phân tích chính sách quản lý thuế thu nhập cá nhân ở việt nam - Pdf 13

Trường: Đại Học Kinh Tế Huế
Tên: Lê Thị Tú Uyên
Lớp: K44 KTNN
Mã SV: 10K4011320
Phân tích chính sách quản lý thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam
Mục Lục
I. Đặt vấn đề
II. Nội dung nghiên cứu
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách thuế
a. Cơ sở ra đời của chính sách thuế
b. Mục tiêu của chính sách thuế
2. Nội dung cơ bản của chính sách thuế
a. Đối tượng nộp thuế :
b. Thu nhập chịu thuế :
c. Thu nhập được miễn thuế :
d. Biểu thuế:
e. Giảm thuế:
3. Tình hình thực thi
4. Kết quả và hiệu quả của việc thực thi chính sách thuế
5. Hạn chế của chính sách
6. Đề xuất khắc phục
III. Kết luận
Tài liệu tham khảo:
• Giáo trình luật thuế Việt Nam của trường Đại Học Luật Hà Nội.
• Báo cáo thu thuế của thuế thu nhập cá nhân của Hà Nội.
• Các trang Web điện tử :www.gdt.gov.vn. , www.chinhphu.vn ,
tailieu.vn ,www.ift.edu.vn.

I. Đặt vấn đề
1

thuế thu nhập cá nhân nhằm tận thu cho ngân sách từ loại thuế này.
Ở nước ta hiện nay, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân
nói riêng còn nhiều hạn chế kể từ việc ban hành pháp lệnh thuế đến tổ chức
thực hiện cũng như thanh tra thuế. Nếu như chúng ta không sớm khắc phục
những hạn chế này thì khi Việt Nam gia nhập vào WTO sẽ gặp phải rât
nhiều bất lợi. Chính vì thế, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam cần phải được hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu trong xu thế hội
nhập và phát triển nhanh chóng hiện nay.
2
Mục tiêu nghiên cứu: Xuất phát từ thực tế của Việt Nam, trên giác độ
quản lý để góp phần đẩy mạnh công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân và để
chống lại nạn thất thu thuế thu nhập cá nhân và tăng ngân sách nhà nước,
nên em đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Phân tích chính sách quản lý thuế
thu nhập cá nhân ở Việt Nam”
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi của đề tài này em tập
trung nghiên cứu về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở nước ta từ
năm 1990 đến nay- chủ yếu từ năm 2007 đến năm 2010.
II. Nội dung nghiên cứu:
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách thuế:
a. Cơ sở ra đời của chính sách thuế:
Sau khi thống nhât đất nước,cùng với quá trình sự chuyển đổi về cơ cấu
kinh tế theo định hướng thị trường có sự quản lý nhà nước và chủ trương mở
cửa nền kinh tế,khuyến khích đầu tư nước ngoài,nền kinh tế đã từng bước
phát triển vững chắc,đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Trước bối
cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và những sự biến đổi lớn về điều
kiện kinh tế- xã hội của nước ta hiện nay,việc ban hành luật Thuế thu nhập
cá nhân ở nước ta là hết sức cần thiết và quan trọng về nhiều mặt,cụ thể như
sau:
Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân là thể chế hoá chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tài chính .

quyết tốt hơn các mục tiêu kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng
của đất nước.
2. Nội dung cơ bản của chính sách thuế
Đây là Luật thuế đầu tiên thể hiện sự cải cách ngay từ công tác lập pháp.
Theo đó, Luật chỉ qui định các nội dung về chính sách, việc quản lý thuế
được thống nhất thực hiện theo Luật quản lý thuế đã được Quốc hội thông
qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Luật thuế thu nhập cá nhân gồm 4
chương, 35 điều. Nội dung cơ bản của các chương như sau:
a. . Đối tượng nộp thuế :
Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế
quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam
và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật
này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
 Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương
lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt
Nam;
 Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký
thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có
thời hạn.
b. Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại sau đây:
4
 Thu nhập từ kinh doanh
 Thu nhập từ tiền lương, tiền công
 Thu nhập từ đầu tư vốn
 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
 Thu nhập từ trúng thưởng
 Thu nhập từ nhượng quyển thương mại

