LỜI CẢM ƠN
.
Qua 4 năm học tập dưới mái trường Đại Học Nha Trang, đuợc sự truyền đạt
tận tình của Quý thầy, cô, em đã tích lũy được nhiều kiến thức bổ ích và làm quen
với nhiều phương thức học. Chính nhờ nền tảng tri thức này, em đã dễ dàng lĩnh hội
được những kiến thức mới trong quá trình thực tập để làm hành trang cho em tiếp
cận và làm chủ công việc trong tương lai.
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn:
− Giáo viên hướng dẫn: Cô Ths Nguyễn Bích Hương Thảo – đã tận tình
chỉ bảo, sữa chữa những sai sót, giúp em hoàn thành tốt đề tài.
− Quý Thầy, Cô trong Khoa Kế Toán – Tài Chính, ngành Tài Chính đã
nhiệt tình truyền đạt kiến thức, góp ý, bổ sung để đề tài của em được
hoàn chỉnh.
− Tập thể nhân viên Công ty Cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng
Nam, đặc biệt là phòng kế toán đã tận tình hướng dẫn, cung cấp
những tài liệu cần thiết để em tìm hiểu, hoàn thành đề tài.
− Gia đình yêu thương – nguồn cổ vũ tinh thần luôn bên em, động viên
em hoàn thành tốt khóa luận.
Trong quá trình hoàn thành đề tài, do hạn chế về thời gian cũng như chưa có
nhiều kinh nghiệm thực tế, nên bài làm của em không tránh khỏi thiếu sót. Em kính
mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của quý thầy cô và các cô chú, anh chị trong
Công ty để đề tài được hoàn chỉnh hơn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý thầy cô, tập thể
nhân viên tại Công ty có nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
Nha Trang, tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
1.2.1.2 Hệ số biến thiên 10
1.2.2 Phân tích rủi ro kinh doanh qua đòn bẩy kinh doanh 10
1.2.3 Phân tích rủi ro kinh doanh qua mức độ phân bổ giữa chi phí biến đổi và chi
phí cố định 11
1.3 Nội dung phân tích rủi ro tài chính 13
1.3.1 Các quan điểm phân tích rủi ro tài chính 13
1.3.2 Nội dung phân tích rủi ro tài chính 14
1.3.2.1 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ biến thiên của ROE 14
1.3.2.2 Phân tích rủi ro tài chính thông qua đòn bẩy tài chính 15
1.3.2.3 Phân tích rủi ro tài chính thông qua khả năng thanh toán 16
1.3.2.4 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ nhảy cảm với lãi suất, biến động giá
cả và tỷ giá 17
Chương 2: Phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính ở Công ty cổ phần
Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam 19
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam 19
2.1.1 Sự hình thành, đặc điểm và chức năng của Công ty 19
2.1.1.1 Lịch sử hình thành 19
2.1.1.2 Quá trình phát triển 19
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty 21
2.1.2.1 Lĩnh vực kinh doanh 21
2.1.2.2 Tình hình hoạt động 21
2.1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty 21
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý ở Công ty 22
2.1.3.1 Bộ máy quản lý tại Công ty 22
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của các thành viên trong bộ máy quản lý 23
2.1.4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong giai đoạn từ năm
2008 đến năm 2011 25
2.2 Phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính ở Công ty cổ phần Lâm đặc sản
xuất hẩu Quảng Nam 27
2.2.1 Phân tích rủi ro kinh doanh tại Công ty 27
kinh doanh 69
3.2.2.2 Giải pháp về quản lý, kiểm soát chi phí của Công ty 70
3.3 Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tài chính 74
3.3.1 Lựa chọn chính sách tài trợ hợp lý theo hướng giảm bớt tỷ lệ nợ 74
3.3.1.1 Phát hành cổ phiếu 74
3.3.1.2 Huy động vốn trong nội bộ doanh nghiệp 74
3.3.1.3 Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu 74
3.3.1.4 Dự toán nhu cầu vốn lưu động của Công ty để chủ động trong việc huy động
vốn 75
3.3.2 Hạn chế biến động của chi phí lãi vay 75
3.3.3 Sử dụng hiệu quả nguồn vốn của Công ty 76
3.3.4 Giải pháp giảm rủi ro tỷ giá hối đoái 77
