TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM
ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ TRI THỨC
Sinh viên thực hiện: Nhóm 10
Lớp: KTE406(1-1112). 3_LT
Hà Nội, 2011
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
I.Lý luận chung về nền kinh tế tri thức 7
1.Nền kinh tế tri thức 7
1.1.Khái niệmĐịnh nghĩa nền kinh tế tri thức 7
1.1.1. Kinh tế là gì? 7
1.1.2. Tri thức là gì? 7
1.1.3. Định nghĩa nNền kinh tế tri thức là gì? 8
1.2.Bản chất và một số đặc trưng của nền kinh tế tri thức 10
2.Đào tạo nguồn nhân lực và yêu cầu đối với nguồn nhân lực trong trong nền
kinh tế tri thức 11
2.1.Khái niệm nNguồn nhân lực 12
2.1.1. Định nghĩaKhái niệm nguồn nhân lực 12
2.1.2. Yêu cầu đối với nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức 13
2.2.Khái niệmđĐào tạo nguồn nhân lực hướng đến mục tiêu nền kinh tế tri thức
14
2.2.1. Khái niệm đàoĐịnh nghĩa tạo nguồn nhân lực 14
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nguồn nhân lực 15
II.Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay 16
1.Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay 16
1.1.Quy mô, phân bổ nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay 16
1.1.1. Quy mô về nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay 16
2.2.2.Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 45
KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG 1. Lực lượng lao động phân theo nhóm tuổi 16
BẢNG 2. Lực lượng lao động phân theo giới tính, thành thị - nông thôn 17
BẢNG 3. Phân bố lao động có việc làm chia theo khu vực kinh tế 18
BẢNG 4. Số lượng và tỷ trọng lao động phân theo loại hình kinh tế 19
BẢNG 5. Qui mô giáo dục Đại học và Cao đẳng 20
BẢNG 6. Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo trình độ chuyên
môn kỹ thuật thời lỳ 2007 - 2010 21
BẢNG 7. Trình độ chuyên môn kỹ thuật đã đạt được của dân số từ 15 tuổi trở lên
theo một số đặc trưng kinh tế-xã hội, 2009 21
BẢNG 8. Trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã đạt được của dân số từ 15
tuổi trở lên theo nhóm tuổi, 2009 23
BẢNG 9. Phân bổ lao động theo ngành kinh tế và trình độ chuyên môn 24
BẢNG 10. Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn 24
BẢNG 11. Ngân sách dành cho giáo dục năm 2001-2010 29
BẢNG 12. Cơ sở vật chất dành cho các cấp đào tạo 29
BẢNG 13. Tỷ lệ giáo viên các cấp 31
BẢNG 14. Một số chỉ tiêu về khía cạnh nâng cao trí lực và kỹ năng lao động cho
phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2010 – 2020 38
4
LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ 21, thế kỷ của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá đã đặt ra các thách
thức đòi hỏi phải có các thay đổi trong đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng các
yêu cầu và nhiệm vụ mới về nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng làm việc
trong nền kinh tế tri thức. Với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa học
và công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong
cách tốt nhất.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm tác giả nhóm 10
6
NỘI DUNG
I. Lý luận chung về nền kinh tế tri thức
1. Nền kinh tế tri thức
Những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, dưới sự tác động mạnh mẽ
của tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ công nghệ thông tin, nền
kinh tế thế giới đang có bước chuyển từ thời đại của kinh tế công nghiệp sang
thời đại của kinh tế tri thức. Ngân hàng Thế giới (WB, 2000) đánh giá "Đối với
các nền kinh tế tiên phong trong nền kinh tế tThế giới, cán cân giữa hai yếu tố tri
thức và các nguồn lực đang nghiêng về tri thức. Tri thức thực sự đã trở thành yếu
tố quan trọng nhất quyết định mức sống - hơn cả yếu tố đất đai, hơn cả yếu tố tư
liệu sản xuất, hơn cả yếu tố lao động. Các nền kinh tế phát triển nhất về công
nghệ ngày nay thực sự đã dựa vào tri thức”.
1.1. Khái niệmĐịnh nghĩa nền kinh tế tri thức
1.1.1. Kinh tế là gì?
Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và
xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các
loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của
con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn. Các hoạt động kinh tế
thường được chia ra và đánh giá theo ba ngành kinh tế cơ bản: (1) Nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy hải sản; (2) Công nghiệp; và (3) Thương mại, ngân hàng, dịch
vụ, du lịch
Một hệ thống kinh tế là một tập hợp các nguyên tắc, cách thức và yếu tố
chi phối các hoạt động kinh tế. Các hệ thống kinh tế thường được nói đến gồm
kinh tế truyền thống, kinh tế kế hoạch, kinh tế thị trường, và kinh tế hỗn hợp.
