khóa luận tốt nghiệp nhượng quyền thương mại và xu hướng phát triển của mô hình này tại việt nam - Pdf 12


TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH:
KINH
TẾ NGOẠI
THƯƠNG
KHÓI) LUÔN TỐT
NGHlệP
(ĐỀ tài:
NHƯỢNG
QUYÊN THƯƠNG
MẠI VÀ xu HƯỚNG
PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH NÀY TẠI VIỆT NAM
THƯ VIỀN!
'^••COA.HOHI
Sinh
viên
thực
hiện
:
THÂN THUÝ
HẰNG
Lớp

ra đời
của hình
thức
kinh
doanh
nhượng
quyền
thương mại
(NQTM)
4
Ì
.2.
Khái
niệm

đặc
điểm
của
nhượng
quyền
thương
mại
6
1.2.1.
Khái
niệm
6
1.2.2.
Đặc điểm
của

Ì
.4.2.
Đại
lý thương
mại
22
1.4.3.
Nhà phân
phối
24
Ì
.4.4.
Hoạt
động
cấp
phép
25
1.5.
Ưu
điểm và nhược điểm
của
nhượng
quyền
thương
mại
27
1.5.1.
Ưu
điểm
27

Đặc điểm
của
mô hình
kinh
doanh
NQTM
tại
Việt
Nam 38
2.2.1.
Nhượng
quyền
theo lĩnh
vực
kinh
doanh
38
2.2.2.
Nhượng
quyền của
các
doanh
nghiệp
trong
và ngoài nước 40
2.2.3.
Nhượng
quyền
theo
phương

đánh
giá,
nhận xét chung
56
Chương 3. Xu hướng phát
triển
và các
giải
pháp thúc đẩy hình
thức
kinh
doanh
nhượng
quyền
thương mại
tại
Việt
Nam 59
3.1.

hội
và thách
thức
cho
việc
phát
triển
hình
thức
kinh

nhà nước 87
3.4.2.
Nhóm
giải
pháp
từ
phía
doanh
nghiệp
91
Kết
luận
95
Tài
liệu
tham khảo
96
LỜI
MỞ ĐẨU
Theo
kết
quả
điều
tra
sơ bộ
của
trường
đại
học
Kinh

nguồn
gốc và
chất
lượng sản phẩm hơn. Như
vậy, ta

thể
thấy
thương
hiệu
là một tài sản quý của
doanh
nghiệp.

thể
hình
dung
hai
vấn
đề cho
những
người
kinh
doanh
như
sau:
Một
là,
thành
lập

đặt ra
là làm
thế
nào để có
thể
bảo
vệ và phát huy
tối
đa và mở
rộng
thương
hiệu
của mình
trong
điều
kiện
nguồn
vốn,
nhân
lực, đội
ngũ
quản
lý có
hạn.
Hai
là,
những
người
có vốn,
muốn

triển
nở rộ ở các nước Châu Âu, châu Mỹ cách đây gần
một thế kỷ,
nhượng
quyền
thương mại đang là một hình
thức
kinh
doanh

cùng hấp dẫn
đối với
cả
người
nhượng
quyền

người
nhận
quyền.
Nếu như
thị
trường phương Tây đã được
coi
là bão hòa
đối với
hình
thức
này
thì

ưu
điểm
của
nó không
chỉ đối với
các bên
tham
gia
mà còn cả
đối
với
nền
kinh tế.
Nhượng quyển thương mại đã xuất hiện ở nước ta cách đây hơn 10 năm
nhưng
hoạt
động này vẫn còn
rất
mới mẻ, sơ
khai
và được xem như một
mảnh
1
Khoa
kinh
tế Đại
học
quốc gia

Nội,

khai
phá: một nền chính
trị
ổn
định;
tỷ
lệ
người
biết
chữ
cao;
/
một thị
trường
rất trẻ
với
70% dân số
dưới
30
tuổi;
sức mua ngày càng
tăng ị
fl
cao.
Chúng tôi tiên đoán sẽ nổ ra một
cuộc
cách
mạng
về nhượng
quyền

