Phần 1: Mở đầu
Trong đời sống hàng ngày, lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế vĩ mô
đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và công chúng, có ảnh h-
ởng rộng lớn đến các mặt của đời sống kinh tế hiện đại. Một ví dụ điển hình về
hậu quả to lớn của lạm phát là thời kì siêu lạm phát của nứoc Đức vào đầu
những năm 1920 đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa phát xít. Trong vài thập kỉ
qua đa số các nứoc đã phải đối mặt với tình trạng lạm phát khá cao. Việt Nam
cũng nh phần lớn các nứơc trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ mô
hình kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trờng đều trải qua lạm phát cao.
Việc này đã làm nớc ta gặp nhiều khó khăn với nền kinh tế khủng hoảng nặng
nề.
Chúng ta có thể hiểu bản chất của nó nh sau: với Ms là lợng tiền cung ứng, P
là giá cả, Q là sản lợng thực tế, V là tốc độ lu thông tiền tệ
Phơng trình Ms*V = P*Q
Bõy gi chỳng ta ó cú tt c cỏc yu t cn thit lý gii mc giỏ cõn
bng v t l lm phỏt. Sau õy l nhng yu t ú:
- Tc lu thụng tin t tng i n nh theo thi gian.
- Vỡ tc lu thụng tin t n nh, nờn khi thay i khi lng tin t
(M) nú gõy ra s thay i tng ng trong giỏ tr sn lng danh
ngha ( P*Y)
- Sn lng hng hoỏ v dch v ca nn kinh t (Y) c xỏc nh bi
cỏc nhõn t sn xut ( lao ng , t bn hin vt, vn nhõn lc, ti
1
nguyờn thiờn nhiờn ) v trỡnh cụng ngh hin ti. Nhng vỡ tin cú
tớnh trung lp, nờn nú khụng nh hng n sn lng.
- Vi sn lng (Y) ph thuc vo cỏc nhõn t sn xut v cụng ngh,
thỡ khi thay i khi lng tin t ( M) v gõy ra nhng thay i
tng ng trong giỏ tr sn lng danh ngha ( P*Y) thỡ nhng thay
i ny c phn ỏnh li trong s thay ca mc giỏ (P).
- Do vy, khi tng cung ng tin t mt cỏch nhanh chúng, thỡ kt qu
l t lm phỏt cao.
giá của một số hàng hóa giảm, nếu như giá của các hàng hóa và dịch vụ
khác tăng đủ mạnh.
3
I.2 Ph©n lo¹i
Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ
lạm phát. Việc phân loại lạm phát theo tính chất sẽ được đề cập khi bàn về
tác động của lạm phát, còn trong mục này chúng ta sẽ phân loại lạm phát
theo mức độ của tỷ lệ lạm phát. Theo tiêu thức này các nhà kinh tế thường
phân biệt 3 loại lạm phát: Lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm
phát.
Lạm phát vừa phải: là lạm phát ở mức thấp và có thể dự đoán được, lạm
phát dưới một con số và mọi người tin tưởng vào đồng tiền và sẵn sàng gửi
tiền cũng như ký hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền.
Lạm phát phi mã: là lạm phát trong phạm vi hai con số hoặc ba con số
một năm. Lạm phát phi mã làm xuất hiện nhiều biến dạng kinh tế quan
trọng, có thể gây khủng hoảng các thị trường tài chính.
Siêu lạm phát: Lạm phát xảy ra khi giá cả tăng với tỉ lệ cao tới con số
hàng ngàn, hàng triệu phần trăm một năm. Lạm phát ở Đức trong những
năm 1992, 1923 là một ví dụ điển hình.Từ tháng giêng 1992 đến tháng 1
năm 1923, chỉ số giá đã tăng từ 1 triệu lên 10 triệu. Siêu lạm pháp làm rối
loạn nền kinh tế .
I.3 Nguyªn nh©n
4
Điều gì gây ra lạm phát là một câu hỏi phổ biến, xong các nhà kinh tế vẫn
còn những bất đồng. Có nhiều lý thuyết giải thích về nguyên nhân gây ra
lạm phát mà dưới đây chúng ta sẽ giới thiệu những lý thuyết chính.
a. Lạm phát cầu kéo
Một trong những nguyên nhân chính gây ra lạm phát là sự thay đổi
trong đầu tư, chi tiêu của chính phủ hay xuất khẩu ròng có thể làm thay đổi
tổng cầu và đẩy sản lượng vượt quá mức tiềm năng của nó. Điều này có thể
rằng ở các nước đang phát triển, nơi mà thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng nguồn thu từ thuế, thì thay đổi thuế gián thu dường như có tác
động mạnh hơn tới lạm phát.
6
Đối với các nền kinh tế nhập khẩu nhiều loại nguyên liệu, máy móc cần
thiết mà nền công nghiệp trong nước chưa sản xuất được thì sự thay đổi giá
cả của chúng (có thể do giá quốc tế thay đổi hoặc tỷ giá hối đoái biến động)
sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lạm phát trong nước. Nếu giá cả
của chúng tăng mạnh trên thị trường thế giới hay đồng nội tệ giảm giá mạnh
trên thị trường tài chính quốc tế, thì chi phí sản xuất trong nước sẽ tăng
mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ.
Những yếu tố nêu trên có thể tác động riêng rẽ, nhưng cũng có thể gây ra
tác động tổng hợp, làm cho lạm phát ra tăng với tốc độ cao (lạm phát cao) và
rất cao (siêu lạm phát). Nếu chính phủ phản ứng quá mạnh thông qua các
chính sách thích nghi, thì lạm phát có thể trở nên không kiểm soát được, như
tình hình của nhiều nước trong những năm 1970 và 1980.
c. Lạm phát ỳ
P AS
2
AS
1
P
2
AS
0
P
1
AD
2
của tiền giảm từ 1/2 xuống 1/4 và mức giá cân bằng tăng từ 2 lên 4. Nói
cách khác, khi sự gia tăng của cung ứng tiền tệ làm cho lượng đô la trở nên
nhiều hơn, mức giá sẽ tăng, làm cho mỗi đồng đô la có giá trị hơn.
8