Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng tập hệ thống hoá các vụ án điển hình dùng làm tài liệu cho công tác đào tạo các chức danh tư pháp - Pdf 13

bộ t pháp

báo cáo phúc trình

đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ

CƠ Sở Lý LUậN Và THựC TIễN XÂY DựNG
TậP Hệ THốNG HOá CáC Vụ áN ĐIểN HìNH
DùNG LàM TàI LIệU CHO CÔNG TáC ĐàO TạO
CáC CHứC DANH TƯ PHáP
Chủ nhiệm đề tài: TS. PHAN HữU THƯ
9. TS. Nguyễn Thành Trì - Trởng phòng Đào tạo, Học viện T pháp
10. ThS. Đinh Văn Quế - Chánh tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao.

1
lời nói đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo, bồi dỡng kỹ năng nghề nghiệp cho các cán bộ có chức danh
t pháp là một trong các biện pháp quan trọng góp phần xây dựng đội ngũ cán
bộ t pháp trong sạch, vững mạnh. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2 tháng 01
năm 2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ơng Đảng Cộng sản Việt
Nam về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t pháp trong thời gian tới đã chỉ
rõ: "Công tác cán bộ của các cơ quan t pháp cha đáp ứng đợc yêu cầu của
tình hình hiện nay. Đội ngũ cán bộ t pháp còn thiếu về số lợng, yếu về trình
độ và năng lực nghiệp vụ; một bộ phận tiêu cực, thiếu trách nhiệm, thiếu bản
lĩnh, sa sút về phẩm chất đạo đức. Đây là vấn đề nghiêm trọng làm ảnh hởng
đến kỷ cơng, pháp luật, giảm hiệu lực của bộ máy nhà nớc. Để khắc phục
tình trạng nói trên, Nghị quyết đã khẳng định tầm quan trọng của nhiệm vụ
xây dựng đội ngũ cán bộ t pháp trong sạch, vững mạnh trong đó chú trọng tới
công tác đào tạo, bồi dỡng kỹ năng nghề nghiệp t pháp theo các chức danh.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lợc Cải
cách t pháp đến năm 2020 tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của nhiệm vụ
xây dựng đội ngũ cán bộ t pháp và bổ trợ t pháp trong sạch, vững mạnh với
việc tiếp tục đổi mới nội dung, phơng pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán
bộ nguồn của các chức danh t pháp, bổ trợ t pháp; bồi dỡng cán bộ t
pháp, bổ trợ t pháp theo hớng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp
luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm
chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Học viện T pháp (tiền thân là Trờng Đào tạo các chức danh t

tiết, sự kiện trong hồ sơ nhng các giáo viên khác nhau khi lên lớp có cách
đánh giá không giống nhau.
Mặt khác, trong khoa học pháp lý nớc ta, các vấn đề liên quan đến các
vụ án điển hình (án lệ), giá trị của chúng đối với thực tiễn xét xử, đối với việc
hoàn thiện và áp dụng thống nhất pháp luật cũng nh đối với hoạt động đào
tạo các chức danh t pháp (nh Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật s) còn khá
mới mẻ. Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung

3
ơng Đảng Cộng sản Việt Nam về Chiến lợc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hớng đến năm 2020 cũng đã
đặt vấn đề nghiên cứu vai trò của án lệ. Thực tế đó đặt ra nhu cầu phải nghiên
cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Tập hệ thống hoá các vụ án điển
hình dùng làm nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy và học tập
trong các khoá đào tạo, bồi dỡng nguồn bổ nhiệm CCDTP. Trong bối cảnh
nhiều vấn đề liên quan đến án lệ còn cha đợc nghiên cứu thấu đáo về khoa
học thì việc thực hiện đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ giá trị lý luận và thực
tiễn của án lệ trong đời sống pháp lý, nhất là trong hoạt động đào tạo cán bộ
pháp luật phục vụ công cuộc cải cách t pháp ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, các vấn đề liên quan đến án lệ đã đợc đề cập trong nhiều
công trình nghiên cứu. Việc tập hợp và ban hành án lệ trở thành công việc
thờng xuyên và có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động lập pháp cũng nh
hành pháp của nhiều quốc gia. Hệ thống pháp luật của Việt Nam trớc đây
chịu nhiều ảnh hởng của hệ thống luật xã hội chủ nghĩa mà chủ yếu là của
Liên-xô (cũ). Trong thời kỳ này, vai trò của án lệ không đợc đề cao. Trong
bớc quá độ sang kinh tế thị trờng, định hớng xã hội chủ nghĩa, hệ thống
pháp luật của Việt Nam cũng có nhiều thay đổi. Hoạt động xây dựng pháp
luật và áp dụng pháp luật đã bắt đầu đề cao giá trị của những vụ án đã đợc
xét xử trong thực tế. Việc nghiên cứu làm rõ kinh nghiệm nớc ngoài về sử

Trong thời gian qua, các cơ sở đào tạo pháp luật cơ bản (nh: Trờng
Đại học Luật Hà Nội; Trờng Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Khoa
Luật Đại học Quốc gia Hà Nội) và các cơ sở đào tạo, bồi dỡng kỹ năng nghề
nghiệp cho các chức danh t pháp (nh Trờng Cao đẳng Kiểm sát, Trờng
Bồi dỡng cán bộ Tòa án, Trờng Đào tạo các chức danh t pháp mà nay là
Học viện T pháp) đã đào tạo, bồi dỡng đợc một số lợng lớn cán bộ pháp
luật cho đất nớc. Phụ thuộc vào đối t
ợng đào tạo, mục đích, yêu cầu của
hoạt động đào tạo mà các cơ sở này sử dụng các phơng pháp đào tạo, hệ
thống giáo trình, tài liệu khác nhau. Trong hệ thống tài liệu học tập, các cơ sở
đã cố gắng biên tập lại các hồ sơ vụ án đã đợc xét xử trong thực tế để làm tài
liệu giảng dạy và học tập. Nhiều giảng viên trong các cơ sở đào tạo pháp luật
cơ bản và đào tạo nghề cũng đã khái thác các tình tiết trong những vụ án đã

5
đợc xét xử trong thực tiễn để xây dựng các tình huống s phạm. Tuy vậy,
mức độ sử dụng các hồ sơ vụ án này còn rất hạn chế. Học viện T pháp mà
tiền thân là Trờng Đào tạo các chức danh t pháp là cơ sở đầu tiên sử dụng
rộng rãi hồ sơ vụ án đã đợc xét xử trong thực tiễn để làm nguồn tài liệu cho
việc trang bị kỹ năng nghề nghiệp cho học viên. Tuy vậy, các vấn đề liên quan
đến vụ án điển hình, nhất là việc xây dựng các vụ án điển hình và sử dụng
chúng làm nguồn tài liệu phục vụ hoạt động đào tạo nguồn bổ nhiệm Thẩm
phán, Kiểm sát viên, Luật s, Chấp hành viên, Công chứng viên và một số
chức danh t pháp khác cha đợc nghiên cứu một cách hệ thống và thấu đáo.
Đề tài Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Tập hệ thống hoá các vụ án
điển hình dùng làm tài liệu cho công tác đào tạo các chức danh t pháp là
công trình đầu tiên ở cấp độ đề tài cấp bộ đề cập tới vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra mục đích nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực
tiễn các vụ án điển hình, vai trò của các vụ án điển hình đối với công tác đào