đến
của
nhiều
doanh
nghiệp
nước ngoài. Chúng
ta
đang đứng trước ngưỡng
cửa
mở cửa
thị
trường,
tể
do hóa
kinh
tế.

thế
đây vừa là một cơ
hội
vừa là
một
thách
thức đối với
các
doanh
nghiệp
nhận
quyền
và nhượng

thểc tế
đó em đã
lểa
chọn
đề tài khóa
luận
tốt nghiệp:
"Nhượng
quyền
thương mại và xu hướng phát
triển
của mô hình này
tại
Việt
Nam".
Mục
tiêu
nghiên
cứu của
khóa luận:
Khóa
luận
làm rõ các
vấn
đề lý
thuyết
như khái
niệm,
ưu nhược
điểm

tại
Việt
nam. Từ
đó,
khóa
luận
đánh
giá xu hướng và đề
ra
giải
pháp
cho
việc
phát
triển
mô hình này
tại
Việt
Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Đối
tượng nghiên cứu
của
khóa
luận
bao gồm các
doanh
nghiệp
trong


phân tích
thểc
trạng
2
nhượng
quyền
kinh
doanh
của
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam và
tình hình
nhượng
quyền
của
các
doanh
nghiệp
nước ngoài vào
Việt
Nam
Phương pháp nghiên
cứu
Khóa
luận
sử
dụng

luân văn đã được xây
dựng
với
bố
cục
đề
tài
gộm 3
chương:
Chương
ì.

sở lý
luận
của
hình
thức
nhượng
quyền
thương mại
Chương n. Thực
trạng
hoạt
động nhượng
quyền
thương mại
tại
Việt
Nam
Chuông

thời
gian
để nghiên
cứu.
Tuy nhiên về lý
luận
cũng
như
thực
tiễn

Việt
Nam
gần
như chưa có nghiên cứu chính
thống
nào về
loại
hình
kinh
doanh
mới
mẻ
này nên
trong
quá trình
thực hiện
tác
giả
đã gặp không

người
đã
tận
tình hướng dẫn và
chỉ
bảo cho
em
trong
thời
gian
qua.
Do trình
độ
của
người
viết
còn hạn
chế,
khoa
luận
chắc
chắn
còn
nhiều
thiếu
sót.
Tác
giả xin
cảm ơn
và đánh giá cao

doanh nhượng quyền thương mại
(NQTM)
Thuật ngữ "nhượng quyền thương mại" (íranchising) đã có từ rất lâu
đời.
Từ
thời
kỳ
phong
kiến

các nước Châu Âu,
quyền
thương mại được
nhượng
là một đặc
ân
được vua chúa ban
cho.
Bản
chất
của nhượng
quyền
thương mại
trong
thời
kỳ này là nhà vua cấp cho một
ai
đó
quyền
được

tại
Đức,
những
nhà

rượu
lớn
đã
cấp
quyền
thương
mại
cho các quán rượu
nhất
định,
cho phép các quán rượu này bán rượu của
mình.
Đây
được
xem

khởi
nguồn
của khái
niệm
NQTM mà
chúng
ta
biết
ngày

thương mại

khai
đầu tiên
tại
Mỹ
2
.
Vào
cuối
những
năm
50 của
thế
kỷ
19, Singer
đã
thiết
lập
một
mạng
lưới
các
nhà bán buôn và bán
lẻ.
Những
người
này đứ được phân
phối
những

này.
Vào
cuối
những
năm
1880,
các
thành phố
bắt
đầu cấp
quyền
độc
quyền
đối với
dịch
vụ ô tô và
các ngành
công
cộng
phục
vụ nước
sạch,
nước
thải,
gas và
điện.
Trong
khoảng
thời
gian

này
đã
đưa các nhà sản
xuất
õ

nghĩ
đến một hệ
thống
phân
phối mới.
Vào
năm
1908,
General
Motor
đã
tìm
ra
một cách
thức
liên
kết
với
các nhà bán
lẻ
độc
quyền
bằng
hợp đồng độc