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng
Bảng 2.1: Đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn
2008 – 2011 26
Bảng 2.2: Độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên doanh thu của FOREXCO 31
Bảng 2.3: So sánh hệ số biến thiên Doanh thu giữa các công ty 31
Bảng 2.4: Phân tích biến động doanh thu giữa các công ty 35
Bảng 2.5: Hệ số biến thiên lợi nhuận kinh doanh giai đoạn 2008 - 2011 của Forexco
36
Bảng 2.6: So sánh hệ số biến thiên Lợi nhuận kinh doanh giữa các công ty 37
Bảng 2.7: Phân tích biến động Lợi nhuận kinh doanh giữa các công ty giai đoạn
2008 - 2011 37
Bảng 2.8: Biến động doanh thu, chi phí và lợi nhuận của Forexco 39
Bảng 2.9: Biến động các loại chi phí của Forexco giai đoạn 2007-2011 40
Bảng 2.10: Hệ số biến thiên RE của Forexco giai đoạn 2008-2011 46
Bảng 2.11: So sánh hệ số biến thiên RE giữa các công ty 46
Bảng 2.12: Tỷ trọng định phí trên tổng chi phí 48
Bảng 2.13: Độ lớn đòn bẩy kinh doanh của Forexco giai đoạn 2008-2011 49
Bảng 2.14: ROE của Forexco giai đoạn 2008-2011 52
Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng các loại chi phí trên doanh thu của Thuận An giai đoạn
2008 - 2011 45
Biểu đồ 2.7: Biến động RE của Forexco và hai công ty cùng ngành giai đoạn
2008 - 2011 47
Biểu đồ 2.8: Sự biến động ROE của các công ty giai đoạn 2008-2011 53
Biểu đồ 2.9: Tỷ suất Nợ của Forexco và hai công ty cùng ngành giai đoạn
2008 - 2011 56
Sơ đồ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý tại Công ty 22
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong bối cảnh “con tàu” Việt Nam đã ra biển lớn, vượt sóng hội nhập, khi
nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập vào “sân chơi’’ chung của toàn cầu với rất nhiều
những cơ hội và thách thức to lớn đan xen vào nhau, bởi “lực đẩy” của cạnh tranh
và hội nhập, các doanh nghiệp ngày càng phải đối mặt với nhiều rủi ro. Chính vì
vậy, vấn đề phân tích rủi ro của doanh nghiệp đã trở thành vấn đề thu hút được sự
2 3. Đối tượng và phạm vi ngiên cứu của đề tài
Đối tượng của đề tài: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu:
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài chỉ tập trung vào việc phân tích rủi
ro kinh doanh và rủi ro tài chính tại Công ty Cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng
Nam.
Số liệu phân tích được thu thập từ năm 2008 đến năm 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để nội dung phân tích đúng với tình hình thực tế tại Công ty, em đã sử dụng
kết hợp các phương pháp phân tích sau: phương pháp so sánh, phương pháp cân
đối, phương pháp phân tích tương quan, phương pháp phân tích nguồn số liệu chủ
yếu lấy từ báo cáo tài chính. Trong đó, đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích rủi ro
thực tế của Công ty theo phương pháp phân tích báo cáo tài chính và từ đó đưa ra
kết luận cùng một số giải pháp để kiểm soát rủi ro tại Công ty.
5. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Đề tài gồm có 3 chương:
CHƯƠNG 1: Khái quát về rủi ro và phân tích rủi ro kinh doanh và rủi
ro tài chính trong doanh nghiệp
CHƯƠNG 2: Phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính ở Công ty
cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam
CHƯƠNG 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro kinh doanh và rủi
ro tài chính ở Công ty cổ phần Lâm đặc sản xuất hẩu Quảng Nam
Do kiến thức còn hạn hẹp, tài liệu còn nhiều thiếu sót và thời gian trải nghiệm thực
tế còn nhiều hạn chế nên dù đã cố găng hết sức nhưng đề tài sẽ không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong sự góp ý và chỉ bảo của thầy cô và các cô chú phòng kế
toán của Công ty để đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
những rủi ro tiêu cực, chớp lấy những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.
