Báo cáo tổng hợp tình hình thu hút, vận động và thực hiện
các chương trình dự án oda năm 2009 (BỘ TÀI CHÍNH)
BÁO CÁO TỔNG HỢP
TÌNH HÌNH THU HÚT, VẬN ĐỘNG VÀ THỰC HIỆN
CÁC CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN ODA CỦA BỘ TÀI CHÍNH NĂM 2009
I. Tình hình vận động ODA năm 2009:
1. Tình hình thẩm định và phê duyệt:
Số chương trình, dự án đã được phê duyệt: Trong năm 2009, Bộ Tài chính đã tiến hành thẩm định và
phê duyệt tổng số 06 chương trình, dự án ODA. Trong đó có 02 dự án sử dụng vốn ODA vay và 04 dự
án sử dụng ODA không hoàn lại.
Khác với các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA của các năm trước, năm 2009 Bộ Tài chính đã tiếp
nhận và triển khai 02 dự án sử dụng vốn vay ODA theo hình thức Chính phủ đứng ra đi vay và cho các
doanh nghiệp và các địa phương vay lại nhằm thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các địa
phương, cơ cấu các khoản nợ của doanh nghiệp và thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp. Đây là loại hình
dự án mới chưa có hướng dẫn chung của Chính phủ nên việc thẩm định và phê duyệt đối với 02 dự an
này gặp nhiều khó khăn và vướng mắc.
(Phụ đính 4.1: Danh mục các chương trình, dự án ODA phê duyệt năm 2009)
2. Tình hình đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế cụ thể về ODA:
- Việc đám phán, ký kết các điều ước quốc tế về các khoản ODA trong năm 2009 đã được Bộ Tài chính
thực hiện theo quy định hiện hành.
- Tổng giá trị vốn ODA của các điều ước quốc tế cụ thể về ODA đã ký kết là:
+ Triệu USD: 210,56
+ Quy đổi ra VNĐ: 3.577 tỷ VNĐ
(Phụ đính 4.2: Báo cáo về ký kết các chương trình, dự án đã ký kết năm 2009)
Biểu đồ dưới đây so sánh nguồn ODA cho Bộ Tài chính được huy động trong giai đoạn 2001-2009, bao
gồm cả ODA không hoàn lại và ODA vay.
Biểu đồ 1: Nguồn vốn ODA giai đoạn 2001 – 2009
(Không bao gồm nguồn ODA vay để cho vay lại của năm 2009)
II. Tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA năm 2009
+ Tổng giải ngân:
Vốn ODA: 226.477 triệu VNĐ (tương đương 13,3 triệu USD)
Vốn đối ứng: 25.993 triệu VNĐ (tương đương 1,5 triệu USD)
+ Tỷ lệ giải ngân năm 2009 (cả 02 nguồn vốn): 59%
(Phụ đính4.3: Báo cáo tiến độ giải ngân quý 4 năm 2009)
Đánh giá tình hình giải ngân năm 2009:
Tỷ lệ giải ngân chung của các chương trình, dự án của Bộ Tài chính năm 2009 (của cả hai nguồn: vốn
ODA + vốn đối ứng) đạt mức trung bình khá 59% (nằm trong dải từ 40% - 60%). Tuy nhiên, tỷ lệ giải
ngân không đồng đều giữa các nhóm dự án:
- Nhóm 04 dự án sử dụng vốn vay của WB (dự án HĐH quản lý thuế - TAMP; dự án HĐH Hải quan –
VCM; dự án Cải cách quản lý tài chính công – PFMRP, dự án Quỹ đầu tư phát triển địa phương - LDIFs):
Biểu đồ dưới đây cho thấy tỷ lệ giải ngân nguồn ODA thực tế thấp hơn rất nhiều so với kế hoạch. Tỷ lệ
giải ngân nguồn vốn ODA lần lượt của các dự án là: PFMRP đạt 53,19%, LDIDs đạt 1,53%, VCM đạt
12,5%, TAMP đạt 3,27%.
- Nhóm các dự án HTKT sử dụng vốn ODA không hoàn lại: Biểu đồ dưới đây mô tả giải ngân nguồn
ODA thực tế so với kế hoạch năm 2009. Biểu đồ cho thấy thực tế giải ngân của các dự án HTKT đạt
mức tốt so với kế hoạch (đường thực tế rất gần với đường kế hoạch).
(Phụ đính 4.3: Tổng hợp giải ngây Quý 4 năm 2009 và Báo cáo kết quả giải ngân năm 2009)
3. Các đầu ra chủ yếu:
Trong năm 2009, các chương trình, dự án đã tiếp tục hỗ trợ tích cực cho Bộ Tài chính thực hiện các
nhiệm vụ và mục tiêu cải cách của ngành đã đề ra, cụ thể các kết quả chính đã đạt được theo từng lĩnh
vực như sau:
a. Lĩnh vực quản lý chi :
- Dự thảo Luật NSNN sửa đổi được hoàn thiện bước đầu và đã trình Chính phủ theo đúng tiến
độ thời gian quy định. Tuy nhiên, sau khi xem xét Chính phủ đã báo cáo Quốc hội cho lùi thời gian trình
dự án Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi và đề nghị có thời gian để nghiên cứu sửa đổi Luật một cách cơ
bản và toàn diện hơn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và quản lý tài chính – ngân sách trong
giai đoạn mới.