và sử dụng làm tài liệu cho công tác đào tạo CCDTP ở Việt Nam.
Để giải quyết các nhiệm vụ đề tài đặt ra, nhóm nghiên cứu đã sử dụng
các phơng pháp nghiên cứu khoa học cụ thể nh phơng pháp phân tích, tổng
hợp, luật học so sánh, khảo sát thực tiễn.
5. Những đóng góp mới của công trình nghiên cứu
Công trình nghiên cứu đã có các đóng góp mới sau đây:
- Chỉ ra bản chất của án lệ; điều kiện hình thành án lệ và vai trò của án
lệ trong hoạt động xét xử của các nớc trên thế giới, nhất là các nớc điển
hình cho các truyền thống pháp luật và các nớc có điều kiện kinh tế-xã hội
có nhiều nét tơng đồng với Việt Nam;
- Khẳng định vai trò quan trọng của các vụ án điển hình đối với thực
tiễn hoạt động t pháp ở nớc ta; đánh giá vai trò của các vụ án điển hình đối
với công tác đào tạo CCDTP ở Việt Nam;

7
- Đánh giá toàn diện và sâu sắc thực trạng hoạt động đào tạo CCDTP
cũng nh thực trạng sử dụng hồ sơ các vụ án trong việc thực hiện chơng trình
đào tạo nguồn bổ nhiệm CCDTP ở Việt Nam;
- Xây dựng đợc quy trình biên tập các vụ án điển hình để xuất bản
thành Tập hệ thống hoá các vụ án điển hình phục vụ cho công tác đào tạo
CCDTP và cho các đối tợng quan tâm khác.
6. Địa chỉ áp dụng kết quả nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu đã đạt đợc có giá trị tham khảo cho việc biên
tập các vụ án dùng làm tài liệu cho công tác đào tạo nguồn bổ nhiệm CCDTP
mà trớc hết là các chức danh Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật s cũng nh
việc biên tập để xuất bản định kỳ Tập hệ thống hoá các vụ án đã đợc xét xử
trong thực tế, phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, xây dựng pháp luật và áp
dụng pháp luật.
7. Kết cấu của Báo cáo phúc trình kết quả nghiên cứu
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, Báo cáo phúc trình đề tài nghiên cứu

*Sự ra đời của án lệ:
Vào thế kỷ thứ 12, tại Anh, lần đầu tiên các Toà án Hoàng gia của Nhà
Vua đợc thành lập bên cạnh Hội đồng Nhà vua và các Toà án này khi xét xử
đã áp dụng những tập quán thông dụng đối với toàn bộ đất nớc chứ không áp
dụng tập quán của một địa phơng nào đó nh Toà án địa phơng áp dụng, do
đó luật pháp áp dụng khi xét xử là luật tập tục thông dụng và từ đó, khái niệm
thông pháp (Common Law) ra đời.
Sau đó các Thẩm phán khi xét xử phải có nghĩa vụ ra các phán quyết
mang tính nhất quán với các phán quyết trớc đó của Toà án Hoàng gia.
Nguyên tắc này đợc gọi là stare decisis
1
. Nguyên tắc này yêu cầu Thẩm phán 1
Tiếng latin có nghĩa là tuân thủ những vụ án đã đợc giải quyết ( to abide by, to adhere to, decided
cases xem Black Law Dictionary West Group 6 Edition.

9
phải dựa theo các phán quyết trớc đây khi xét xử các vụ án có những tình tiết
tơng đồng. Mặt khác, nguyên tắc này cũng giúp các Thẩm phán đa ra những
phán quyết đối với những vụ án phức tạp khi không có cơ sở pháp lý rõ ràng.
Trong những trờng hợp đó, Thẩm phán thờng trích dẫn những phán quyết
trớc đây đối với những vụ án tơng tự.
Đến thế kỷ 17, khi trào lu Luật La-mã xâm nhập châu Âu thì Common
Law gặp khó khăn để khẳng định sự tồn tại của mình. Nhà Vua muốn áp dụng
pháp luật thành văn mà nguồn gốc là Luật La-mã để dễ kiểm soát chặt chẽ
hơn việc xét xử của Thẩm phán, nhng Nghị viện thì lại mong muốn duy trì
Common Law, vì có nh vậy thì vị trí của các Thẩm phán mới đợc tôn trọng
và khó bị Nhà vua kiểm soát. Kết cục là Nghị viện đã thắng trong cuộc tranh

(iv) Các toà án có thể tham khảo nhng không buộc phải tuân theo án lệ
của các toà án không cùng hệ thống pháp luật với mình nhng có những mối
quan hệ theo truyền thống, thí dụ toà án của các nớc trong Khối Liên hiệp
Anh thờng tham khảo án lệ của nhau và của Hoa Kì. Một số án lệ đã đợc
thừa nhận chung và đợc áp dụng trong nhiều nớc theo truyền thống
Common Law;
(v) Khi có đạo luật thành văn thì đạo luật thành văn có giá trị cao hơn
án lệ, tuy nhiên trong trờng hợp luật thành văn không rõ ràng thì án lệ đợc
coi là một trong những cơ sở quan trọng để giải thích những quy định thành
văn không rõ ràng đó;
(vi) Toà án không áp dụng án lệ chỉ trong trờng hợp chỉ ra đợc sự
khác biệt cơ bản về dữ kiện giữa án lệ và vụ án đang xét xử.
Mặc dù không quy định về sự ảnh hởng bắt buộc của án lệ đối với tổ
chức ngoài Toà án nhng trên thực tế, án lệ đã đợc các cơ quan, tổ chức và
công dân rất tôn trọng và có thể nói nhiều khi nó đợc coi có giá trị nh là đạo
luật thành văn, đặc biệt là đối với những vụ án liên quan đến giải thích hiến
pháp. Khi cơ quan lập pháp không hài lòng với án lệ thì cơ quan lập pháp có
thể thông qua đạo luật điều chỉnh mối quan hệ đợc giải quyết bởi án lệ. Điều
đó có nghĩa án lệ có thể bị phủ quyết (Overruled) bởi cơ quan lập pháp. Tuy
nhiên, ở những nớc Toà án có chức năng xem xét tính hợp hiến của luật pháp
thì Toà án có thể ra phán quyết về việc đạo luật đó không phù hợp với Hiến
pháp. Các cơ quan lập pháp ở nhiều nớc theo hệ thống có xu hớng ngày

11
càng ban hành nhiều đạo luật thành văn để hạn chế bớt sự tùy tiện của các
quan toà.
*Vai trò của án lệ trong hoạt động xét xử của Toà án:
Theo Giáo s Luật học William Geldart thì việc áp dụng nguyên tắc xét
xử theo án lệ (Stare Decisis) có những u điểm sau đây:
- Việc xét xử mang tính rõ ràng, xác định trớc (Certanity);

đối với hoạt động t pháp.
Nhng ngay trong hệ thống các nớc theo truyền thống luật dân sự thì
việc áp dụng án lệ ở các nớc cũng rất khác nhau:
(i) áp dụng án lệ ở Cộng hoà Pháp:
Thực tiễn xét xử trớc khi có Bộ luật dân sự năm 1804 cho phép Thẩm
phán Pháp đa ra những phán quyết mang tính hớng dẫn chung
3
nhng với
sự ra đời của Bộ luật dân sự thì thực tế đó đã bị bãi bỏ. Theo Điều 5 Bộ luật
Dân sự Pháp thì các Thẩm phán khi giải quyết vụ án không đợc phép đa ra
những quy định mang tính hớng dẫn chung. Điều đó có thể hiểu rằng những
phán quyết của Toà án Pháp phải mang tính cụ thể áp dụng cho chính vụ án
đó và không có ý nghĩa dẫn chiếu cho các vụ án khác. Ngay cả Toà Phá án
(the Cour de Casation) cũng không đợc phép giải thích pháp luật.
Những phán quyết của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đợc coi là án
lệ
4
(le jurisprudence). Tuy án lệ không phải là nguồn luật (đây là một nguyên
tắc mang tính hiến định ở Pháp) nhng trên thực tế, án lệ có vai trò khá quan
trọng. Thực tiễn xét xử cho thấy le jurisprudence của Toà Phá án Pháp thông
thờng đợc các Toà án các cấp tuân thủ mặc dù không có điều luật cụ thể
nào quy định nghĩa vụ của họ phải chấp hành. Khi áp dụng tinh thần của
những phán quyết trớc đây khi xét xử vụ án cụ thể có tình tiết tơng tự, Toà
3
Xem André Pouille, Le Pouvoir Judiciare et Les Tribnaux 11, 20 (1984)
4
Tạm gọi là án lệ để tiện so sánh, chứ thực chất ở các nớc theo hệ thống pháp luật dân sự thì không có

6
.
(ii) áp dụng án lệ ở Cộng hoà Liên bang Đức:
5
Barry Nhicholas, French law of contract 14-16 (1982)

6
Henri et Leon Mazeaud, Jean Mazeaud & Francois Chabas, Leons de droit civil 102, 133 (Francois Chabas
9
th
ed. 1989).

14
Cũng nh Pháp, án lệ của các Toà án Đức không phải là nguồn luật áp
dụng đối với các Toà án cấp dới. Ngay cả đối với Toà án cùng cấp thì về lý
thuyết một Toà án có thể đa ra quan điểm pháp lý hoàn toàn khác khi giải
quyết vụ án cụ thể so với quan điểm đã đa ra trong vụ án đã giải quyết trớc
đây
7
. Không Toà án nào có nghĩa vụ phải tuân thủ phán quyết trớc đây của
Toà án cùng cấp hoặc của Toà án cấp trên, hoặc của chính mình. Hay nói cách
khác, án lệ đã không có hiệu lực pháp lý bắt buộc ở Đức. Khoản 3 Điều 20
Luật Cơ bản (Hiến pháp) của Cộng hoà Liên bang Đức quy định: Thẩm phán
có nghĩa vụ xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định nêu trên vẫn có một số ngoại lệ,
thể hiện qua các trờng hợp cụ thể sau:
Thứ nhất: Các quyết định của Toà án Hiến pháp Liên bang về tính hợp

làm việc nh vậy Toà án tối cao Đức bảo đảm việc thống nhất trong áp dụng
và giải thích pháp luật bởi Toà án tối cao, tránh tình trạng cùng một vụ việc
mà các Toà trong Toà án tối cao giải thích, áp dụng pháp luật một cách khác
nhau.
Thứ t: Các bản án, quyết định của Toà án cấp trên có những ảnh hởng
rất lớn trên thực tế đối với các Toà án cấp dới. Nếu có sự xung đột về áp
dụng pháp luật giữa Toà án cấp trên và Toà án cấp dới thì thế nào Toà án cấp
trên cũng thắng bởi lẽ, cuối cùng thì Toà án cấp trên sẽ phán xét lại vụ án
một lần nữa. Các quyết định mang tính áp dụng pháp luật của Toà án cấp trên
thông thờng có tính thuyết phục đối với Toà án cấp dới còn bởi lẽ các Thẩm
phán Toà án cấp trên thờng có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao hơn. Vì
những lý do nh vậy mà xét về yếu tố tâm lý, Thẩm phán của các Toà án cấp
dới thờng có xu hớng tuân thủ những án lệ của Toà án cấp trên trong khi
giải quyết các vụ án cụ thể có những tình huống tơng tự.
(iii) áp dụng án lệ ở Tây Ban Nha:
Trớc cuộc Cách mạng Pháp, Toà án ở Tây Ban Nha đã từng áp dụng án
lệ trong công tác xét xử. Mặc dù chịu sự ảnh hởng của Cách mạng Pháp với
thuyết tam quyền phân lập nhng Toà án Tây Ban Nha vẫn tiếp tục áp dụng án
lệ để bổ sung cho luật pháp đợc quy định thành văn, tập quán và luật tục.
Theo Điều 1 Bộ luật Dân sự của Tây Ban Nha thì các nguồn luật bao gồm: 1/
Các đạo luật thành văn (leyes); 2/ Tập quán; 3/ Những nguyên tắc cơ bản của
pháp luật (principios generales del derecho).

16
Tuy là quốc gia theo truyền thống luật thành văn nhng Tây Ban Nha
vẫn thừa nhận vai trò của án lệ (la doctrina legal8) đối với hoạt động xét xử
của Toà án. Thực tiễn xét xử đã cho thấy Toà án tối cao (Tribunal Supremo)
Tây Ban Nha đã kháng nghị bản án phúc thẩm vì đã không tuân thủ la
doctrina legal đợc đa ra tại một bản án giám đốc thẩm trớc đó 9.
Việc hình thành án lệ và áp dụng án lệ ở Tây Ban Nha có những đặc

10
Xem L. Neville Brown, The Sources of Spanish Civil Law, 5 International and Comparative Law Quarterly
364, 366-69 (1956) 17
Đại đa số các nớc châu Mỹ-latinh theo truyền thống pháp luật dân sự.
Do đó, về mặt lý thuyết, án lệ không đợc coi là nguồn luật. Tuy nhiên, cũng
nh Pháp, Đức, Tây Ban Nha, ở các nớc châu Mỹ-latinh, án lệ cũng có vai
trò nhất định đối với hoạt động xét xử của Toà án, mà Mexico là một ví dụ
điển hình.
Theo quy định của Hiến pháp Mexico thì án lệ (jurisprudencia
11
) đợc
coi là một trong những nguồn luật áp dụng ở Mexico. Tuy nhiên, đa số các
học giả và ngay chính Toà án tối cao Mexico cũng thừa nhận rằng không nên
coi jurisprudencia có địa vị nh các văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp
ban hành. Những phán quyết của Toà án tối cao Mexico chỉ có thể nhằm giải
thích Hiến pháp và pháp luật hiện hành. Lịch sử phát triển jurisprudencia cho
thấy xét từ khía cạnh thực tế thì jurisprudencia đã đợc coi là một công cụ
hữu hiệu để làm rõ hơn những quy định còn cha rõ ràng của Hiến pháp và
pháp luật, và đã lấp đi đợc những khoảng trống của pháp luật.
Việc hình thành án lệ và áp dụng án lệ ở Mexico có một số điểm đáng
lu ý nh sau:
- Không phải tất cả các bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án các
cấp đều đợc coi là án lệ. Chỉ các bản án, quyết định của Toà án tối cao tại
phiên họp toàn thể (the Supreme Court en banc) hay của các Toà trong Toà án
tối cao, hoặc của Toà án tập thể khu vực (collegial circuit tribunals) mới có
thể đợc coi là án lệ mà thôi;
- án lệ chỉ đợc hình thành sau khi có ít nhất là 5 bản án, quyết định

quyết định của Toà án tối cao Mexico lấy án lệ làm căn cứ pháp lý, thì năm
1990 con số đó đã tăng lên 18% và đến năm 1968 là 51%.
(v) áp dụng án lệ ở Nhật Bản:
Khái niệm án lệ lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào năm 1917 khi
một học giả trẻ tuổi - giáo s Shigeto Hozumi (1883-1957) của Trờng Đại
học Imperial Tokyo, sau khi tu nghiệp ở Anh quốc trở về đã có một bài viết
phê phán một phán quyết của Toà án tối cao Nhật Bản đã không tuân thủ theo
án lệ trớc đây của mình và đa ra những luận điểm của mình về vị trí và vai
trò của án lệ. Năm 1920, một giáo s khác tên là Izutaro Suehiro sau khi tu
nghiệp ở Đại học Luật Chi-ca-go (Hoa Kỳ) trở về nớc cũng có những bài viết
ủng hộ ý tởng nên cân nhắc kỹ lỡng án lệ khi xét xử vụ án. Sau đó, ảnh 12
Xem RICHARD D. BAKER, JUDICIAL REVIEW IN MEXICO: A STUDY OF THE AMPARO SUIT 252-54, 259-60,
263 (1971) 19
hởng của hai giáo s này dần dần lan rộng trong giới luật ở Nhật. Trên thực
tế, Toà án cũng áp dụng án lệ một cách không chính thức khi xét xử các vụ án.
Tuy vậy, đến tận năm 1947, cùng với việc ban hành Luật về Toà án thay
thế cho Luật năm 1890 thì vai trò của án lệ mới chính thức đợc ghi nhận.
Điều 10 Luật về Toà án năm 1947 quy định: Trong trờng hợp ý kiến của
Toà thành phần hẹp (Petty Bench) của Toà án tối cao khác với ý kiến trớc
đây của Toà án tối cao về giải thích hoặc áp dụng Hiến pháp hoặc các văn
bản pháp luật khác thì Toà thành phần rộng (Grand Bench) ra quyết định còn
Toà thành phần hẹp không có quyền đa ra phán quyết. Tiếp theo, Điều 5
Nghị định thi hành Luật về Toà án khẳng định rằng phán quyết mà Toà mở
rộng đa ra chính là dựa vào phán quyết trớc đây của Toà án tối cao. Ngoài


20
618 đến năm 907 sau Công nguyên). Từ thời Yuan (1271-1438) đến thời Qing
(1644-1911) các án lệ giữ vai trò ngày càng lớn và tích cực trong hoạt động
xét xử. Trong nhà nớc Cộng hoà Trung Hoa (1912-1949), hệ thống án lệ
đợc thiết lập dựa trên thực tiễn của phơng Tây: các bản án đã xử (panli) và
các giải thích luật (jieshili) thờng đợc sử dụng nh án lệ và đợc tập hợp,
công bố trong các tập hợp các bản án đã xử của Daliyuan So với Tạp chí toà
án hiện nay thì điểm khác biệt là các bản án đã đợc đăng trong Tập hợp này
có giá trị bắt buộc đối với các toà án cấp dới. Cho đến nay, tại Đài Loan, hệ
thống này vẫn tồn tại.
Sau năm 1949, Chính quyền chuyên chính vô sản tuyên bố xoá bỏ toàn
bộ hệ thống pháp luật và t pháp của chế độ phong kiến, t sản. Sự thay đổi
này đơng nhiên vô hiệu hoá hệ thống án lệ. Nớc Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa bắt đầu xây dựng và phát triển hệ thống văn bản pháp luật xã hội chủ
nghĩa, bắt đầu từ bản Hiến pháp năm 1954. Năm 1962, Chủ tịch Mao Trạch
Đông nêu vấn đề cần sớm xây dựng Luật hình sự, Luật dân sự và tập hợp các
bản án đã xét xử, tuy nhiên, trong suốt thập kỉ 60 và 70 với cuộc cách mạng
văn hóa, điều này không đợc thực hiện.
Sau đó, Nhà nớc Trung Hoa đã ban hành hàng loạt đạo luật quan trọng
trong đó có Hiến pháp 1982 (bản Hiến pháp thứ 4 trong vòng 31 năm tồn tại
của Nhà nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa). Từ năm 1983, Toà án nhân dân
tối cao bắt đầu cung cấp các bản án đã đợc xét xử của mình cho các Toà án
cấp dới. Trớc khi có Tạp chí Toà án (1985) thì các bản án đợc chuyển tới
toà án cấp dới theo con đờng công văn nội bộ, nghĩa là công chúng không
đợc tiếp cận với các bản án. Từ năm 1985, Toà án bắt đầu đăng trên Tạp chí
Toà án các bản án đồng thời vẫn chuyển bằng đờng nội bộ một số phán
quyết cho các Toà án cấp dới.
Việc đăng công khai các bản án đã xét xử đợc coi là một bớc chuyển
biến lớn của Trung Quốc. Các bản án này không chỉ hữu ích cho việc tăng

Toà án cấp dới học tập, nhất là phần lập luận. Các bản án đã đợc lựa chọn
và biên tập lại sẽ đợc gửi Phó chánh án Toà án nhân dân tối cao để lựa chọn
lần thứ hai, sau đó mới đợc trình lên Hội đồng Thẩm phán của Toà án nhân
dân tối cao - cơ quan cao nhất của Toà án để xem xét lần cuối và phê duyệt

22
cho đăng. Bên cạnh quy trình chung đó thì cũng có những trờng hợp các bản
án đợc tập hợp, biên tập và cho đăng nhanh chóng nhằm mục đích đặc biệt,
có ý nghĩa thời sự, ví dụ, các bản án thể hiện kết quả của chiến dịch xét xử và
thi hành án hình sự nhanh chóng năm 1983; 4 bản án liên quan đến ly hôn
giữa các quân nhân đợc đăng năm 1985.
Trung bình mỗi năm Toà án nhân dân tối cao nhận đợc khoảng 500
đến 600 bản án do các Toà án cấp tỉnh gửi lên nhng chỉ lựa chọn và cho đăng
khoảng 25 bản án.
Mặc dù các bản án đợc lựa chọn kỹ lỡng và đăng công khai trên Tạp
chí Toà án nhng rất khó khẳng định chắc chắn giá trị của chúng đối với hoạt
động xét xử của Toà án. Hiện nay, ở Trung Quốc không có văn bản pháp luật
nào quy định chính thức về vai trò của các bản án đợc đăng tải trên Tạp chí
Toà án. Theo một số nhà nghiên cứu, trong số các bản án đợc đăng ở Tạp chí
Toà án có thể tạm chia làm ba loại theo mức độ giá trị (hiệu lực) áp dụng nh
án lệ. Loại thứ nhất là các bản án mà Toà án tối cao chỉ biên tập và cho đăng
trên Tạp chí mà không có bình luận gì. Loại thứ hai Toà án tối cao cho đăng
quan điểm ủng hộ hoặc phản đối của mình đối với phán quyết của Toà án cấp
dới. Loại thứ ba Toà án tối cao chỉ dẫn rõ ràng cho toà án cấp dới phải tuân
theo. Đối với hai loại đầu, các Toà án cấp dới chỉ nghiên cứu và tham khảo
trong khi họ phải tuân theo nghiêm chỉnh loại án thứ ba. Nhng đến thời điểm
hiện nay thì các bản án đợc đăng trên Tạp chí Toà án thờng đợc Toà án
cấp dới tuân thủ, mặc dù các Toà án cấp dới hầu nh không bao giờ trích
dẫn các bản án đã đợc đăng trên Tạp chí vào phần lập luận của mình.
Nh vậy, các bản án đã xét xử và đợc đăng trên Tạp chí Toà án có giá

(điển hình/model or exemplary cases) mà về bản chất không khác gì nhiều với
án lệ. Cũng trong Báo cáo trớc Quốc hội, Chánh án Toà án tối cao khẳng
định: Mục đích của việc đăng các bản án đã xét xử chủ yếu nhằm thống nhất
chuẩn mực về hình phạt đối với các vụ án hình sự quan trọng và phức tạp, để
trang bị mô hình mẫu cho việc xác định tội phạm và chuẩn hình phạt trong
các vụ án hình sự mới, mô hình mẫu cho những vụ án kinh tế và dân sự mới
phát sinh trong quá trình vận động của công cuộc cải cách và mở cửa kinh
tế
16
. Nh vậy, xét về bản chất, tính thống nhất bằng mẫu và chuẩn làm cho
các bản án đợc đăng trên Tạp chí Toà án không khác gì với án lệ nhng vì 15
Xem Gazette No2/1986, 3, 9, 10 pp.
16
Xem Gazette No2/1988, 3,11 pp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status