Thường thì các định nghĩa được phát biểu tùy theo quan điểm của từng
người, từng ngành. Chẳng hạn theo quan điểm của bảo hiểm, rủi ro được định nghĩa
là sự tổn thất ngẫu nhiên, là khả năng có thể gây ra tổn thất, là khả năng có thể xuất
hiện một biến cố không mong đợi. Theo quan điểm của các nhà đầu tư, rủi ro lại
được định nghĩa là không có được NPV, IRR như dự tính. Còn theo sác xuất và
thống kê thì rủi ro là biến cố ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất. Theo quan
điểm hiện đại, rủi ro được định nghĩa là: “khả năng sẽ xảy ra một kết quả có lợi hay
không có lợi từ mối nguy hiểm hiện hữu”.
Đối với doanh nghiệp, rủi ro là bất cứ điều gì có khả năng ngăn cản sự phát
triển của doanh nghiệp, có những rủi ro xâm nhập từ bên ngoài doanh nghiệp cũng
như phát sinh bên trong doanh nghiệp. Mỗi một doanh nghiệp khi thực thi những
chiến lược hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ của mình không thể không
tránh khỏi việc đương đầu với những rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh. Chẳng
hạn, một doanh nghiệp xuất khẩu bất ngờ phải đối mặt với một vụ kiện chống bán
phá giá dẫn tới những thua thiệt trong đơn đặt hàng hay công nhân của nhà máy đột
2
ngột đình công làm ngưng trệ sản xuất, giá của nguyên liệu đầu vào tăng đột biến
trong khi giá bán sản phẩm không đổi làm lợi nhuận bị sụt giảm mạnh… Những rủi
ro đó sẽ làm cho doanh nghiệp bị bất ngờ và dẫn đến thiệt hại, ảnh hưởng đến mục
tiêu của doanh nghiệp.
1.1.1.2 Những nguyên nhân gây nên rủi ro
Nguyên nhân khách quan:
Là những nguyên nhân xảy ra ngoài ý muốn, ngoài sự kiểm soát và không phải từ
hành động trực tiếp của con người bao gồm:
+ Nhóm nguyên nhân đến từ những điều kiện tự nhiên bất lợi như: gió, bão, sóng
thần, động đất, núi lửa…, các dịch bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng và lan
nhanh.
+ Nhóm nguyên nhân từ môi trường kinh doanh: Môi trường kinh doanh luôn tìm
hoặc sự yếu kém của nhân viên không nắm vững nghiệp vụ, luật pháp gây nên
tổn thất cho doanh nghiệp.
1.1.1.3 Phân loại rủi ro
Theo tính chất của rủi ro
Có thể chia rủi ro thành hai loại: rủi ro suy đoán và rủi ro thuần túy.
+ Rủi ro suy đoán: Còn được gọi là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ. Đây là
loại rủi ro gắn liền với khả năng thành bại của hoạt động đầu tư, kinh doanh và đầu
cơ. Ví dụ việc đầu tư vào việc mua bán chứng khoán là khoản đầu tư có thể lãi, hòa
vốn hoặc lỗ. Khi mua chứng khoán các nhà đầu tư mong muốn mang lại cho mình
một khoản lợi lớn. Tuy nhiên không phải bao giờ những tính toán kinh nghiệm của
các nhà đầu tư cũng đúng. Sai lầm và sự biến đổi không ngừng của môi trường kinh
tế - tài chính làm giá chứng khoán giảm mạnh chính là rủi ro trong đầu tư chứng
khoán. Hoặc như thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có ba tình
huống có thể xảy ra: lãi, hòa vốn hoặc lỗ. Những tác động bất lợi của môi trường
kinh doanh, những quyết định sai lầm, những sai sót của hệ thống quản trị… là
nguyên nhân dẫn đến lỗ vốn trong kinh doanh.