NQTM
chắ
giới
hạn
trong
phạm
vi
phân
phối
sản phẩm. Còn hình
thức
nhượng
quyền
thương mại công
thức kinh
doanh
(business
íbrmat
íranchising)
thì phải sau thế chiến thứ
li
mới
bắt
đầu
xuất hiện. Tại
Pháp
trong
thời
gian này,
ông

một khu vực
nhất
định.
Sau chiến tranh thế
giới
lần thứ
li,
NQTM đã mở
rộng
sang
các ngành
khác đặc
biệt
là các ngành
dịch
vụ
nhất

lĩnh
vực bán
thức
ăn
nhanh
và bán
lẻ.
Bắt đầu

hình
kinh
doanh

vực
bán
thức
ăn
nhanh
hay
Howard
Jonhson
trong lĩnh
vực
nhà
hàng.

hình
NQTM
thật
sự
trở
thành một

hình
kinh
doanh
thành công
trong
những
năm
1950

1960

hai yếu
tố:
sự phát
triển

gia
tăng
quảng
cáo
cũng
như
sự
mở
rộng
của
hệ
thống
đường
cao
tốc
quốc
gia.
Nhờ sự phát
triển
của
quảng
cáo đã giúp các công
ty
xây
dựng

tương
dối
cho các công
ty
sở hữu chúng. Còn
việc
mở
các con
đường
cao
tốc
lại
khiến
cho
việc
đi
lại
tới
những
nơi

trước đây
người
ta
cho là xa xôi được
dễ
dàng
thuận
tiện
5

quan
trọng
của
thụ
trường đã
buộc
các công
ty
lớn
sử
dụng
đến một hệ
thống
phân
phối
cho phép họ tăng
nhanh
thụ
phần
mà không
phải
đầu tư
nhiều.
Giải
pháp này
cũng
cho phép các cá nhân
ít
vốn
cũng

các hệ
thống
NQTM
tại
Mỹ
bắt
dầu
mở
rộng
phạm
vi hoạt
động
sang
các
quốc gia
phát
triển
khác.
Vào
những
năm
1980,
tại
các nước
chụu
ảnh
hưởng
nhiều
của
hệ thống

các nước phát
triển
và đang phát
triển
và có mặt

hầu
hết
các ngành
nghề
như nhà hàng, khách
sạn,
giáo
dục
Không chỉ nở
rộ

nhiều
nước Châu
Âu
và Châu
Mỹ mà
nhượng
quyền
thương mại còn phát
triển
mạnh

khắp
các khu vực trên

cả các châu
lục
trên
thế
giới
với
hàng
triệu
cơ sở
kinh
doanh
trên toàn
cầu.
Theo
tác
giả
John
Naisbitt
của
quyển
sách Megatrends cho
rằng "ữanchise

khái
niệm
marketing
thành
công
nhất
trong

thỏa thuận
NQTM,
có đụnh
nghĩa nhấn
mạnh
quyền

nghĩa
vụ của
3
"Sự
bùng
nổ
nhượng
quyền
thương
hiệu",
link:
http://www.vừ.com.vn/Client/Dautu/dautu.asp?
6
các bên
chuyển
nhượng và
nhận chuyển
nhượng. Hoặc
cũng

những
định
nghĩa

xuất
xứ
từ
Châu Âu nhưng
lại
phất
triển
nhanh
nhất
tại
Mỹ.
Theo
định
nghĩa
cởa
từ
điển
Anh
Việt
cởa
Viện
ngôn ngữ học
Việt
Nam
thì íranchise có
nghĩa
là nhượng
quyền
kinh
doanh

một đặc ân
hoặc
đặc
quyền
được ban cấp cho
một người bởi
chính
phở,
nhà nước hay
bởi
một
người
cẩm
quyền
cao
nhất;
(li)
là sự cho phép
bởi
một nhà sản
xuất
trao
cho một
người
hay một nhóm
người
để phân
phối
hay bán
sản

đối
tác này sẽ ký một hợp
đồng,
gọi

hợp
đồng íranchise.
Do đó
cũng
có định
nghĩa
cho
rằng
íranchise là một
loại
hợp đồng
thỏa
thuận giữa hai
bên,

thể
bằng
văn bản hay
lời
nói.
Ví dụ như
theo Hiệp hội
NQTM
thế
giới

tói
doanh
nghiệp
cởa bên
nhận
trẽn
các khía
cạnh
như: bí
quyết
kinh
doanh,
đào
tạo
nhân viên còn bên
nhận chuyển
nhượng
hoạt
động
dưới
nhãn
hiệu
hàng hóa, phương
thức,
phương pháp
kinh
doanh
do bên
chuyển
nhượng