 Thu nhập từ học bổng
5
 Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ,
tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các
khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.
 Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ
thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận.
 Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ
thiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
d. Biểu thuế:
- Luật quy định biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập từ
kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công. Theo đó, tỷ lệ điều tiết thuế
được tăng dần từ bậc 1 đến bậc thu nhập thứ 7, với mức thuế suất áp dụng
cho thu nhập bậc 1 (bậc thấp nhất) là 5% và bậc 7 (bậc cao nhất) là 35%.
Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền
lương, tiền công của cá nhân không cư trú:

Bậc
thuế
Phần thu nhập tính
thuế/năm
(triệu đồng)
Phần thu nhập tính
thuế/tháng
(triệu đồng)
Thuế suất
(%)
1 Đến 60 Đến 5 5

Đối tượng nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm
nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng
với mức độ thiệt hại nhưng không vượt qua số thuế phải nộp
3. Tình hình thực thi
Có thể nói, công tác triển khai Luật thuế TNCN được tiến hành ngay từ đầu
năm 2008 và có nhiều sự thuận lợi.
7
Thứ nhất là sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, các
bộ, ngành, đảng bộ và chính quyền địa phương các cấp; Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Chỉ thị số 22/2008/CT-TTg ngày 15/7/2008 về việc triển
khai Luật thuế TNCN và Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 19/8/2008 thành
lập Ban chỉ đạo Trung ương triển khai thực hiện Luật thuế TNCN; các bộ,
địa phương cũng đã có quyết định thành lập Ban Chỉ đạo của bộ và địa
phương.
Thứ hai, Luật quản lý thuế đã tạo cơ sở pháp lý để cơ quan thuế tổ
chức lại bộ máy quản lý thuế TNCN, bảo đảm thực hiện có hiệu quả cơ chế
quản lý thuế đối tượng nộp thuế nhằm khuyến khích sự tuân thủ, tự nguyện
thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế. Bên cạnh đó, còn có sự phối
hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương và được
sự đồng thuận của người nộp thuế.
Thứ ba, ban hành đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn
thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân trước thời điểm Luật có hiệu lực thi
hành, như: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày
08/9/2008 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN; Bộ Tài chính
ban hành Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Thuế TNCN và hướng dẫn Nghị định số
100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ và phối hợp với các bộ,
ngành ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể một số lĩnh vực đặc thù, như:
Thông tư số 122/2008/TTLT-BTC-BQP ngày 16/12/2008, Thông tư số
123/2008/TTLT-BTC-BCA ngày 16/12/2008 hướng dẫn chế độ thu nộp thuế

trong quá trình triển khai thực hiện Luật thuế TNCN. Đối tượng Luật thuế
TNCN quản lý rộng, các thủ tục hành chính liên quan đến nhiều ngành nhiều
cấp và phần lớn dân cư lại triển khai thực hiện đồng thời với việc thực hiện
những biện pháp của Chính phủ nhằm chống suy giảm kinh tế trong đó có
việc giãn nộp một số khoản thu thuế TNCN. Trong khi đó, nhận thức của cá
nhân và những đơn vị có trách nhiệm kê khai các hồ sơ cấp mã số thuế chưa
cao; việc chưa quy định việc cấp mã số thuế cá nhân cho các cá nhân phụ
thuộc đã dẫn đến việc khó kiểm soát chính xác vấn đề giảm trừ gia cảnh cho
người phụ thuộc; sự kiểm tra kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước
còn có những hạn chế, việc phát hiện người nộp thuế kê khai sai là vấn đề
rất khó khăn. Phương thức thanh toán trong dân cư chủ yếu vẫn bằng tiền
mặt, khó có thể tạo ra cơ chế kiểm soát thu nhập cá nhân một cách chính xác
và hiệu quả. Đây luật thuế mới, đối tượng quản lý rộng nên cán bộ thuế dù
đã được tập huấn, bồi dưỡng song vẫn còn lúng túng trong việc triển khai
thực hiện; việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) đã đạt được rất nhiều
thành tựu; nhưng nhìn tổng thể vẫn chưa theo kịp được chính sách thuế
TNCN.
4. Kết quả và hiệu quả của việc thực thi chính sách thuế
Đánh giá kết quả sau ba năm thực hiện pháp luật thuế TNCN, về cơ
bản đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu khi ban hành Luật:
(i) Luật Thuế TNCN đã góp phần đảm bảo công bằng trong điều tiết
thu nhập của các tầng lớp dân cư: đã đưa cá nhân kinh doanh (trước thuộc
diện chịu thuế TNDN) vào diện nộp thuế TNCN, đảm bảo tính công bằng
9
trong điều tiết thu nhập, cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất
kì nguồn nào cũng đều được đối xử như nhau, tức là đều chịu thuế TNCN;
việc điều tiết thu nhập của cá nhân kinh doanh theo Luật thuế TNCN thực
hiện theo phương pháp luỹ tiến sẽ đảm bảo điều tiết hợp lý thu nhập dân cư.
Quy định này rất có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở Việt Nam.
(ii) Luật thuế TNCN đảm bảo động viên, khuyến khích mọi cá nhân