Lỗ vốn trong kinh doanh, thất bại trong đầu tư nhưng không tiên lượng được chính
là biểu hiện cụ thể của rủi ro suy đoán. Rủi ro suy đoán có mặt hấp dẫn nào đó. Khi
vào cuộc chơi người ta thường cho rằng xác suất rủi ro nhỏ hơn xác suất thành
công, tức là họ kỳ vọng đạt được những may mắn. Nhận định này tùy thộc vào thái
độ, cảm giác chủ quan của con người trong mỗi “cuộc chơi”, thành công của người
này chính có thể là thất bại của người khác. Trong kinh doanh rủi ro càng lớn thì
khả năng đạt được lợi nhuận càng lớn và ngược lại.
+ Rủi ro thuần túy là những rủi ro chỉ có thể dẫn đến những thiệt hại mất mát
mà không có cơ hội kiếm lời. Rủi ro này có nguyên nhân từ những đe dọa nguy
hiểm luôn rình rập như những hiện tượng tự nhiên bất lợi, những hành động sơ ý bất
cẩn của con người hoặc những hành động xấu của người khác gây ra Bất cứ khi
nào, ở đâu rủi ro thuần túy xảy ra thì cá nhân, tổ chức, xã hội sẽ bị thiệt hại, mất mát
về tài sản cũng như tinh thần. Như vậy khi rủi ro thuần túy xảy ra thì sẽ không ai
được hưởng lợi.
không dự báo được chính là nhóm rủi ro từ tác động của môi trường vĩ mô bao
gồm:
− Rủi ro kinh tế: Là rủi ro do các nhân tố kinh tế vĩ mô gây bất lợi cho các
doanh nghiệp và được thể hiện trên các yếu tố: suy thoái kinh tế, lạm phát, sự
chuyển dịch lãi suất…
− Rủi ro chính trị: Là sự thay đổi bất thường của các thể chế chính trị, sự tác
động của chiến tranh, bạo lực các thế lực chính trị, sự can thiệp quá sâu vào hoạt
động của doanh nghiệp… Môi trường chính trị càng ổn định thì càng giảm thiểu rủi
ro.
− Rủi ro pháp lý: Rủi ro pháp lý có nguồn gốc từ sự thay đổi của pháp luật liên
quan đến kinh doanh: sự mập mờ, chồng chéo không thống nhất của các văn bản
pháp quy, sự thiếu thông tin trong việc phổ biến pháp luật, quá nhiều những điều
chỉnh. Hậu quả của những rủi ro pháp lý là những tranh chấp kiện tụng giữa các
doanh nghiệp, các công trình xây dựng bị bõ dỡ, kìm hãm sự đầu tư từ nước ngoài.
5
− Rủi ro cạnh tranh: Là những áp lực bất ngờ không lường trước của doanh
nghiệp trước sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng, sự gia tăng bất thường về số
lượng cũng như qui mô của các doanh nghiệp cùng ngành, sự xâm nhập mạnh mẽ
của các doanh nghiệp nước ngoài khi Chính phủ mở cửa kinh tế… Rủi ro cạnh tranh
có thể dẫn đến sự thu hẹp thị trường tiêu thụ thậm chí doanh nghiệp có thể bị thôn
tính hoặc bị loại ra khỏi thị trường.
− Rủi ro thông tin: Là những sai lệch thông tin, chậm tiếp cận nguồn thông tin,
phân tích xử lý thông tin thiếu chính xác của doanh nghiệp. Hậu quả của tủi ro
thông tin là doanh nghiệp chậm chân, bỏ lỡ thời cơ hoặc đưa ra quyết định sai lầm
dẫn đến thất bại trong kinh doanh.