Trung
- NXB
trẻ
7
Theo
Hiệp
hội
NQTM
Pháp
thì
NQTM
là một phương
thức
hợp tác
giữa
một
bên là một
doanh
nghiệp
(bên
chuyển
nhượng)

một bên khác là một
hay nhiều
doanh
nghiệp
(bên
nhận
chuyển

(biển hiệu,
nhãn
hiệu,
tên thương
mại,
logo ),
việc
sử
dụng
kinh
nghiêm hay bí
quyết
kinh
doanh,
một
tập
hợp các sịn phẩm
và/
hoặc
dịch
vụ
và/
hoặc
công
nghệ.
Trên

sở
đối
tượng

chỉnh
của
Luật
các
nước,
do có sự khác
biệt
về
quan
điểm
cũng
như môi
trường
kinh
tế,
văn
hóa,
chính
trị

hội
nên mỗi nước
lại

những
định
nghĩa
khác
nhau
về


hợp đồng
theo
đó bén
chuyển
nhượng:
(i) hỗ trợ
đáng
kể cho bên
nhận
chuyển
nhượng
trong việc
điều hành
doanh
nghiệp
hoặc
kiểm
soát
chặt chẽ
phương pháp điều hành
doanh
nghiệp của
bên
nhận
(li) cấp quyền sử dụng nhãn hiệu cho bên nhận chuyển nhượng để phân phối
sịn
phẩm
hoặc
dịch

bất
kỳ mối
quan
hệ thương mại liên
tục
nào được
tạo ra bởi
một
hoặc
nhiều
sự sịp xếp,
trong
đó:
(1) (i)(A).
Một
người
(gọi

người nhận quyền)
chào hàng, bán
hoặc
phân
phối
cho
bất
kỳ
ai
mà không
phải


trực
tiếp
hoặc
gián
tiếp
được yêu cầu
hoặc
được chỉ bảo
phải
đáp ứng tiêu
chuẩn
chất
lượng do bên nhượng
quyển chuyển
lại,
theo
đó,
người
nhận quyền sẽ
hoạt
động
dưới
một tên có sử
dụng
thương
hiệu,
dấu
hiệu
thương
mại,

nhận
quyền,
bao gồm nhưng không
giới
hạn
tổ
chức
kinh
doanh,
các
hoạt
động xúc
tiến,
quản
lý,
kế
hoạch
marketing
hoặc
các mối
quan
hệ làm ăn của bên
nhận
quyền,
hoặc
a.
Người
nhượng
quyền
hỗ trợ dáng kể cho

Tuy nhiên,
ngoại trừ
trường hợp hỗ
trợ
trong
các
hoạt
9
động
xúc
tiến
thương
mại,
trong
tình
trạng
không có hỗ
trợ
về phương
thức
hoạt
động
tại
các khu vực
khác,
sẽ
không
được
xem


bởi
người
nhượng
quyền,
hoặc
(2)
Được
cung cấp
bởi
người
thứ
ba
(ví
dớ
như nhà
cung
cấp),
người

bên nhượng
quyền
yêu cầu
trực
tiếp
hoặc
gián
tiếp
bên
nhận quyền
làm ăn

hoặc
gián
tiếp
cho
người
nhận quyền
làm ăn
kinh
doanh
với;

(B) Người nhượng quyền:
(1)
Tim các
điểm
bán
lẻ
cho
người
nhận quyền

chịu
trách
nhiệm
đối với
các
hàng hóa

/
dịch

phối
các hàng hóa

/
hoặc
dịch vớ kể
trên;
hoặc
(3) Cung cấp cho nguôi nhận quyền các dịch vớ của một người có khả
năng tìm
kiếm
các
điểm
bán
lẻ,
tài
khoản hoặc
địa
điểm
như đã
ghi
trong
điểm
(l)(ii)(B)(l)
trên,