Số tiền thu được do bổ sung điều tiết đối với các khoản thu nhập từ
đầu tư vốn; chuyển nhượng vốn, chứng khoán; thừa kế, quà tặng (trừ bất
động sản) là:
Tiền thuế thu từ đầu tư vốn trong 3 năm là 1.946,8 tỷ đồng (năm
2009: 4,8 tỷ đồng, năm 2010: 642 tỷ đồng; năm 2011: 1.300 tỷ đồng).
Tiền thuế thu từ chuyển nhượng vốn, chứng khoán trong 3 năm là
402,4 tỷ đồng (năm 2009: 3,7 tỷ đồng; năm 2010: 188,7 tỷ đồng; năm 2011:
210 tỷ đồng).
Tiền thuế thu từ thừa kế, quà tặng (trừ bất động sản) trong 3 năm là
75,5 tỷ đồng (năm 2009: 15 tỷ đồng; năm 2010: 30,5 tỷ đồng; năm 2011: 30
tỷ đồng).

11
Hình 2: Đồ thị số thuế TNCN thu được bổ sung điều tiết đối với các
khoản thu nhập
(iv) Luật thuế TNCN đã góp phần đảm bảo huy động nguồn lực cho ngân
sách Nhà nước: tổng số thuế TNCN trong 3 năm từ các khoản thu: tiền
lương, tiền công; hộ, cá nhân kinh doanh; đầu tư vốn; chuyển nhương vốn;
chuyển nhượng, thừa kế bất động sản; trúng thưởng; bản quyền, nhượng
quyền thương mại; quà biếu, quà tặng (trừ bất động sản) và thu khác là
77.728,2 tỷ đồng

Số thu năm 2009 là 14.316 tỷ đồng, bằng 110% so với năm 2008, đạt 3,4%
tổng số thu NSNN (năm 2009 Quốc hội cho miễn thuế TNCN 6 tháng đầu
năm đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền
công, miễn thuế cả năm đối với thu nhập từ đầu tư vốn, từ chuyển nhượng
vốn). Số thu 2010 là 26.282 tỷ đồng, bằng 183,6% so với thực hiện 2009, đạt
6,1% tổng thu nội địa (khoảng 4,7% tổng thu NSNN). Số thu năm 2011 ước
37.160 tỷ đồng, bằng 141,38% so với số thu 2010, đạt khoảng 7,1% số thu
nội địa (khoảng 5,5% tổng thu NSNN). So với GDP: năm 2009 tỷ lệ huy