+ Nhóm rủi ro trong hoạt động kinh doanh
− Rủi ro quản lý: Đây là những rủi ro gắn liền với những sai lầm về chiến lược,
chính sách kinh doanh và những quyết định thiếu sáng suốt của nhà quản trị. Loại
rủi ro này ảnh hưởng khá nặng nề đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, các chủ nợ sẽ biết được mức độ an toàn của doanh nghiệp từ đó đưa ra
quyết định cho vay hay không và mức vay là bao nhiêu. Doanh nghiệp có mức rủi
ro càng thấp sẽ được các nhà cho vay càng tin tưởng, ưu tiên để tiếp cận với nguồn
vốn của họ.
1.1.2.2. Các nguồn thông tin để phân tích rủi ro
Báo cáo tài chính
Bảng cân đối kế toán
Đây là một báo cáo tài chính tổng hợp dùng để phản ánh tổng quát toàn bộ
giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành nên tài sản đó của doanh nghiệp dưới
hình thức tiền tệ tại một thời điểm nhất định. Qua bảng cân đối kế toán ta thấy được
toàn bộ giá trị tài sản hiện có, hình thái vật chất của tài sản, nguồn hình thành tài sản
đó và đánh giá khái quát được tình hình tài chính, sự biến động tăng giảm của
nguồn vốn chủ sở hữu. Nó là một ảnh chụp (tĩnh) chứ không phải là một cuốn phim
(động) và phải được phân tích dựa trên sự so sánh với các bản cân đối kế toán trước
đây và các báo cáo hoạt động khác.
Dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế toán ta có thể tính được các chỉ tiêu để
phân tích các vấn đề cần thiết của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Là báo cáo tài chính tổng hợp cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp
trong từng thời kỳ nhất định, phản ánh tóm lược các khoản thu, chi phí, kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh theo từng hoạt động kinh doanh (sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính, hoạt
động bất thường). Bên cạnh đó, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho biết
tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước của doanh nghiệp trong thời kỳ đó.
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng thông tin có
thể kiểm tra, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong kỳ, so sánh với kỳ trước và với doanh nghiệp khác để nhận biết khái quát hoạt
động trong kỳ và xu hướng vận động.
hình tài chính và dự báo nguy cơ của doanh nghiệp. Những thông tin quan tâm bao
gồm:
+ Thông tin về tăng trưởng, suy thoái kinh tế
+ Thông tin về lãi suất ngân hàng, trái phiếu kho bạc, tỉ giá ngoại tệ
+ Thông tin về chỉ số lạm pháp
+ Các chính sách kinh tế lớn của Chính Phủ, chính sách chính trị, ngoại giao
của đất nước…
∗ Thông tin theo ngành
Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan đến ngành,
lĩnh vực kinh doanh cũng cần được chú trọng. Đó là:
+ Mức độ và yêu cầu công nghệ của ngảnh
+ Mức độ cạnh tranh và quy mô của thị trường
8
+ Tính chất cạnh tranh của thị trường hay mối quan hệ giữa doanh nghiệp với
nhà cung cấp, khách hàng.
+ Nguy cơ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn …
Những thông tin trên sẽ làm rõ hơn nội dung của từng chỉ tiêu tài chính trong từng
ngành, lĩnh vực kinh doanh, đánh giá rủi ro doanh nghiệp.
∗ Thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Do mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong tổ chức sản xuất kinh
doanh và trong phương hướng hoạt động nên để đánh giá hợp lý tình hình kinh
doanh, tài chính của doanh nghiệp nhà phân tích cần nghiên cứu kĩ lưỡng đặc điểm
hoạt động của doanh nghiệp. Những vấn đề cần quan tâm bao gồm:
+ Mục tiêu và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp gồm cả chiến lược tài
chính và chiến lược kinh doanh.
+ Đặc điểm quá trình luân chuyển vốn trong các khâu kinh doanh của doanh
nghiệp
+ Tính thời vụ, tính chu kỳ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Mối liên hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng và
là nội dung phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp.