(2) Người nhận quyền bị yêu cầu như là một điều kiện để nhận được hoặc
khởi
đầu
hoạt

Sự
miễn
trừ.
Các
điều khoản
của
phẩn
này sẽ không áp
dụng
cho hình
thức
nhượng
quyền
thương
mại:
(iii)

hình
thức

tổng
sỳ
tiền
quy định
tại
khoản
(2)
cùa
điều
này được

bất
kỳ
điều
khoản
hoặc
các khía
cạnh của
mỳi
quan
hệ
hoặc
sự
sắp xếp.
(4) Các trường hợp
loại
trừ.
Thuật
ngữ "nhượng
quyền
thương mại" sẽ
không được xem là bao gồm
bất
kỳ mỳi
quan
hệ thương mại liên
tục
nào nếu
chỉ
được
tạo bởi:

thương
hiệu,
dấu
hiệu
thương mại, tên thương
mại,
con
dấu,
hoạt
động
quảng cáo, hoặc
các
biểu
tượng thương mại khác để
xác định một
người,
người
về cơ bản chào hàng để
lấy
phí
hoặc điều
khác,
một dịch
vụ
ngay
tình để định
giá,
kiểm
tra,
hoặc

số
hoạt
động
tự
nhiên
chung
được
cấp phép
bởi
người
cấp phép cho thương
hiệu,
dấu
hiệu
thương
mại,
tên
thương
mại,
hoạt
dộng quảng cáo, hoặc
các
biểu
tượng thương mại khác."
5
Như vậy nếu như định
nghĩa
của IFA
(hiệp hội
NQTM

quyền,
chỉ
ra
quyền

nghĩa
vụ
một cách cụ
thể giữa hai
bên.
Đặc
biệt
định
nghĩa
về
NQTM
còn
chỉ ra
sự
khác
biệt
giữa
hoạt
động
NQTM
vữi
một số các hình
thức
khác như cấp phép,
hình

nhượng
quyền
thương
mại.
Trong khi đó định nghĩa về nhượng quyền thương mại của cộng đồng
chung
Châu
Âu
lại
nhấn
mạnh
tữi
quyền của
bên
nhận quyền
khi
sử
dụng
một
tập
hợp
quyền
sở hữu
trí
tuệ
mà ở
đây
quyền
thương mại là
"tập

được
khai
thác để bán
sản
phẩm
hoặc
cung
cấp dịch
vụ
tữi
người sử dụng
cuối
cùng".
Theo đó nhượng
quyền
thương
mại

việc
nhượng các
quyền
thương mại nói
trên.

ràng định
nghĩa
này
ghi
nhận
vai

thương mại khác
cũng
sử
dụng
tập
hợp các yếu
tố
về sở hữu
trí
tuệ
là hàng
hóa, dịch
vụ để
trao
đổi
mua
bán.
5
"Một
số
giải
pháp
nhằm
nâng
cao
hiệu
quả
hoạt
động nhượng quyền thương
mại

vòng hơn 15 năm
trở
lại
đây. Tuy nhiên định
nghĩa
về nhượng
quyền
thương mại mới chỉ được dưa
ra
trong
Luật
Thương
mại

hiệu
lực từ
ngày
01/01/2006.
Cụ
thể
tại
mục 8
Luật
Thương mại 2005
quy
định như
sau:
nhượng
quyền
thương mại

dịch
vụ được
tiến
hành
theo
cách
thức
tổ
chức
kinh
doanh
do bên nhượng
quyền
quy định và được gắn
với
nhãn
hiệu
hàng hóa, tên thương
mại,

quyết
kinh
doanh,
khẩu
hiệu kinh
doanh,
biểu
tượng
kinh
doanh,

kinh
tiêu
cũng
đã ít
nhiều thể
hiện
được tính
chất
và đặc
điểm
của hoạt
động này:
Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu trường Đại học Ngoại
Thương Hà
Nội,
chuyển
nhượng
quyền
sử
dụng
thương
hiệu
thì
"chuyển
nhượng
quyền
sử
dụng
thương
hiệu