1.1.2. Tri thức là gì?
Tri thức là:
nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng
tri thức và thông tin. ”
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa:
“Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và
8
sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra
của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế. ” (APEC 2000)
Sự ưu việt của nền kinh tế tri thức so với các nền kinh tế khác là ở chỗ:
trong kinh tế kế hoạch, các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối chủ đạo là
kế hoạch, do Chính phủ chỉ đạo và quản lý sản xuất cái gì, bao nhiêu và cho ai,
với sự nhấn mạnh đến yếu tố hướng tới phúc lợi xã hội. Trong kinh tế thị trường,
các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối chính là thị trường, ở đó các doanh
nghiệp tư nhân được khuyến khích hoạt động với mục tiêu thu lợi nhuận, các
nguồn lực được phân bổ theo cơ chế giá cả định đoạt bởi cung và cầu, với vai trò
hạn chế của Nhà nước. Khác với hai mô hình kinh tế kể trên, trong kinh tế tri
thức các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chủ yếu chi phối các hoạt động kinh tế
là tri thức con người. Các tên gọi khác như kinh tế dựa trên tri thức (knowledge-
based economy) hay kinh tế được điều hành bởi tri thức (knowledge-driven
economy) cho ta một cách hiểu trực giác hơn với sự nhấn mạnh về vai trò nền
tảng và ảnh hưởng của tri thức trong kinh tế.
Như vậy, mỗi định nghĩa tuy có sự diễn giải đôi chút khác nhau, nhưng
nội dung cơ bản là thống nhất với định nghĩa của OECD đưa ra năm 1995. Một
số nhà khoa học đưa ra: “Những tiêu chí của nền kinh tế tri thức”, cho rằng có
thể gói gọn trong 4 con số 70%:
Một nước có thể được gọi là nền kinh tế tri thức khi:
- Có hơn 70% GDP đóng góp do ngành kinh tế tri thức
- Cơ cấu giá trị gia tăng có trên 70% giá trị do lao động trí óc mang
lại.
- Cơ cấu lao động có hơn 70% là công nhân trí thức
- Cơ cấu tư bản trên 70% là tư bản con người.
đầu tư mạnh mẽ vào vốn con người (Human Capital).
Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Thời gian từ kết quả nghiên cứu khoa học đến công nghệ và đưa sản phẩm
ra thị trường ngày càng rút ngắn. Thế kỷ 19 là 60-70 năm; thế kỷ 20 là 30 năm;
thập niên 1990 chỉ còn 3 năm. Thị trường công nghệ mới, sản phẩm mới gia tăng
nhanh chóng: Để đạt mức 500 triệu người sử dụng điện thoại phải mất 74 năm;
radio 38 năm; ti vi: 13 năm; nhưng Internet chỉ có 3 năm. Phòng thí nghiệm, cơ
10
quan khoa học, ngoài nghiên cứu còn mang cả chức năng sản xuất, kinh doanh.
Quá trình đổi mới công nghệ diễn ra còn nhanh hơn cả khả năng thích nghi của
con người. Lực lượng sản xuất tinh thần đang chiếm ưu thế; tri thức (tức là các
thành tựu của KH&CN) trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn nhiều so
với các sản phẩm vật chất khác, vì nó tạo ra giá trị mới ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn hơn trong GDP.
Thời gian để tiến hành công nghiệp hóa được rút ngắn
Nhờ cuộc cách mạng KH&CN mới, những nước nghèo có thể tìm được cơ
hội để phát triển, nếu tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp cận được
trình độ KH&CN hiện đại. Ở thế kỷ 18, một nước muốn CNH phải mất khoảng
100 năm; cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 là khoảng 50 - 60 năm; trong những thập
kỷ 70 - 80 là khoảng 20 - 30 năm; đến cuối thế kỷ 20, quãng thời gian này có thể
còn ngắn hơn nữa.
Nguồn nhân lực trong xã hội nhanh chóng được tri thức hóa
Con người phải làm việc bằng năng lực trí tuệ là chính, càng không phải
chỉ là năng lực thể chất. Cơ cấu lao động xã hội thay đổi căn bản: Nhân lực trong
các ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ xử lý thông tin và dịch vụ tri thức tăng
nhanh. Sự cách biệt giàu nghèo về thực chất là sự cách biệt về tri thức và năng
lực tạo ra tri thức. Các nước đang phát triển chỉ bằng con đường phát triển
KH&CN, giáo dục - đào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức, mới có thể rút ngắn
khoảng cách với các nước phát triển.