1.2 Nội dung phân tích rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh được hiểu là biến cố xảy ra và gây nên tổn thất trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, đó là sự tổn thất về tài sản hay sự giảm sút về lợi nhuận. Rủi ro
kinh doanh là rủi ro gắn liền với sự không chắc chắn, sự biến thiên của kết quả và
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1 Phân tích rủi ro kinh doanh qua phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến
thiên
1.2.1.1 Phương sai và độ lệch chuẩn
∗ Phương sai (Var: Variance)
Rủi ro kinh doanh có thể được hiểu là rủi ro gắn liền với sự biến thiên của
kết quả và hiệu quả kinh doanh. Vì vậy theo quan điểm phân tích thống kê, để đo
lường rủi ro kinh doanh người ta sử dụng chỉ tiêu phương sai đại lượng kết quả kinh
doanh như doanh thu, lợi nhuận… hay hiệu quả kinh doanh như khả năng sinh lời
tổng tài sản để đánh giá mức độ biến thiên của các đại lượng đó. Ví dụ để xem xét
độ biến thiên của chỉ tiêu k, ta dùng phương sai (ký hiệu là Var) để thể hiện
và phương sai sẽ được tính bằng bình phương các độ lệch của chỉ tiêu nghiên cứu
với giá trị trung bình của nó.
( )
i
n
i
i
pkkkVar *)(
2
1
−=
∑
=
Đôi khi để chỉ tiêu có giá trị tương ứng và phù hợp về đơn vị người ta còn dùng
thêm chỉ tiêu độ lệch chuẩn, độ lệch chuẩn được tính theo công thức:
( )
( )
∑
=
−==
n
i
ii
pkkkVar
1
2
σ
Hai chỉ tiêu này có ý nghĩa tương tự nhau, đều thể hiện độ phân tán của các
giá trị của chỉ tiêu so với giá trị trung bình của nó. Khi phân tích rủi ro kinh doanh
thì nó có ý nghĩa là ở một mức hoạt động và quy mô tương tự nhau, doanh nghiệp
hay phương án nào có phương sai hay độ lệch chuẩn của cùng một chỉ tiêu nhỏ hơn
phương sai hay độ lệch chuẩn của doanh nghiệp hay phương án kia thì doanh
nghiệp hay phương án đó có rủi ro thấp hơn do mức độ biến thiên kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp là thấp hơn. Nghĩa là doanh nghiệp hoạt động ổn định hơn.
1.2.1.2 Hệ số biến thiên
Trong quá trình phân tích chỉ tiêu phương sai và độ lệch chuẩn có nhược
điểm là các chỉ tiêu có thước đo khác nhau, giá trị kỳ vọng giữa các phương án so
sánh khác nhau thì sử dụng phương sai và độ lệch chuẩn để so sánh là không có ý
nghĩa. Do đó, người ta sử dụng thêm chỉ tiêu hệ số biến thiên, hệ số biến thiên được
tính bằng tỷ số giữa độ lệch chuẩn của chỉ tiêu với giá trị kỳ vọng của nó.
k
H
LNLN
K
/
/
∆
∆
=
Trong đó:
LN là lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp
DT là doanh thu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ số K cho thấy: cứ 1% thay đổi về doanh thu sẻ ảnh hưởng đến K% thay
đổi về lợi nhuận kinh doanh. Lợi nhuận tính theo đòn bẩy kinh doanh không tính
đến chi phí phải trả lãi vay nhằm loại bỏ sự ảnh hưởng của cơ cấu và chi phí nguồn
vốn khi phân tích rủi ro kinh doanh.
Hệ số đòn bẩy kinh doanh cho thấy ứng với một mức hoạt động, hệ số này
càng cao thì doanh nghiệp có thể đạt được hiệu quả kinh doanh lớn nhưng hiệu quả
kinh doanh biến thiên lớn do đó rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp cũng cao. Lí do
là một sự thay đổi nhỏ về doanh thu cũng dẫn đến một sự thay đổi lớn hơn về lợi
nhuận kinh doanh. Lợi nhuận kinh doanh sẽ tăng rất nhanh trong trường hợp mở
rộng thị trường, tăng doanh thu nhưng cũng sẽ giảm rất mạnh nếu tiêu thụ của
doanh nghiệp giảm
1.2.3 Phân tích rủi ro kinh doanh qua mức độ phân bổ giữa chi phí biến đổi và
chi phí cố định
Rủi ro gắn liền với sự không chắc chắn của hiệu quả kinh doanh phụ thuộc
chủ yếu vào sự phân bổ giữa định phí và biến phí.