khách hàng gắn
liền
với
hệ
thống
kinh
doanh
như bí
quyết
kinh
doanh,
nhãn
hiệu
hàng hóa và
dịch
vị
trong
một
khoảng
thòi
gian
và phạm
vi
địa

nhất
định,
theo
phương
thức

sự
sáng
tạo,
năng động và ngày càng
trở
thành một phương
thức
kinh
doanh
phổ
biến
đối với
các
doanh
nghiệp
đang
tổn
tại
và mới hình
thành.
Trong
hệ
thống
NQTM,
bên nhượng
quyền
phải
phát
triển
được

dụng
khái
niệm
và hệ
thống
của
họ
theo
một phương
thức
được
kiểm
soát
tại
một địa
điểm
xác định và vào một
thời
điểm
nhất
định
tại
cơ sỏ
kinh
doanh
của
người
nhận
quyền
hoặc

kể
tọ phía
người
nhượng
quyền,

sự độc
lập
về mặt tài chính

pháp

giữa
bên nhượng
quyền
và bên
nhận
quyền
trong
hệ
thống,
có sự
trả
phí của
người
nhận
quyền
cho
người
nhượng

thương mại
đó
chính

việc
sử
dụng
thương
hiệu
của
Bên
nhượng
6
Khoa Quản
trị
Kinh
doanh,
trường
Đại học
Ngoại
thương,
đề tài NCKH cấp bộ năm
2005,
Một số
giãi pháp
phát triển hình thức kinh doanh chuyển nhượng quyển

dụng thương hiệu (ỷranchising)
lại
Việt

doanh
hàng hóa
hoặc dịch
vụ
của
bên nhượng
quyền thì
Bên
nhận quyền
phải trả
cho
bẽn
nhượng
quyền
một
khoản phí,
gọi
là phí
chuyển
nhượng
quyển
sử
dụng
thương
hiệu.
Cũng cần
lưu ý
rằng
trong
phương

vẫn

quyền
tiếp
tục khai
thác và phát
triển
thương
hiệu
của
mình

trên
thực
tế
vẫn

chủ sở hữu
đối với
thương
hiệu
đó.
Còn
việc
chuyển
giao
quyền
sở hữu thương
hiệu


trò là một
yếu
tố hết
sức quan
trọng.
Trên
thực tế
thường
thì
người
ta
chữ
tiến
hành nhượng
quyển
sử
dụng
thương
hiệu
đối
với
những
thương
hiệu
có tên
tuổi
nổi tiếng
gắn
với


hồn
trong nội
dung chuyển
nhượng
quyền
thương
mại.
Thứ hai,
trong
quá
trình
tiến
hành phương
thức kinh
doanh
này Bên
nhượng
quyền
có sự giám sát và hỗ
trợ
đáng kể về
nhiều
phương
diện
cho Bên
nhận
quyền.

thể
nói

doanh
như quy trình
hoạt
động,
công
nghệ,

quyết
kỹ
thuật,
tài
liệu
hướng
dẫn,
đào
tạo
nhân viên,
giám sát
tổ chức, quản

chất
lượng,
hỗ
trợ
ban đầu và
trong
quá trình
hoạt
động
Một

những
15
chìa khóa thành công
khi
xây
dựng
mô hình
kinh
doanh
nhượng
quyền"
8
.
Do
dó,
để tránh và
đối
phó
với
hậu quả
này, người
nhượng
quyền
phải
giám sát
chặt
chẽ
tới
hoạt
động

mức độ mà bên
nhận quyền
phụ
thuộc
vào các chuyên
gia
kinh
doanh
của bên nhượng
quyền.
Sự phụ
thuộc
này
thể
hiện
thông qua sự
giám sát của nhà nhượng
quyền đối
với
cách
thức
hoạt
động của nhà
nhận
quyền
hoặc
thông qua sự hỗ
trợ đối với
các nhà
nhận quyền

doanh
này nhằm phân
biệt
hình
thức
kinh
doanh
này
với
các
loại
hình gần
giống
khác như
đại
lý,
chi
nhánh thương
mại.
Tuy
rằng
trong
hệ
thống
này,
người
nhượng
quyền

quyền

pháp
luật
của các nước
thì
bên
nhận quyền
lại
là các cá nhân độc
lập
hoặc
các
pháp nhân độc
lập
về mặt
tổ chức lẫn
tài chính, không phụ
thuộc
vào bên
nhượng
quyền.
Trên
thế giới
chủ thương
hiệu
tức
người
nhượng
quyền
thường
đóng vài trò cầu

tạo, thiết
kế, chọn
địa
điểm,
nguồn
hàng,
quảng
cáo, Những
điều
này không có
nghĩa
là bên
nhận quyền
bị phụ
thuộc

bị
bên nhượng
quyền
áp
đặt
hoàn toàn
theo
ý
của
bén nhượng
quyền.
8
"Franchise bí quyết thành cồng bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh" - TS.Lý Quý Trung - NXB Trẻ
16

trả
phí của
người nhận quyền
cho
người
nhượng
quyền.
NQTM
xét cho cùng
cũng
giống
như
hoạt
động
dịch
vụ
thuê-mượn.
Người
nhượng
quyền
cho
người nhận quyền
thuê sử
dụng
thương
hiọu
của mình
đổi
lại
anh

tế
thì
người nhận
quyền
phải trả
cho
người
nhượng
quyền
một
khoản
gồm
nhiều lần.
Lần thứ
nhất

phí
chuyển
nhượng ban
đẩu.

thể hiểu
đây là
khoản
phí

bén
nhận
chuyển
nhượng

như đào
tạo,
trang trí,
tìm
kiếm
nguồn tài
trợ,
tài
liọu
hướng dẫn
hoạt
động
Còn
khoản
phí định kỳ thường được bên
nhận chuyến
nhượng
trả
cho
bên
chuyển
nhượng
theo
%
doanh thu
hàng tháng của bên
nhận chuyển
nhượng.
Chính
những khoản

Nhượng
quyền
thương
mại
xuất hiọn
trên
thế
giới
đã khá lâu. Tuy
nhiên

Viọt
Nam
loại
hình
kinh
doanh
này vẫn còn khá mới
mẻ
đối
với
các
doanh
nghiọp

các

nhân
trong
nước

thức
NQTM

theo
đó bén
nhận quyền
sẽ sản
xuất
và bán sản phẩm
dưới
nhãn
hiệu
của bên
chuyển
nhượng.
Bên
chuyển
nhượng sẽ
chuyển
giao
cho bên
nhận quyền

quyết kinh
doanh
thường là các công
thức
sản
xuất,
quyền

sản
xuất
tại
các đữa
điểm

chi
phí
thâm
nhập

chi
phí
vận chuyển
đến nơi đó quá
cao.
Thông thường hình
thức
này liên
quan
đến
hoạt
động thương mại
quốc
tế.
(li)
việc
sản
xuất
đi đôi

sản
xuất
đổng
thời

người
bán sản
phẩm mình sản
xuất
ra.

vậy,
yêu cẩu
đặt ra
là bên
chuyến
nhượng cần đầu
tư thích đáng về mặt
trí
lực
cho hệ
thống
kinh
doanh
của mình
cũng
như
việc
đầu
tư vào

hình
NQTM
này Bên
nhận quyền
sẽ được bán hàng hóa của Bên nhượng
quyền
dưới
thương
hiệu
của người
nhượng
quyền.
Ở đây
sản
phẩm có
thể
là do bên nhượng
quyền
sản
xuất
ra
nhưng
cũng

thể
không
phải
do anh
ta
sản

nên một cơ
cấu
trực
tuyến
cho phép đưa
sản
phẩm
từ
khâu
sản
xuất
đến khâu tiêu
thụ cuối
cùng.
Mối
quan
hệ
giữa
nhà nhượng
quyền
và nhà
nhận quyền chỉ là
mối
quan
hệ
nhà
cung
cấp và
người
bán.

quyền
phân
phối
sản
phẩm có
thể
có các hình
thức
khác
nhau
tùy vào
vị trí của
bên
chuyển
nhượng
trong
kênh phân
phối.
Trường
hợp bên
chuyển
nhượng là nhà sản
xuất:
lúc này bên
chuyển
nhượng
sẽ là
người
trực
tiếp

