dụng có hiệu quả đúng mục đích. Nhưng hiện nay việc xác định nhu
cầu vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng chưa được quan tâm đúng mức, huy
động chưa hợp lí, sử dụng lại kém hiệu quả do đó tỉ lệ nợ phải trả trên tổng nguồn
vốn là rất cao. Vì vậy, các DN không độc lập về mặt tài chính, nguy cơ bị phá sản
đối với nhiều DN hiện nay là rất cao. Giải pháp cho vấn để này hiện nay đang là vấn
đề bức xúc.
2. Giảm phí tổn về vốn
Để giảm bớt phí tổn về vốn cần lựa chọn các nguồn vốn có phí tổn thấp nhất
và tối thiểu hoá lượng vốn sử dụng cho việc sản xuất ra một đơn vị sản lượng, hoặc
thực hiện một khối lượng dịch vụ nhất định, Do đó, cần khai thác các nguồn vốn
khác nhau, đặc biệt nguồn vốn nợ, vì đó là một nguồn vốn đòi hỏi tương đối thấp
đối với các DN và tạo khả năng mang lại thu nhập cao hơn.
Ngoài ra, cần tìm các biện pháp giảm bớt nhu cầu về vốn, như giảm nhu cầu
về vốn dự trữ, giải quyết tốt khâu thanh toán, rút ngắn chu kì sản xuất trong phạm vi
công nghệ cho phép.
3. Hạ giá thành sản phẩm là biện pháp chủ yếu để tăng lợi nhuận cho DN
Nhiều DN giá thành sản phẩm còn cao đổi mới sản phẩm chậm vì vậy sản
phẩm kém sức cạnh tranh. Trên thị trường hiện nay, tràn ngập nhiều chủng loại
hàng hoá do nhiều hãng, nhiều DN khác nhau sản xuất trong đó hàng hoá của các
DN nhà nước phải cạnh tranh gay gắt với hàng Trung Quốc giá rẻ, chất lượng chấp
nhận được. Muốn hạ giá thành phải thực hiện đồng bộ nhiều phương hướng và biện
pháp khác nhau.
_ Giảm chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu năng lượng trong giá thành sản phẩm:
Trong giá thành sản phẩm nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng cần phải cải
tiến kết cấu sản phẩm, cải tiến phương pháp công nghệ,sử dụng tổng hợp nguyên
liệu, lợi dụng triệt để phế liệu, sử dụng vật liệu thay thế
Thông thường trong kết cấu giá thành tỉ trọng nguyên vật liệu chiếm bộ phận
lớn nhất, có DN chiếm từ 60-80% vì vậy tiết kiệm nguyên vật liệu sẽ làm cho giá
thành giảm nhiều.
_ Giảm chi phí tiền lương và tiền công trong giá thành sản phẩm.Muốn giảm
chi phí tiền lương các DN cần có biện pháp tăng nhanh năng suất lao động, bảo đảm
cho năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân và tiền công. Như vậy
cần cải tiến tổ chức sản xuất, cải tiến tổ chức lao động áp dụng tiến bộ khoa học, kĩ thuật công nghệ, nâng cao trình độ cơ giới hoá tự động hoá hoàn thiện định mức lao
tham gia hăng say sản xuất .
kết luận
Với sự cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường hiện nay các DN muốn
tồn tại và phát triển phải tìm cách sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất.
Do đó vấn đề sử dụng vốn lưu động một cách hợp lí và có hiệu quả là hết sức thiết
thực đối với DN., là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững cho cả nền kinh
tế.
Từ cơ sở lí luận và tình hình thực tế tôi xin đưa ra một số ý kiến nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh của các DN. Do trình
độ hiểu biết còn hạn chế cũng như tính chất phức tạp của hoạt động sản xuất kinh
doanh, chắc chắn những kiến nghị trên còn nhiều điểm chưa phù hợp và cần tiếp tục
xem xét.
16
mục lục
lời mở đầu 1
Chương I: Cơ sở lí luận về hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp 3
i. Quan niệm chung về vốn 3
1. Khái niệm về vốn 3
2. Phân loại vốn 4
3. Vai trò của vốn đối với DN trong nền cơ chế thị trường 4
ii. Những vấn đề liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn: 5
1. Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh: 5