Trong trường hợp chi phí kinh doanh của doanh nghiệp tách biệt thành biến phí và
định phí thì hệ số đòn bẩy kinh doanh tại một mức hoạt động của doanh nghiệp có
thể được xem xét như sau:
(
việc thích ứng với sự phát triển của thị trường và rủi ro kinh doanh của doanh
nghiệp sẽ lớn.
Các doanh nghiệp sản xuất thường có tỉ trọng tài sản cố định lớn nên đòn bẩy
kinh doanh cao, trong khi đó các doanh nghiệp thương mại có độ lớn đòn bẩy kinh
doanh thấp. Vì vậy các doanh nghiệp sản xuất thường rủi ro hơn các doanh nghiệp
thương mại.
Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh
Sự biến đổi nhu cầu thị trường:
Khi nhu cầu thị trường ổn định và số lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh
nghiệp ổn định, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì rủi ro kinh doanh của
doanh nghiệp càng thấp.
Nhân tố này cho thấy rủi ro kinh doanh giữa các ngành hoàn toàn khác nhau
và sự khác nhau này giữa các doanh nghiệp còn phụ thuộc vào vị trí của doanh
nghiệp trên thị trường. Những sản phẩm kinh doanh có chu kỳ sống sản phẩm càng
ngắn thì rủi ro kinh doanh càng cao. Vấn đề độc quyền trên thị trường hay sự liên
minh, liên kết hoặc sản phẩm đang trong giai đoạn tăng trưởng… đều tạo cho doanh
nghiệp một doanh số ổn định, rủi ro doanh nghiệp được cho là thấp. Vì vậy trong
phân tích tài chính, nhà phân tích nên xem xét đến biến động của doanh thu trong
nhiều năm liên tiếp và thông qua đó đánh giá triển vọng của doanh nghiệp trong
tương lai.
Sự biến đổi giá bán:
Những doanh nghiệp mà có giá bán sản phẩm dễ dao động thường mang rủi
ro kinh doanh cao hơn những doanh nghiệp có giá bán ổn định. Nhân tố này gắn
liền với doanh thu ở trên vì sự thay đổi giá cả thường dẫn đến khách hàng thay đổi
sản phẩm tiêu thụ. Ngoài ra, đây còn là cơ sở đánh giá mức độ rủi ro giữa các ngành
kinh doanh. Khi phân tích sự biến đổi giá bán cũng cần xem xét đến dặc điểm của
sản phẩm (nhất là độ co giãn của cầu theo giá) và cả chiến lược định giá của doanh
nghiệp. Các vấn đề có tính thời vụ, thiên tai, quản lý giá cả, điều kiện giao thông
vận tải, khả năng phát sinh các doanh nghiệp mới trong những ngành nghề hấp dẫn,
những thay đổi công nghệ… phải xem xét toàn diện vì chúng có liên hệ mật thiết
Ở đây chúng ta chỉ xem xét một số các nhân tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến
rủi ro của doanh nghiệp. Việc xem xét mức độ ảnh hưởng của chúng thường rất
phức tạp. Mối quan hệ giũa chúng không biểu hiện thành công thức. Do đó phương
pháp xác định các nhân tố ảnh hưởng là phương pháp tương quan.
1.3 Nội dung phân tích rủi ro tài chính
1. 3.1 Quan điểm phân tích rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính có thể hiểu là sự bất trắc, sự không ổn định có thể đo lường
được, có thể đưa đến những tổn thất, mất mát thiệt hại hoặc làm mất đi những cơ
hội sinh lời. Những rủi ro này gắn liền với hoạt động tài chính và mức độ sử dụng
nợ của doanh nghiệp nghĩa là gắn liền với cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.
