TIỂU LUẬN:
Đào tạo nguồn lực con người và bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước
Lời mở đầu
"Dân tộc chúng tôi hiểu đầy đủ rằng: dân tộc mình là một dân tộc nghèo, một
đất nước đang phát triển ở mức thấp… Chúng tôi hiểu rõ khoảng cách giữa nền kinh
tế của chúng tôi và nền kinh tế của những nước phát triển trên thế giới. Chúng tôi
hiểu rõ khoa học công nghệ trong thế kỷ 21 sẽ có những bước tiến khổng lồ. Thực
nhưng nhìn chung các quan điểm triết học nói trên đều xem xét con người một cách
trừu tượng, do đó đã đi đến những cách lý giải cực đoan phiến diện.
Chủ nghĩa Mác đã kế thừa và khắc phục những mặt hạn chế và đồng thời
phát triển những quan niệm hạn chế về con người đã có trong các học thuyết trước
đây để đi đến những quan niệm về con người hiện thực, con người hoạt động thực
tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội. Với tư cách là con người hiện thực, con người vừa là
sản phẩm của tự nhiên và xã hội, đồng thời vừa là chủ thể cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hay nói cách khác chủ nghĩa Mác xem xét con người như một thực thể sinh học -
xã hội.
2. Con người là một thực thể sinh học - xã hội.
Con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài
của giới hữu sinh. Con người tự nhiên là con người sinh học mang tính sinh học.
Tính sinh học trong con người quy định sự hình thành những hiện tượng và quá
trình tâm lý trong con người là điều kiện quyết định sự tồn tại của con người. Song
con người không phải là động vật thuần túy như các động vật khác mà là một động
vật có tính chất xã hội với nội dung văn hoá lịch sử của nó. Con người là sản phẩm
của xã hội, là con người xã hội mang bản tích xã hội. Con người chỉ có thể tồn tại
được một khi con người tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn
nhu cầu sinh học của minh. Lao động sản xuất là yếu tố quyết định sự hình thành
con người và ý thức. Chính lao động đã quy định bản chất xã hội của con người,
quy định cái xã hội của con người và xã hội lại quy định sự hình thành cá nhân và
nhân cách. Vì con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên con người chịu sự
chi phối của môi trường tự nhiên và xã hội cùng các quy luật biến đổi của chúng.
Với tư cách là con người xã hội, là con người hoạt động thực tiễn, con người
sản xuất ra của cải vật chất tác động vào tự nhiện để cải tạo tự nhiên, con người
chính là chủ thể cải tạo tự nhiên. Con người là sản phẩm của tự nhiên song con
người có thể thống trị tự nhiên nếu biết nắm bắt và tuân theo các quy luật của bản
1. Thế nào là công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.
Từ quan điểm đổi mới về công nghiệp hóa hiện đại hóa của đại hội Đảng lần
thứ VII rút ra từ thực tiễn công nghiệp hóa trên thế giới và ở nước ta, có thể đưa ra
định nghĩa: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất xã hội cao.
2. Nguồn nhân lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta:
Đối với đất nước ta khi chiến lược phát triển đất được xác định là “đẩy mạnh
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm
mục tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội công bằng minh”, thì vấn đề xác định dúng
và huy động có hiệu quả những nguồn lực vốn có và có thể tạo ra trong tiến trình
phát triển càng trở nên quan trọng.
Khi xác định chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta
đã chỉ rõ những nguồn lực làm cơ sở cho việc thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là : nguồn lực con người Việt Nam, nguồn lực tự
nhiên (tài nguyên thiện nhiên , vị trí địa lý), cơ sở vật chất tiềm lực khoa học-kĩ
thuật vốn có các nguồn lực ngoài nước và kinh nghiệm quản lý.
Lịch sử phát triển chân chính của xã hội loài người là lịch sử phát triển của con
người, do con người ,vì con người. Con người làm ra lịch sử của chính mình và là
động lực của lịch sử đó. Khi khẳng định chân lý vĩnh hằng đó, các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác-LêNin đã đồng thời chỉ rõ, xu hướng chung của tiến trình phát triển
lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất do con người và
những công cụ sản xuất, bao gồm con người và những công cụ sản xuất do con
người tạo ra.
lực cả về số lượng và chất lượng. ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa thừa lao
động giản đơn nhưng lại thiếu nghiêm trọng lao động có trình độ, gây rất nhiều khó
khăn cho việc phát triển về nhiều mặt ở các vùng này. Những nơi cần thì không có,
còn những nơi đã có nhiều rồi như ở các thành phố lớn thì lại ngày càng nhiều
thêm gây ra một sự lãng phí rất lớn cho xã hội.
Điểm mạnh của nước ta là số người biết chữ cao so với nhiều nước trong khu
vực hay các nước đang phát triển khác. Nguồn nhân lực nước ta có động lực hạc
tập tốt, thông minh, tự tin cao, khéo léo, có thể thành giỏi nếu được giáo dục đào
tạo tốt. Điểm yếu của nước ta về nguồn nhân lực chủ yếu là tri thức, nghiệp vụ
kinh doanh, tiếp thị, buôn bán, quản lý và tri thức khoa học kỹ thuật cập nhật.
Những hạn chế đó của nguồn nhân lực nước ta trong cơ chế thị trường và xu thế
hội nhập phát triển rất cần được khắc phục càng sớm càng tốt bằng mọi biện pháp,
khả năng vốn có của nước ta.
Đó là thực trạng về nguồn nhân lực của nước ta hiện nay.
3-Giáo dục đào tạo nguồn nhân lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá
hiện đại hoá ở nước ta.
Do một trong ba mặt thể hiện vai trò sáng tạo ra lịch sử của quần chúng nhân
dân là: hoạtđộng sản xuất ra của cải vật chất vật chất của quần chúng nhân dân,
trực tiếp là nhân dân lao động, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội. Do nội dung
cơ bản của công nghiệp hoá và hiện đại hoá là:
Trang bị kỹ thuật và công nghệ theo hướng hiện đại trong các ngành của nền
kinh tế quốc dân. Nội dung này được thể hiện qua hai cách:
Tiến hành cách mạng khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để
tự trang bị.
Việc trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại được thực hiện thông qua nhân
chuyển giao công nghệ mới từ các nước tiên tiến .
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội.
còn đặc biệt quan trọng trong việc phát triển đón bắt, giảm nguy cơ tụt hậu. Tuy
nhiên, những bất cập giữa các loại ngành đào tạo, giữa các bậc học đã gây khó
khăn không ít cho sự phát triển. Một số ngành thì được học sinh, sinh viên theo
học. Nếu không có sự đIều chỉnh kịp thời, Việt Nam sẽ nhanh chóng gặp phải khó
khăn về đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật như ở nhiều nước Asean, nhất là của
Thái Lan.
Giáo dục đào tạo ở thành phố, đồng bằng có điều kiện phát triển hơn ở nông
thôn, vùng sâu kiện phát triển hơn ở nông thôn, vùng núi, vùng sâu vùng xa.Vì
vậy, vấn đề khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông
thôn, vấn đề thực hiện công bằng xã hội cũng trở nên phức tạp hơn. Muốn nâng
cao trình độ của nguồn nhân lực ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền
núi, chính sách cấp học bổng, giảm học phí, ưu tiên các học sinh nghèo vượt khó là
điều kiện cơ bản đầu tiên tạo cơ hội được giáo dục đào tạo nguồn nhân lực.
Yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng nguồn nhân lực có đáp ứng
được yêu cầu phát triển hay không đó là đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình
và phương pháp giáo dục đào tạo. Việc hội nhập và cạnh tranh kinh tế đòi hỏi hàng
hoá phải đạt tiêu chuẩn quốc tế để tăng thêm khả năng cạnh tranh trên thị trường
thế giới, từ đó nảy sinh yêu cầu về trình độ công nghệ và trình độ sử dụng các công
nghệ đó cũng ngày càng phải được nâng cao. Ngoài giáo dục đào tạo văn hoá,
chuyên môn, nghiệp vụ về mặt lý thuyết, cần chú ý đén khâu thực hành, ứng dụng,
giáo dục kỹ thuật, tác phong lao động công nghiệp, rèn luyện kỹ năng thích ứng
của người lao động với những đặc đIểm của nền kinh tế thị trường. Kết hợp với các
cấn đề giáo dục đó là giáo dục liên quan đến dân số, sức khoẻ, giới tính để nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, giảm sức ép đối với quy mô và chất lượng giáo
dục.
Trong điều kiện của Việt Nam ta hiện nay, yêu cầu đa dạng hoá các loại hình
giáo dục đào tạo rất cần thiết để vừa bổ xung, cải thiện hiện trạng nguồn nhân lực,
mạnh mẽ lao động xã hội theo hướng tăng tỷ trọng của lao động trí tuệ, giảm bớt
các hoạt động chân tay, làm cho lao động trí tuệ trở thành hoạt động cơ bản của
con người. Việc ứng dụng ngày càng rộng rãi tri thức vào sản xuất và tổ chức lao
động đã làm cho tri thức nhanh chóng trở thành yếu tố sản xuất quan trọng nhất,
thành nguồn lực kinh tế cơ bản và chủ yếu. Vai trò của các yếu tố sản xuất truyền
thống như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn…dẫu không mất đi song đã trở
thành thứ yếu. Các nghiên cứu trắc lượng gần đây cho thấy chỉ một phần nhỏ của
sự tăng trưởng có thể giải thích bởi đầu tư vào vốn, còn phần quan trọng của tăng
trưởng gắn liền với chất lượng lao động.
Trong những năm chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, người dân được tự
do kinh doanh những lĩnh vực pháp luật không cấm; trong sinh hoạt tư tưởng, người
dân cũng được tự do thảo luận hơn rất nhiều nhiều so với trước; dân chủ ở cơ sở
được thể chế hoá đã có tác dụng tích cực; sự thảo luận và đối thoại trong Quốc hội
thẳng thắn, công khai; sự khiếu kiện của dân được giải quyết kịp thời hơn; nhân dân
được tham gia trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của đất nước. Điều này chứng
tỏ nguồn nhân lực của nước ta có trình độ ngày càng được khẳng định và được
trọng dụng.
Những thành tích của giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đào tạo nguồn
nhân lực nói riêng là to lớn nhờ đó mà mặc dù một số chỉ tiêu khác như thu nhập
bình quân đầu người chưa cao nhưng Việt Nam vẫn có chỉ số HDI tương đối cao,
được xếp vào các nước có trình độ phát triển trung bình. Tuy nhiên, so với những
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội thì giáo dục đào tạo của nước ta hiện nay còn chưa
đáp ứng được. Những phân tích trên đây cho thấy giáo dục đào tạo cần và có thể
giúp cho việc giải quyết những mâu thuẫn giữa cung và cầu không chỉ về số lượng
mà cả về chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của nước ta hiện nay.
6-Xây dựng môi trường xã hội tạo điều kiện để phát huy yếu tố con người.
Các tài liệu tham khảo:
-Triết học Mác-Lê nin-Nhà xuất bản chính trị quốc gia
-Địa lý kinh tế Việt Nam
-Kinh tế chính trị
-Tạp trí những vấn đề kinh tế thế giới, số 1/1999
-Tạp chí cộng sản, số 21,15
-Triết học số 3(115)