- Đã hoàn thành việc Ban hành và tập huấn chế độ kế toán áp dụng cho các đơn vị thí điểm
- Để hoàn thiện dần công tác quản lý nợ công, các dự án đã và đang hỗ trợ thực hiện thông nhất
việc quản lý nợ công trong và ngoài nước, ghi chép và quản lý nợ công trong một kho dữ liêu chung, xây
dựng và phát triển hệ thống thông tin về quản lý nợ công. Hợp phần 3 Dự án Tài chính công đang triển
khai mua sắm phần mềm để thực hiện các nộ dung/ mục tiêu này.
d. Lĩnh vực quản lý doanh nghiệp
Trong năm 2009, Bộ Tài chính đã hoàn tất việc chuẩn bị cho dự án cải cách DNNN và quản trị
công ty. Khi đi vào thực hiện, dự án này sẽ cung cấp tín dụng cho các Tập đoàn, Tổng công ty cải thiện
tình hình tài chính, tái cấu trúc doanh nghiệp, đổi mới quy trình hoạt động hoặc quản lý/ đổi mới thể chế
nhằm nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của các DNNN.
e. Lĩnh vực quản lý công sản
Đã hỗ trợ Bộ Tài chính xây dựng Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 3/6/2009 hướng dẫn một số
nội dung của Luật quản lý tài sản nhà nước, hiện dự thảo thông tư hướng dẫn Nghị định 52 và hiện đang
được trình Bộ Tài chính phê duyệt. Đồng thời, Bộ tài chính đã tổ chức các hội thảo, tập huấn Luật và
Nghị định và tổ chức xin ý kiến về khu hành chính tập trung mẫu.
f. Lĩnh vực quản lý giá
Đã hoàn tất việc việc xây dựng và ban hành Thông tư số 100/2009/TT-BTC về khung giá tiêu thụ
nước sinh hoạt.
g. Lĩnh vực thị trường vốn, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán, chính sách tài chính, thanh tra
tài chính
- Trung tâm nghiên cứu và đào tạo bảo hiểm thuộc Bộ Tài chính đã được ra đời và đi vào hoạt
động;
- Đã hoàn thành báo cáo đánh giá Luật chứng khoán và một số văn bản pháp quy điều chỉnh thị
trường chứng khoán; xây dựng lộ trình sửa đổi khung pháp lý hiện nay và ban hành các văn bản pháp
quy mới, báo cáo rà soát các quy định pháp lý đối với chào bán chứng khoán ra công chúng và qui trình
thực hiện, báo cáo nghiên cứu khả thi thực hiện hệ thống IT hỗ trợ công tác giám sát thị trường tại
UBCKNN; Tiếp tục tăng cường năng lực, chuyển giao kiến thức trong lĩnh vực chứng khoán và kỹ năng
giảng dạy cho đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm của UBCKNN;
- Đã chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về phân cấp thanh tra tài chính, tổ chức hệ thống công nghệ
thông tin cho thanh tra tài chính v.v
- Đã nghiên cứu mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; cung cấp tư vấn về hệ thống
- Tính chủ động của các chủ dự án chưa cao, việc định hướng triển khai đôi khi còn lúng túng.
- Quá trình triển khai các gói thầu chậm do lúng túng trong việc xây dựng đầu bài, xác định
nhiệm vụ cho từng gói thầu.
- Chưa có hướng dẫn chung của Chính phủ trong việc thẩm định, phê duyệt và triển khai đối với
loại hình dự án mới mà Bộ Tài chính đáng chủ trì triển khai theo cách thức Chính phủ đứng ra đi vay và
cho các doanh nghiệp và các địa phương vay lại nhằm thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các
địa phương, cơ cấu các khoản nợ của doanh nghiệp và thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp.
- Công tác chấp hành báo cáo theo quy định của Chính phủ của các chương trình, dự án còn
thấp. Báo cáo thường nộp chậm, thiếu thông tin, dẫn đến khó khăn trong công tác theo dõi, đánh giá của
Bộ Tài chính.
Các vướng mắc do nguyên nhân khách quan:
- Đối với các chương trình, dự án sử dụng ODA vay thì các cấu phần chính của dự án là mua
sắm hệ thống công nghệ thông tin (IT) và các Thiết bị nghiệp vụ, chiếm khoảng 80% tổng kinh phí tài trợ
của dự án, trong khi vấn đề tuyển chọn tư vấn kỹ thuật cho các cấu phần này cũng đang bị vướng mắc,
quá trình tuyển chọn thường khó khăn do khan hiếm nguồn chuyên gia tư vấn có chất lượng và phù hợp.
- Các gói thầu khi tiến hành đấu thầu xong phải điều chỉnh giá gói thầu (do trượt giá hoặc do ước
lượng giá trong dự án HTKT chưa sát).
- Qui trình thủ tục của Chính phủ Việt Nam và của nhà tài trợ còn nhiều khác nhau nên còn vênh
nhau trong thực hiện các hoạt động.
- Vai trò điều hành và tính tự chủ của Việt Nam trong một số các dự án HTKT còn thấp. Đặc biệt
là đối với các dự án HTKT của ADB, Nhật Bản và một số các nhà tài trợ song phương khác.
- Tính chất hợp tác và chất lượng tư vấn của Trưởng nhóm Dự án (Task Team Leader) của một
số chương trình, dự án còn thấp, đặc biệt là đối với các dự án sử dụng vốn vay của WB (dự án Hiện đại
hoá hải quan và dự án Hiện đại hoá quản lý thuế).
b) Các biện pháp giải quyết đã thực hiện:
- Bộ Tài chính đã xây dựng và ban hành Quy chế quản lý và thực hiện các chương trình, dự án
của Bộ Tài chính có sử dụng tài trợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Quyết định số 1969/QĐ-BTC ngày
10/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).
- Các chủ dự án đã chủ động trong việc đề nghị Ngân hàng thế giới tích cực hỗ trợ trong việc tìm
kiếm nguồn chuyên gia, tư vấn quốc tế.
Nguyễn Vân Chi