Có thể xem xét việc phân tích rủi ro tài chính theo quan điểm sau: Nếu xem
hoạt động tài chính như là một hoạt động kinh doanh thì chỉ tiêu, phương pháp sử
dụng đối với phân tích rủi ro kinh doanh có thể áp dụng khi phân tích rủi ro tài
14
chính của doanh nghiệp. Do đó, có thể phân tích rủi ro tài chính thông qua sự biến
thiên của khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu, sự biến thiên của đòn bẩy tài chính
Rủi ro tài chính vừa hàm ý các trạng thái rủi ro kiệt giá tài chính và còn nói
lên những rủi ro do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính - sử dụng vốn vay trong
kinh doanh. Rủi ro kiệt giá tài chính là độ nhạy cảm từ các nhân tố giả cả thị trường
như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khoán tác động đến thu nhập doanh
nghiệp.
Vì vậy, ngoài việc phân tích rủi ro tài chính thông qua sự biến thiên của khả
năng sinh lời vốn chủ sở hữu, phân tích đòn bẩy tài chính thì phải đồng thời phân
tích khả năng thanh toán cũng như độ nhạy cảm đối với lãi suất, tỷ giá, biến động
giá cả của doanh nghiệp để phân tích rủi ro tài chính một cách toàn diện.
1.3.2 Nội dung phân tích rủi ro tài chính
1.3.2.1 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ biến thiên của ROE (khả năng
sinh lời vốn chủ sở hữu)
Khả năng sinh lời vốn chủ sỡ hữu là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhất khả
ế
Vốn chủ sở hữu bình quân
L
ợ
i nhu
ậ
n sau
Doanh thu thu
ầ
n
Doanh thu thu
ầ
n
V
ố
n ch
ủ
s
ở
h
ữ
u
L
ợ
i nhu
ậ
=
x
x
Doanh lợi
doanh thu
Vòng quay
tổng tài sản
1
1 – tỷ số nợ
x
=
x
x 100
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
Khả năng sinh lời VCSH =
15
Ta thấy khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu phụ thuộc một phần vào cơ cấu
nguồn vốn của doanh nghiệp tức là tùy thuộc vào mức độ sử dụng nợ. Đối với tỷ số
nợ, ta thấy khi tỷ số nợ càng cao thì tỷ số 1/(1+tỷ số nợ) càng lớn. Do đó khi doanh
hữu mong muốn gia tăng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao hơn.
Vì đòn bẩy tài chính đặt trọng tâm vào tỷ số nợ, do đó đòn bẩy tài chính sẽ
rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ cao, và ngược lại đòn bẩy tài chính sẽ rất
nhỏ trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ thấp. Khi đòn bẩy tài chính cao, chỉ cần một
sự thay đổi nhỏ của lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng làm thay đổi lớn tỷ lệ lợi
% thay đổi ROE
% thay đổi lợi nhuận trước thuế
và lãi vay
Độ lớn đòn bẩy tài chính =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Lợi nhuận trước thuế
Độ lớn đòn bẩy tài chính =
16
nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu. nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ
sở hữu sẽ rất nhạy cảm với lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
Tóm lại, tăng độ lớn đòn bẩy tài chính thì có thể tăng hiệu quả tài chính của
doanh nghiệp nhưng kèm theo đó cũng làm tăng rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
1.3.2.3 Phân tích rủi ro tài chính qua khả năng thanh toán
Thực tế cho thấy, một doanh nghiệp có hoạt động tài chính tốt và lành mạnh
sẽ không phát sinh tình trạng dây dưa nợ nần, chiếm dụng vốn lẫn nhau kéo dài, khả
năng thanh toán dồi dào. Ngược lại, khi một doanh nghiệp phát sinh tình trạng nợ
nần dây dưa, kéo dài thì chắc chắn chất lượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp
không cao, thực trạng tài chính không mấy sáng sủa, khả năng thanh toán thấp. Vì
vậy qua việc phân tích tính thanh khoản của doanh nghiệp ta có thể thấy được mức
độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Tính thanh toán sẽ được phân tích theo hệ số thanh toán hiện hành, hệ số
thanh toán nhanh, hệ số thanh toán lãi vay.
Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay
Chi phí lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay =