CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Câu 1: Phân tích những điểm đặc thù trong sự ra đời của nhà
nướcVăn Lang – Âu Lạc (696 – 682 – 179TCN)
* Nhà nước ra đời trong trạng thái phân hóa xã hội chưa tới mức độ sâu
sắc,chưa mang tính đối kháng gay gắt như những nước khác. Hay nói cách
khác, nhànước ra đời sớm, sớm cả về mặt thời gian và không gian là do 2 yếu tố tự
vệ và trịthủy-thủy lợi thúc đẩy .
− Cuối thời đại Hùng Vương, dân cư tràn xuống chinh phục các vùng
đồng bằng châu thổ của các con sông lớn và phát triển nông nghiệp trồng
lúa nước nêncông cuộc trị thủy-thủy lợi (chống lũ lụt, tưới tiêu nước) giữ
vai trò đặc biệt quantrọng.
− Vị trí địa lí của nước ta nằm trên đầu mối của những luồng giao
thông tựnhiên nên yếu tố tự vệ chống lại mối đe dọa từ bên ngoài ngày
càng trở nên bứcthiết.
− Vai trò thúc đẩy của tự vệ và trị thủy-thủy lợi được thể hiện cụ thể ở 2
mặtsau:
+ Cơ cấu tổ chức trong chế độ công xã nguyên thủy không thể đảm
đươngnổi công việc lớn lao trị thủy-thủy lợi và tự vệ mà đòi hỏi phải có 1
loại cơ cấu tổchức mới khác hẳn, đó là nhà nước. Bởi vì nhà nước có
những ưu thế cơ bản hơnhẳn tổ chức công xã nguyên thủy: Nhà nước là cơ
cấu tổ chức rộng lớn bao trùmtoàn xã hội và chặt chẽ nhất, nhà nước
có biện pháp đặc trưng là cưỡng chế, có phương tiện tổ chức và quản lí
đặc trưng là pháp luật. Vì vậy nhà nước có khả nănghuy động lực lượng lớn sức
người sức của và tổ chức chỉ đạo 1 cách có hiệu quả công cuộc đấu tranh để tự
vệ , công cuộc trị thủy-thủy lợi.
1
+ Trên con đường hình thành nhà nước, các thủ lĩnh của các cộng đồng dâncư
lợi dụng địa vị, chức năng của mình để chiếm đoạt 1 phần của cải do các thànhviên
đóng góp làm việc công ích thành tài sản riêng, nên việc huy động sức ngườisức của
− Hệ thống quan chức và cơ quan nhà nước Thời nhà Triệu, nước ta bị
chiathành các quận, huyện đứng đầu là Thái thú và Huyện lệnh. Chế độ lạc tướng và
tổchức chính quyền ở công xã nông thôn vẫn tồn tại. Tới nhà Hán, tổ chức thêm
cấpchâu trên cấp quận. Đứng đầu các châu là Thứ sử, đứng đầu quận là thái thú,
huyệnlà Huyện lệnh. Tới thời Đông Hán, có thêm các Tào tòng giúp việc cho Thứ
sử nhưCông tào tòng, Bình tào tòng, Bạc tào tòng… phụ trách về tuyển bổ quan lại,
quânsự, tài chính… Bên cạnh đó, bổ nhiệm thêm chức Quận thừa để giúp việc khi
Tháithú đi vắng. Ngoài ra còn có một số chức quan chuyên việc thu
thuế như Diêmquan, Công quan, Thiết quan… Tuy nhiên, từ cấp
huyện chở xuống vẫn do các quan chức người Việt nắm giữ. Tới nhà Đường,
cải cách địa chính lập ra các đô hộ phủ đứng đầu là Tiết độ sứ; bỏ cấp quận lập lại
các châu thuộc đô hộ phủ đứng đầulà quan Thứ sử rồi dưới là huyện lệnh cai
quản cấp huyện. Dưới huyện là hương,xã do Hương trưởng, xã trưởng là người
Việt quản lý. Nói tóm lại, sau các triều đạithay nhau cai trị dù dưới hình thức nào,
phương pháp, thủ đoạn nào, dù là sử dụngđội ngũ quan chức người Hán hay
người Việt thì chính quyền đô hộ cũng thất bạitrong việc đồng hóa người
Việt, làng xã vẫn là cái gốc, là cơ sở văn hóa của nướcViệt.
- Các chính quyền độc lập song song và tiến đến đan xen tồn tại Trong
thờiBắc thuộc có 2 hệ thống chính quyền tồn tại song song và đan
xen nhau đó là:chính quyền đô hộ của Trung Quốc và chính quyền người Việt,
trong đó làng Việttồn tại bền vững cùng với các chính quyền tự chủ. Các triều đại
Trung Quốc khôngngừng thực hiện đồng hoá người Việt nhằm biến Việt Nam thành
một quận huyệncủa Trung Quốc. Dưới thời kỳ này người Việt phải đóng sưu
3
thuế cho triều đình phía Bắc. Ngoài một số thuế của Nhà nước một số quan cai trị
địa phương vì ở xanên cũng bòn vét thêm của dân. Dưới ách thống trị tàn khốc của
các để chế phongkiến lớn Trung Hoa, nhân dân ta đã kiên cường, bền bỉ đấu
tranh để bảo tồn dântộc và giành độc lập đất nước. Tiêu biểu: cuộc khởi
nghĩa Hai Bà Trưng vào mùaxuân năm 40 lật đổ chính quyền đô hộ ở 65
thành trì, sau đó xưng vương làm chủ toàn bộ lãnh thổ Âu Lạc cũ. Như
được giai cấp thống trị Việt Nam tiếpthu. Đó là hàng loạt các quan
điểm “Tôn quân quyền”, “quân chủ thần quyền”, “chính danh”, “nhân
trị”, “lẽ tri”, vương mạo”. Toàn bộ hệ thống quan điểm đóđều nhằm xây
dựng bộ máy nhà nước đảm bảo tập trung quyền lực vào tay vua,thống
nhất về chính trị, xây dựng nhà nước trung ương tập quyền vững
mạnh.Cách thức tổ chức bộ máy nhà nước và chế độ quan chức của nhà nước
phong kiếnViệt Nam đều mô phỏng theo nhà nước phong kiến Trung Hoa.
Đó là dấu ấn lịchsử hơn 10 thế kỉ Bắc thuộc đối với lịch sử phát triển của
nhà nước Việt Nam màchúng ta không thể phủ nhận. Triều đình trung ương với
các quan cao cấp và 2 banvăn võ, với lục bộ và các cơ quan chức năng, cách phân
chia đơn vị hành chính địa phương theo thừa tuyên, phủ, huyện… Đều mô phỏng
Trung Hoa. Ngay cả tên gọi,chức danh của các cơ quan nhà nước và hệ thống
quan lại cũng theo cách gọi củaTrung Hoa. Trong suốt thời kì bị đô hộ nhân dân
ta vừa đấu tranh chống Bắc thuộcchống đòng hóa để giành độc lập dân tộc và giữ
gìn bản sắc dân tộc đồng thời vừatiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hóa
chính trị của Trung Hoa đẻ xây dựngnhà nước độc lập dân tộc của mình, sự tiếp thu
đó là tất yếu của lịch sử
Tóm lại, thời kì chính quyền phong kiến phương Bắc đô hộ Việt
Nam kéo dàihơn 1000 năm với những đặc điểm khái quát như trên đã để
5
lại nhiều di tồn, tácđộng sâu rộng tới nhiều lĩnh vực trong đời sống
nhân dân ta, thậm chí cho đến ngày hôm nay. Việc nhìn nhận khách
quan và có hệ thống về thời kì này chính làđiều kiện để chúng ta rút ra
những bài học quá khứ cho tương lai, hình thành mộtnền tảng tư tưởng
vững chắc đưa việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được thực
hiện có hiệu quả hơn, sâu rộng và thiết thực hơn nữa
3.Phân tích địa vị và quyền lực của Nhà vua trong Nhà
nước Phongkiến Việt Nam.
* Trả lời:Trong gần chín thế kỷ (939-1858), đất nước ta đã trải
qua các triều đại như: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu lê, Mạc, Tây
theo“Thiên Mệnh” sẽ phải chăm sóc, đảm bảo sự thịnh vượng của mọi người dân
trongxã hội.
b . Q u y ề n l ự c c ủ a n h à v u a :
* Nhà vua nắm vương quyền:
Có thể thấy, với một địa vị là “Thiên Tử”, đứng dưới một người mà trên
vạnngười, thì nhà vua cũng chính là người nắm trong tay toàn bộ vương quyền của
đấtnước. Những điều đó được thể hiện ở các điểm sau:
- Về mặt lập pháp
: nhà vua chính là người duy nhất có quyền đặt ra pháp luật.Ý chí của nhà vua
dưới mọi hình thức đều trở thành pháp luật: Nếu là lời nói thìmệnh lệnh đó sẽ được
sứ giả truyền đi khắp nơi và thực thi (“Vua truyền rằng” hay“Vua ban rằng”), nếu là
bằng văn bản thì trở thành thánh chỉ, thánh ý…
- Về mặt hành pháp
: Nhà vua có toàn quyền bổ nhiệm, thăng giáng, thưởng phạt, thuyên chuyển,
quy định quyền hạn, trách nhiệm, lương bổng đối với quan lạitrong cả nước (Năm
971, Đinh Tiên Hoàng phong cho Lê Hoàn làm Thập đạotướng quân; Lê Thánh
7
Tông bãi bỏ chức Đại hành khiển). Như vậy, nhà vua chínhlà người đứng đầu nền
hành chính quốc gia, có quyền lực rất lớn
- Về mặt tư pháp
: Nhà vua chính là người giữ tài phán quyết cao nhất. Thếhiện ở việc vua là
người có quyền quyết định cuối cùng đối với bất cứ một vụ ánnào. Các bản án vua
đã xét xử (dù là sơ thẩm hay phúc thẩm) đều không ai cóquyền xét xử lại, không
được thụ lý các vụ án mà triều vua trước đã xử… Bêncạnh đó, vua là người duy nhất
có quyền đại xá hay đặc xá cho các can phạm.
- Về mặt quân sự
: Vua chính là người đứng đầu quân đội, là Tổng tư lệnhquân đội, có quyền
bổ nhiệm, bãi miễn các chức trong bộ máy quân sự; ban hànhcác chính sách quân sự
(nhà Lý - chính sách Ngụ binh ư nông)
- Về mặt ngoại giao
hào quangrực rỡ, ở hai lòng bàn chân có hiện hai chữ “Vương”. Và sự ra đời của
triều Lý đãđược dự báo từ trước bởi một bài thơ kỳ lạ xuất hiện dưới gốc cây bị sét
đánh cũngnhư rất nhiều các truyền thuyết dân gian khác về các vị vua như Đinh Bộ
Lĩnh, LêThánh Tông…
Câu 4: Nguyên tắc “Tôn quân quyền” và ba biện pháp cải cách
Nhànước, cải cách lục bộ dưới triều vua Lê Thánh Tông.
* Nguyên tắc “Tôn quân quyền”
Trong thiết chế quân chủ tuyệt đối thời Lê sơ, vai trò của nhà vua đã được đẩy
lênrất cao với chủ nghĩa "tôn quân". Theo đó, nhà vua là "con Trời". Người giữ
mệnhTrời, thay Trời trị dân ; các ấn tín của vua đều khắc chữ "Thuận thiên
thừa vận","Đại thiên hành hóa". Điện Kính Thiên được xây trong Hoàng thành
Thăng Long.Hoàng đế là người chủ tế duy nhất trong các buổi tế lễ (tế Trời,
tế Tôn miếu, tếKhổng Tử), là Tổng chỉ huy quân đội (Lê Thánh Tông đích thân
9
cầm quân đi đánhChampa). Thời Lê Thánh Tông, chức Tướng quốc (Tể
tướng) đầu triều và một sốchức danh đại thần khác đã bị bãi bỏ.
Hoàng đế trực tiếp điều khiển triều đình. Quyền lực của các quý tộc
tôn thất cũng bị hạn chế, không được lập quân vươnghầu, phủ đệ, Lê Thánh
Tông bỏ lệ ban Quốc tính. Thời Lê sơ, một số công thần cóuy tín và quyền lực cao
đã bị nghi kỵ và lần lượt bị giết hại, như Trần Nguyên Hãn,Phạm Văn Xảo, Lê Khả,
Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Nguyễn Trãi.Mục tiêu cơ bản của cuộc cải tổ bộ máy
Nhà nước của Lê Thánh Tông lànhằm tập trung tuyệt đối quyền lực Nhà
nước vào trong tay nhà vua theo nguyêntắc “Tôn quân quyền” của Nho giáo và
tăng cường hiệu lực của bộ máy quan liêu,cũng tức là nâng cao sự thể hiện và hiệu
quả quyền lực của Hoàng đế.
Biện pháp chủ yếu mà cuộc cải tổ này thực hiện là:
− Bỏ bớt một số chức quan, cơ quan và chính quyền trung gian để đảm bảosự
tập trung quyền lực vào nhà vua.
− Các cơ quan giám sát, kiểm soát lẫn nhau để loại trừ sự lạm
quyền vànâng cao trách nhiệm.
Cải cách lục bộ
Tách 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) ra khỏi Thượng thư sảnh để lập
6cơ quan riêng cai quản các mặt hoạt động của nhà nước. Mỗi bộ có một
Thượngthư phụ trách, chịu trách nhiệm trước Nhà Vua, giúp việc có 2 Thị lang
Những công việc lặt vặt chuyên trách trong bộ thì giao cho các Thanh lại
ty,có quan Lang trung trông coi và quan viên Ngoại lang giúp việc.Ví dụ:
Để côngviệc bộ Lại được điều hòa nhanh chóng và phân minh, những công việc ó
11
tính cáchchuyên môn như thuyên chuyển tuyển bổ và khảo sát quan lại được
trao cho mộtcơ quan đặc trách là Thuyên khảo Thanh lại ty.
Còn những công việc thường nhật của bộ thì giao cho Tư vụ sảnh,
có quantư vụ đứng đầu.Ví dụ: Nhiệm vụ của bộ Hộ: coi sóc ruộng
đất, tài chính, nhân khẩu, tô thuế, kho tàng, thóc tiền và lương của quan quân.
Riêng bộ Hộ và bộ Hình còn thêm Chiếu ma sở có quan Chiếu ma phụ
tráchviệc ghi chép văn thư vào sổ.
Tuy nhiên, công việc của 6 bộ rất nhiều, có nhiều công việc
không thể đảmtrách hết được, do đó vua Lê Thánh Tông lập ra 6 tự phụ trách công
việc phụ của 6 bộ. Điều đáng lưu ý là 6 tự (Đại lý tự, Thái thường tự, Quang
lộc tự, Thái bộc tự,Hồng lô tự, Thường bảo tự) là cơ quan độc lập với 6 bộ và
chịu sự chỉ đạo trực tiếpcủa nhà vua.Phụ trách ở mỗi tự có chức quan Tự
khanh trật Chánh ngũ phẩm và phụ giúp là quan Thiếu khanh Chánh lục phẩm.
Để bảo đảm 6 bộ hoạt động có hiệu quả, các quan lại có trách nhiệm hơn
thìvua Lê Thánh Tông thành lập ra 6 khoa (Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa,
Binh khoa,Hình khoa, Công khoa) có chức năng giám sát tương ứng với 6 bộ.
Quan phụ tráchcao nhất của mỗi khoa là quan Đô cấp sự trung với trật
Chánh nhất phẩm, dưới làquan Chấp sự trung trật Chánh bát phẩm. Lục khoa
không phải là cơ quan cấp dướicủa Lục bộ mà là cơ quan giám sát Lục bộ và
báo cáo trực tiếp lên Vua, cho nênmặc dù quan phụ trách ở khoa tuy phẩm trật
không lớn nhưng rất có thực quyền.
Ngoài ra, các cơ quan chuyên môn khác được cải cách
chuyển quan lại quanh các địa hạt, tránh trình trạng cát cứ.
Đặc biệt trong việc tăng cường quyền lực trung ương, hạn chế
quyền lực địa phương, là việc Lê Thánh Tông trực tiếp can thiệp vào công
tác quản lí ở làng xã,vốn được coi là “thành trì” vững chắc của chế độ
13
công xã nông thôn. Đó là thôngqua việc ban hành tiêu chuẩn cử xã trưởng
cùng với quy định về hương ước, triềuđình nhà Lê đã có thể khống chế
tương đối đến tận cấp cơ sở, hạn chế đến mức thấp nhất sự thâu tóm
quyền lực của địa phương vì ngay cả cơ sở là làng xã cũng bịtriều đình trung
ương giám sát và ức chế quyền tự trị thì không có lực lượng địa phương nào
có thể ngoi lên được.
Chia tách và quy định rõ từng loại xã( 3 loại: xã lớn (500 hộ) , xã vừa
(trên300 hộ) và xã nhỏ (trên hộ)) và người đứng đầu của từng xã.Bỏ chế độ xã quan
vàđổi thành xã trưởng. Phân định rõ số lượng xã trưởng cho từng loại xã:
đại xã thìdùng 5 người, trung xã thì dùng 4 người, xã nhỏ thì 2 người và nhỏ dưới
60 hộ thìmột người. Quy định rõ về người làm xã trưởng: không cho phép
những người làanh em ruột, anh em con chú, bác, cô, cậu, dì già cùng làm
xã trưởng. Trông bộmáy chính quyền xã gồm các chức: xã trưởng, xã sử,
xã tư. Mỗi chức vụ có mộtnhiệm vụ triêng biệt. Mỗi xã có thêm nhiều thông nên
có thêm chức trưởng thôn đểcùng xã trưởng giải quyết công việc.Nguyên tắc tản
quyền ở địa phương mục đíchtránh trình trạng cát cứ địa phương ảnh hưởng đến
chính quyền trung ương.
Câu 6: Phân tích và chứng minh hệ thống ngũ hình trong Quốc
triềuHình luật (QTHL) đã tiếp thu chọn lọc và sáng tạo ngũ hình trong
pháp luật phong kiến Trung Hoa.
Hình phạt Ngũ hình được các triều đại PKVN áp dụng gồm:
* Xuy: Hình phạt này được nêu rất rõ trong QTHL là có 5 bậc từ 10 đến
50roi. Phạm nhân sẽ bị đánh bằng roi mây nhỏ vào mông.Trong QTHL
hình phạtnày không hề có sự thay đổi so với pháp luật phong kiến Trung Hoa và
được coi làmột hình phạt nhẹ với các cấp độ cũng là 5 bậc từ 10 roi đến 50 roi.Với
nữgiới, các hình phạt bổ sung là nam giới bị đánh 80 trượng thích vào cổ 4
chữ vàđeo xiềng, trong khi đó thì nữ giới bị phạt 50 xuy và thích vào cổ 4 chữ
Trong pháp luật phong kiến Trung hoa cũng chia thành 3 bậc chia theo sốlý
tức là có 2000 lý, 2500 lý và 3000 lý tuỳ vào từng tội.Dưới triều đại nhà Lê thì lưu
gồm có 3 bậc được áp dụng cùng với suy, trượng,thích chữ hoặc đeo xiềng tuỳ
vào từng bậc cụ thể: Châu gần, châu ngoài và châuxa.
* Tử: Đây là mức hình phạt cao nhất trong Ngũ hình và có các hình thức
tửhình là giảo và trảm, chém bêu đầu và lăng trì. Các hình thức này đều
khiến chomọi người phạm tội đau đớn về thể xác.
Câu 7: Phân tích chế định kết hôn trong Quốc triều Hình
luật vàHoàng Việt Luật lệ (HVLL) (phân tích chế độ kết hơn trong Pháp luật
phongkiến VN):
a. Điều kiện kết hôn:
− Pháp luật phong kiến VN quy định các điều kiện để có thể kết hôn
là : cósự đồng ý của cha mẹ (Điều 314 – QTHL, điều 94,điều 109 HVLL)
và không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn như : Không được kết hôn giữa
những người họhàng thân thích (Điều 319 – QTHL, điều 100 và 102 HVLL);Cấm
kết hôn khi đangcó tang cha mẹ hay tang chồng (Điều 317, QTHL);Cấm kết hôn khi
ông ,bà,cha,mẹđang bị giam cầm ,tù tội (Điều 318, QTHL);một số trường hợp khi
cuộc kết hôn đócó thể gây ảnh hưởng đến vương quyền ,trật tự đẳng cấp xã hội ,xâm
phạm nhữngnguyên tắc đạo đức chủ yếu và trật tự xã hội (Điều
324,316,323,334,338,339 củaQTHL, điều 96, 103, 183, 107, 106 , 105, 104,
94,95,98 của HVLL).
− Bộ Quốc triều hình luật không quy định tuổi kết hôn, mặc dù trong
Thiên Nam dư hạ tập (phần Lệ Hồng Đức hôn giá )có viết : “Con trai 18
tuổi,con gái 16tuổi mới có thể thành hôn” Còn trong HVLL quy định “
16
Nếu con trai dưới 20 tuổivà con gái chưa chồng thì không có quyền tự chủ trong việc
cưới xin
…” (điều 109)
d. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng:
− Quốc triều hình luật,phần chế định hôn nhân không có một điều
khoản cụt h ể n à o q u y đ ị n h q u y ề n s ở h ữ u t à i s ả n c ủ a v ợ
c h ồ n g n h ư n g q u a c á c đ i ề u 374,375,376 và một số điều luật khác ta
có thể thấy Bộ luật thừa nhận 3 loại tài sản ruộng đất của vợ chồng cùng song song
tồn tại :
+ Tài sản ruộng đất của vợ
+ Tài sản ruộng đất của chồng
+ Tài sản ruộng đất của vợ chồng cùng tạo nên trong thời kỳ hôn nhânĐồng
thời với việc quy định về quyền sở hữu ruộng đất như trên ,Bộ Quốc triềuhình luật
còn quy định quyền thừa kế tài sản ruộng đất giữa vợ và chồng.Khi ngườivợ hoặc
người chồng chết,người còn sống vẫn được giữ nguyên quyền sở hữu
cánhân đối với tài sản ruộng đất của riêng mình .Còn tài sản ruộng đất của
hai vợ chồng cùng làm nên trong thời kỳ hôn nhân được chia làm 2 phần bằng
nhau,vợ vàchồng mỗi người một phần.Phần của người chết được chia cho
những người thừakế cùng với tài sản ruộng đất riêng của người
chết .Vấn đề tài sản giữa vợ và chồng sau khi ly hôn không được Bộ
Quốc triều hình luật quy định một cách rõràng.
− Còn trong HVLL thì không quy định về tài sản riêng của vợ, người vợ
phụthuộc vào chồng và gia đình nhà chồng, cũng không có quy định quyền thừa kế
củangười vợ như trong QTHL
18
C â u 8 : P h â n t í c h c h ế đ ộ h ô n n h â n k h ô n g t ự d o , n a m n ữ
b ấ t b ì n h đẳng trong Pháp luật phong kiến Việt Nam.
− Hôn nhân hầu hết xuất phát từ quyền lợi của gia đình và dòng họ
với mụcđích duy trì sự giao kết giữa các dòng họ ;thờ phụng tổ tiên và kế
truyền dòng dõitông tộc .Nội dung của nguyên tắc hôn nhân không tự do là vấn đề
hôn nhân được đặt dưới sự xem xét của người gia trưởng ,loại trừ sự tự do
cá nhân của hai bêntham gia hôn nhân .Việc ly hôn bị coi là bắt buộc khi quyền
lợi của gia đình ,dònghọ bị đe dọa (thất xuất:không có con , ác tật ,ghen
− Sự bất bình đẳng biểu hiện ở các quan hệ sau :
+ Yêu cầu chặt chẽ về đạo đức của người vợ khi kết hôn
+ Bảo vệ quyền gia trưởng trong gia đình của người chồng.
+Tuyệt đối thuỷ chung với chồng
+ Người vợ phải tuân thủ , phục tùng chồng.
+ Người vợ có nghĩa vụ phải ở với chồng, không được tự ý rời bỏ nhà
chồngđi nơi khác…
+ Bênh vực quyền của người chồng so với vợ : Trong khi người vợ
để tangchồng trong thời gian 3 năm bằng thười gian để tang cha mẹ, với
những quy địnhrất khắt khe, chặt chẽ về tang phục, cách xử sự… trong khi
đó PL không có quyđịnh nào về việc để tang vợ của người chồng
+ Trong quan hệ tài sản thì sự phân biệt quyền lợi giữa vợ và chồng được
thểhiện ở chỗ quyền định đoạt tài sản gia đình thuộc về người chồng, cha mẹ chồng.
+ Trong việc li hôn : Nhà làm luật quy định các duyên cớ li hôn là do lỗi
củavợ hoặc chồng
+ Có sự phân biệt đối xử với vợ lẽ: vợ cả mà phạm lỗi thì bị xử phạt nhẹ
hơnvợ lẽ, con của vợ lẽ thì được hưởng phần tài sản thừa kế ít hơn con của vợ cả.
20
+ Quan hệ cha mẹ và con được điều chỉnh trên cơ sở mệnh lệnh phục tùng
vàcó sự phân biệt đối xử giữa các con
9. Phân tích chế độ tài sản giữa vợ và chồng và phân tích chế định
thừa kế trong Quốc triều Hình Luật triều Lê.a . C h ế đ ị n h t à i s ả n :
Trong suốt 360 năm dài tồn tại, triều đại nhà Lê đã để lại cho
hậu thếnhững thành tựu to lớn trên lĩnh vực pháp luật và điển chế. Trong số các
thành tựuđó phải kể đến Quốc triều hình luật – Bộ luật quan trọng,
chính thống nhất của Triều Lê. Quốc triều hình luật cũng chính là bộ luật
cổ xưa nhất mà chúng ta cònlưu giữ được đầy đủ cho đến ngày nay. Mặc dù chịu
ảnh hưởng sâu sắc của triết lí Nho giáo – hệ tư tưởng thống trị trong xã hội thời Lê
cũng như ảnh hưởng của các bộ luật Trung Quốc (luật nhà Đường, luật nhà
Minh) nhưng nhà làm luật thời Lêđã biết tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo pháp luật
vợ chồng trong việc chuyển nhượng tàisản chung cho người khác. “Điều
đó được minh chứng qua các bằng chứng là cácvăn tự bán tài sản có chữ
ký của cả vợ chồng hoặc các tờ mẫu văn tự về bán, câmcố, trao đổi các tài
sản thực thụ và các điền nô ở thời nhà Lê bao giờ cũng đòi hỏisự thỏa thuận
của cả hai vợ chồng”
Pháp luật triều Lê đã có quy định bảo vệ cho quyền lợi của người
phụ nữrất tiến bộ và gần với pháp luật hiện đại – Điều chưa từng có trong pháp luật
phongkiến Việt Nam thời Lý – Trần trước đó cũng như triều Nguyễn sau
này và cũngkhông có trong pháp luật phong kiến Trung Quốc mà đặc
biệt là nhà Đường làtriều đại thịnh trị nhất của Trung Quốc trong lịch
sử. Phải thấy được rằng Quốctriều hình luật đã phản ánh một nét tư duy tân kỳ
mới lạ chưa từng có trong lịch sử.
b. Chế định thừa kế
22
Quốc triều hình luật có những quy định rất rõ ràng về chế
định thừa kếTrong chương Điền sản nói trên, các nhà làm luật thời Lê đã quy
định một cách cụthể về cách thức làm các loại văn tự và chúc thư về chế độ tài sản
của vợ chồng khigoá bụa, về các trường hợp nảy sinh quan hệ thừa kế và
phương thức chia tài sảnđược thừa kế. Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các
nhà làm luật thời Lê khágần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Quốc
triều hình luật quy định haitrình tự thừa kế như sau:
Thừa kế theo di chúc:
Về hình thức di chúc: có di chúc miệng và di chúc viết (chúc thư). Theo
tinhthần và nội dung của Điều 366, người làm chúc thư (cha, mẹ) phải tự viết lấy
(nếukhông biết chữ thì nhờ quan viên nào đó trong làng xã viết hộ) và phải có sự
chứngkiến cũng của quan viên trong làng xã thì chúc thư mới hợp pháp.
Nguyên tắc tựdo lập di chúc của người tôn trưởng được tôn trọng. Những
người con nào đượchưởng quyền thừa kế bao nhiêu là tùy thuộc vào người lập di
chúc quy định. Ngoàihình thức viết, pháp luật còn cho phép lập di chúc miệng, đó là
“lệnh” của ông bà.
phần dành cho vợ/chồng làmcủa riêng; một phần dành cho vợ/chồng chia ra như
sau: 1/3 dành cho gia đình nhàchồng/vợ để lo việc tế lễ; 2/3 dành cho
vợ/chồng để phụng dưỡng một đời, khôngđược làm của riêng, khi chết
giao lại cho gia đình bên chồng. Như vậy, pháp luậtđã ghi nhận một cách
bình đẳng sự đóng góp của người vợ trong tài sản chung củavợ chồng và bảo vệ
quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản do hai vợ chồng làm ra.
Câu 10: Phân tích tính dân tộc trong Bộ Quốc triều hình luật triều Lê
Theo tư liệu lịch sử, trước nhà Lê các chính quyền Nhà nước Việt tự chủ
trướcđó như Đinh, Lý, Trần…ra đời là sự kế thừa, chuyển giao chính quyền từ tập
24
đoàndòng họ này sang tập đoàn dòng họ khác. Nhà Lê sơ được thành
lập hoàn toànkhác. Đó là kết quả của cuộc kháng chiến chống Minh lâu
dài, anh dũng, vẻ vangcủa dân tộc. ý thức về độc lập, về toàn vẹn lãnh thổ
núi sông từ lâu đã hình thànhtiềm tàng trong nhận thức của mỗi người dân đất
Việt, của chính quyền Nhà nướcViệt thời tự chủ Lê sơ. 20 năm bị giặc
Minh đô hộ, áp bức, đồng hoá, Đại Việt giành lại được bằng bao nhiêu
xương máu, nên ý thức dân tộc càng được nêu caovà trở thành niềm tự hào
dân tộc, ý thức hệ dân tộc. ý thức tự tôn dân tộc đã ảnh hưởng và chi phối cả
lĩnh vực lập pháp. Bộ QTHL – tinh hoa của luật pháp thời Lêsơ đã tiếp thu tư tưởng
truyền thống dân tộc, ý thức tự tôn dân tộc về một nền văn hoá phát triển không thua
kém Trung hoa. Chính vì thế, tính dân tộc được thể hiệnrất rõ trong QTHL.
Biểu hiện của tính dân tộc:
− Phong tục tập quán là nguồn luật rất quan trọng của QTHL. Các
hươngước là phong tục tập quán được Nhà nước thừa nhận và ghi nhận
trong pháp luậtthành văn. Các nhà làm luật triều Lê đã tiếp thu các
giá trị văn hoá của dân tộc thông qua các phong tục tập quán vốn có từ
lâu đời và đang được thực hiện trongcuộc sống của quần chúng nhân dân,
đưa chúng vào hệ thống PL của triều đình.Việc áp dụng các phong tục tập
quán như vậy đã làm cho các điều khoản của bộluật phù hợp, sát với thực
tế đời sống, dễ hiểu, dễ thực hiện do đó có tính khả thicao.