doanh
Chưa bao quát được hết các khoản thu nhập chịu thuế TNCN để động
viên nguồn lực vào nhân sách nhà nước như thu thuế đối với thu nhập từ
chuyển nhượng quyền mua cổ phiếu; đổi nhà, đổi đất ở; uỷ quyền bán nhà,
đất mà người uỷ quyền có quyền quyết định đoạt tài sản; đối với chuyển
nhượng thẻ hội viên sân golf
Trong quá trình thực hiện Luật, có nhiều khoản trợ cấp phát sinh
không thuộc phạm vi tiền lương, tiền công như: tiền trợ cấp tinh giản biên
chế; tiền bồi thường tại nạn lao động; trợ cấp của tổ chức kinh tế cho người
lao động và thân nhân người lao động khám, chữa bệnh hiểm nghèo nếu
không cho trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là
không hợp lý. Mức giảm trừ gia cảnh không còn phù hợp do giá cả hàng
hoá, dịch vụ tăng; việc quy định mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế
là 4 triệu đồng/tháng (bằng 3,2 lần mức lương trung bình theo lộ trình cải
13
cách tiền lương; gấp 2,5 lần mức GDP bình quân đầu người và thu nhập của
dân cư dự kiến năm 2009); mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc là 1,6
triệu đồng/tháng (bằng 40% mức giảm trừ đối với bản thân người nộp thuế).
Thực tế từ năm 2009 đến nay, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng,
suy thoái toàn cầu dẫn đến giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng cao (chỉ số CPI
năm 2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; 2011: 18.13%) làm ảnh hưởng đến
đời sống của người nộp thuế.
Biểu thuế luỹ tiến từng phần gồm 7 bậc, chưa phù hợp và khoảng cách
từng phần thu nhập tính thuế dày không đảm bảo mục tiêu đơn giản về
phương pháp tính thuế và giảm nghĩa vụ cho người nộp thuế trong tình hình
thu nhập thực tế giảm sút do chỉ số giá cả tăng cao, chưa phù hợp với xu
hướng cải cách thuế của các nước trong khu vực Đồng thời, mức thuế suất
cao nhất là 35% cao hơn mức thuế của Luật TNDN (25%), mức thu nhập
chịu thuế này thường là các cá nhân kinh doanh.
Quy định hai phương pháp tính thuế đối với thu nhập của hộ gia đình,

sản tư nhân chuyển nhượng bất động sản, hợp đồng đổi nhà, đổi đất
Quy định đánh thuế đối với lợi tức cổ phần chưa bình đẳng với lãi tiền
gửi tại tổ chức tín dụng được miễn thuế: Việc đầu tư vốn dưới hình thức cổ
phần rủi ro hơn lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng do phụ thuộc vào kết quả
kinh doanh của tổ chức kinh tế mà cá nhân góp vốn; thực tế năm 2009, 2010,
2011 lợi tức cổ phiếu được chia đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh
hầu hết đều dưới 10%/năm; trong khi lãi tiền gửi tại ngân hàng, tổ chức tín
dụng đều trả cao hơn hoặc bằng 14%/năm. Hiện nay, do suy giảm kinh tế,
thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán đóng băng, lãi tiền gửi
cao, các nhà đầu tư cá nhân dồn tiền vào gửi tại các tổ chức tín dụng.
Tại khoản 2 Điều 4 của Luật thuế TNCN quy định: miễn thuế đối với
thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở gắn với tài sản trên
đất của cá nhân chỉ có một nhà ở, đất duy nhất. Nhưng các cơ quan quản lý
nhà nước cũng không xác định được nhà ở, đất ở mà cá nhân chuyển nhượng
là duy nhất mà chủ yếu là dựa vào tờ khai thuế và cam kết của cá nhân
chuyển nhượng nhà ở, đất ở nên không tránh khỏi việc lợi dụng trốn thuế.
Tại khoản 1, khoản 4 Điều 4 Luật thuế TNCN quy định miễn thuế đối
với thu nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ
với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha
chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với
chấu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.
Nhưng không quy định miễn thuế đối với việc chuyển nhượng, thừa kế, quà
tặng là bất động sản giữa bố dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con
riêng của chồng; anh rể với em ruột của vợ; chị dâu với em ruột của chồng.
Đây là điểm bất hợp lý vì nhà ở, quyền sử dụng đất đai ở là tài sản chung
của cả hai vợ chồng, cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà. Để lách thuế vợ chồng chuyển nhượng phần bất động
15
sản của mình cho nhau sau đó mới chuyển nhượng cho con và em. Vì vậy,
làm tăng thủ tục hành chính và rất lòng vòng

quần chúng nhân dân.
Sau khi Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành, công tác thanh tra,
kiểm tra thuế có nhiều đổi mới. Thanh tra, kiểm tra chủ yếu dựa trên cơ sở
thu thập, phân tích thông tin dữ liệu liên quan đến người nộp thuế để đánh
16
giá mức độ tuân thủ, phân loại rủi ro và lập danh sách người nộp thuế phải
kiểm tra hồ sơ khai thuế. Mặc dù cơ quan thuế đã tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra chống thất thu thuế, kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở của cơ
quan thuế và nhiều trường hợp kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế. Tuy
nhiên, đây là những năm đầu tiên thực hiện Luật Thuế TNCN, có nhiều nội
dung mới trong phương pháp quản lý thuế, do tính phức tạp của thuế TNCN,
số lượng người nộp thuế quá lớn, nên việc tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm
tra về thuế TNCN chưa được thực hiện đầy đủ, thường xuyên.
Sau 3 năm đi vào cuộc sống, Luật Thuế TNCN đã bộc lộ một số bất
cập và chưa theo kịp diễn biến phức tạp của thị trường, tạo tâm lý không
thoải mái đối với một bộ phận người nộp thuế. Nghị quyết số 07/2011/QH13
của Quốc hội thông đã qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm
2012; Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1681/QĐ-TTg ngày
27/9/2011 về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh
thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và các dự án luật,
pháp lệnh được điều chỉnh trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm
2011 của Quốc hội; theo đó, Bộ Tài chính được phân công chủ trì xây dựng
dự án Luật Thuế TNCN. Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thuế TNCN lần này:
Đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập, động viên một cách hợp
lý thu nhập dân cư công bằng, góp phần ổn định, nâng cao đời sống của
người nộp thuế, khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh
doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng.
Chỉ sửa đổi, bổ sung những nội dung bất cập so với thực tế, bảo đảm
tính thống nhất của hệ thống pháp luật và có tính ổn định; việc sửa đổi đảo

suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoántrong trường hợp thị
trường chứng khoán có biến động lớn (quy định tại Điều 13, khoản 2 Điều
23 Luật thuế TNCN).
Sửa đổi quy định về quyết toán thuế và các nội dung quy định về quản
lý thuế (Điều 24 Luật thuế TNCN) để thuận lợi cho người nộp thuế và giảm
khối lượng phải quyết toán thuế không cần thiết, theo hướng cá nhân có thu
nhập chịu thuế có trách nhiệm kê khai, khấu trừ, nộp thuế vào NSNN và
quyết toán thuế theo quy định của Chính phủ.
6. Đề xuất khắc phục
Trong khi chờ Luật Thuế TNCN sửa đổi, bổ sung, để nâng cao hiệu
quả quản lý thu thuế TNCN cần tiếp tục thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến Luật Thuế TNCN
nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, ý thức tuân thủ của người nộp thuế (đa
dạng hóa hình thức và phương pháp tuyên truyền); định kỳ tổ chức điều tra
trắc nghiệm, hội thảo, hội thi đối với người nộp thuế, cán bộ thu thuế đánh
giá mức độ hiểu biết về pháp luật thuế TNCN, nắm bắt được ý kiến nguyện
vọng của dân; xây dựng cơ chế tiếp thu ý kiến, thông tin phản hồi từ người
18
nộp thuế một cách phù hợp; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên
môn, nghiệp vụ thuế TNCN và kỹ thuật tuyên truyền cho các tuyên truyền
viên để họ làm tròn nhiệm vụ của một tuyên truyền viên tốt.
Hai là, kiện toàn tổ chức bộ máy thuế, chú trọng việc bồi dưỡng nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành thuế song song với việc tăng
cường cơ sở vật chất cho ngành thuế theo hướng hiện đại hóa công tác quản
lý thuế.
Ba là, đẩy mạnh hơn nữa việc đăng ký và cấp mã số thuế cá nhân, tiến
tới mỗi công dân đều có một mã số để theo dõi quản lý, không phân biệt có
thu nhập chịu thuế hay không có thu nhập chịu thuế. Chú trọng công tác
hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức hệ thống thông tin dịch vụ kế toán, kê khai và
tính thuế. Đồng thời, có lộ trình triển khai thực hiện phù hợp, từng bước từ

đạt được mục tiêu thu đúng, thu đủ thuế TNCN cho ngân sách Nhà nước./.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status