định.
Ví dụ như hầ
thống
Kinh
Đô
Bakery cũng
được xem là một
kênh phân
phối
sản
phẩm
của
công
ty
cổ
phần
Kinh
Đô Sài Gòn
Trường
hợp bên
chuyển
nhượng không
phải
là nhà sản
xuất
trực
tiếp

đóng
vai

xuất
mà có
chức
năng thương mại
-
đưa một
sản
phẩm vào kênh phân
phối gọi

người
tổ
chức
phân
phối.
Đặc
điểm
chính
của
hình
thức
chuyển
nhượng này là
viầc
tạo ra
một
tập
hợp sản phẩm để cho
bên
nhận chuyển

nhượng
- Được phép sử
dụng
tên nhãn
hiầu,
thương
hiầu, biểu
tượng,
khẩu
hiầu,
và phân
phối
sản phẩm,
dịch
vụ của
chủ
thương
hiầu trong
một phạm
vi
khu vực

thời
gian
nhất
định.
- Tương
tự
với kinh
doanh

bởi những
quy
định
từ
phía
chủ
thương
hiệu
- Có
thể
chế
biến
cung
cách
phục
vụ

kinh
doanh
theo
ý mình
thức
của cửa
hàng nhượng
quyền.
- Mối
quan
hệ
giữa
hai

hình khác đó là
thương
hiệu
cà phê
Gloria
Jean's
của Mỹ đã thâm
nhập
vào
thị
trường úc
bằng
con đường nhượng
quyền
phân
phối
sản
phẩm. "Doanh nhân
Peter
Irvine
sau khi
mua nhượng
quyền
sử
dụng
thương
hiệu
độc
quyền
vào năm 1996 đã

Jean's
tại
úc
lại
chú
trọng
phục
vụ khác
uống
cà phê
tại
chỗ.
Mô hình này sau đó đã được
tiếp
tục
nhân
rộng
khắp
nước úc thông qua hình
thức
bán nhượng
quyền
thương mại và
thành công đến
nỗi
các cửa
hiệu
cà phê
Gloria
Jean's

thể
cung
cấp cho khác hàng
dịch
vụ đặc thù
của
hệ
thống.
Mục đích
của
hệ
thống
chuyển
nhượng này là
cung
cấp
dịch
vụ
tới
khách hàng của hệ
thống.
Các
lĩnh
vực
của
hình
thức
chuyển
nhượng này là
rất

sử
dụng công thức kinh doanh: (hình
thức
này
được
trình bày
chủ yếu
trong
đề tài)
Đối
với
loại
hình này thì hợp đồng hợp đổng nhượng
quyền
bao
gồm
thêm
việc
chuyển
giao
kỹ
thuật kinh
doanh
và công
thức
điều
hành
quản
lý.
Các

sẽ
cung
cọp các khóa đào
tạo,
cẩm
nang
hoạt
động và
hướng
dẫn
marketing
cho
người
nhận quyền.
Như vậy
đối với
loại
hình nhượng
quyền
khá
phức tạp
này bên
nhận
quyền
sẽ áp
dụng
toàn bộ công
thức
kinh
doanh,

nhượng
quyền
phổ
biến

hiệu
quả
nhọt
hiện
nay.

thể
kế
ra
đây
rọt
nhiều
ví dụ về các trường hợp
NQTM
công
thức
kinh
doanh
như nhà hàng
phục
vụ đồ ăn
nhanh McDonald's,
KFC, nhà
nghỉ
Marriot

kinh
doanh
khác
ta

thể
căn cứ vào
4
tiêu
chí:
sử
dụng chung
thương
hiệu,
sự
giám sát,
hỗ
trợ

chuyển
giao

hình công
thức
kinh
doanh,
khoản
phí
phải
trả,

thì
người
ta
nhầm
lẫn giữa
NQTM
với
các hình
thức
này vì đôi
khi
các hình
thức
này có
việc
sử
dụng chung
thương
hiệu,
khẩu
hiểu,
nhãn
hiệu
và đôi
khi
cách
bài
trí
của
các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status