Cơ cấu kinh tế, hình thức tổ chức xã hội thay đổi cơ bản
để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình
tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương
lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và
cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia
vào nền sản xuất xã hội”
2
1
Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá – 2001.
2
Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực – trường ĐH Kinh tế quốc dân - khoa Kinh tế và quản lí nguồn nhân
lực, NXB ĐH kinh tế quốc dân – 2009, PGS. TS Trần Xuân Cầu (chủ biên); PGS. TS Mai Quốc Chánh.
12
2.1.2. Yêu cầu đối với nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri
thức
Nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế tri thức phải là
nguồn nhân lực chất lượng cao. Ở Việt Nam, cụm từ nguồn nhân lực chất lượng
cao (NNLCLC) mới được đề cập nhiều từ khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO). Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất
cũng như những tiêu chí cơ bản để xác định thế nào là NNLCLC. Về vấn đề này
C. Mác đã từng quan niệm: “Nền công nghiệp do toàn xã hội thực hiện một cách
tập thể và có kế hoạch lại càng cần có những con người có năng lực phát triển
toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất”. Ông cũng phân tích “lao
động giản đơn” và “lao động phức tạp” và kết luận: lao động phức tạp (lao động
được đào tạo) là bội số của lao động giản đơn. Các nhà kinh tế học cũng cho
rằng: NNL mà hạt nhân của nó là lao động kĩ thuật là toàn bộ thể lực, trí lực với
trình độ chuyên môn, kĩ năng mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại
thu nhập vượt trội trong tương lai. Nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu là
bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật cao; có kĩ
năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh
Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng và khả
năng thuộc một nghề, một chuyên môn nhất định để người lao động thực hiện có
hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đào tạo nguồn nhân lực còn được hiểu là các hoạt động học tập nhằm
giúp cho con người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm
vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững
hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập làm cho người lao động
nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao
trìn độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả
hơ
n3
.
Đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự
phát triển chức năng của con người. Việc đào tạo nguồn nhân lực không chỉ được
thực hiện bên trong một tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác
được thực hiện từ bên ngoài, như: học việc, học nghề và hành nghề.
Kết quả của quá trình đào tạo nguồn nhân lực sẽ nâng cao chất lượng, phát
triển nguồn nhân lực đó.
3
Giáo trình quản trị nhân lực – trường ĐH Kinh tế quốc dân – bộ môn Quản trị nhân lực, NXB ĐH
KTQD – 2007, Nguyễn Văn Điềm và PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân (chủ biên)
14
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nguồn nhân lực
Giáo dục phổ thông: số lượng học sinh phổ thông ở các trình độ tốt nghiệp
trung học cơ sở và phổ thông trung học hàng năm là nguồn cung cấp đầu vào cho
đào tạo nguồn nhân lực. Số lượng học sinh phổ thông hàng năm càng lớn cũng có
nghĩa là đòi hỏi hệ thống giáo dục nghề nghiệp, dạy nghề và giáo dục cao đẳng
đại học phải mở rộng để thu hút và đáp ứng nhu cầu học tập của họ. Tuy nhiên,
trong giáo dục phổ thông, cái quyết định chất lượng đào tạo nguồn nhân lực là
chất lượng giáo dục chứ không phải số lượng. Do đó, nâng cao chất lượng giáo
2006 46 238, 7 9 727, 4 29 447, 7 7 063, 6
2007 47 160, 3 8 561, 8 29 392, 1 9 206, 4
2008 48 209, 6 8 734, 3 29 973, 4 9 501, 9
2009 49 322, 0 9 184, 7 30 285, 1 9 852, 2
Sơ bộ 2010 50 392, 9 9 245, 4 30 939, 2 10 208, 3
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Có sự khác nhau đáng kể về tỷ trọng phân bố lực lượng lao động giữa các
nhóm tuổi, trong đó nhóm tuổi 25-49 chiếm tỷ trọng lớn nhất trong quy mô lực
lượng lao động nước ta. Tỷ trọng nhóm tuổi từ 15-24 có xu hướng giảm dần qua
các năm, từ 20, 42% (2005) xuống 18, 35% (2010). Tỷ trọng nhóm tuổi trên 50
có xu hướng tăng dần từ 16, 27% (2005) đến 20, 26% (2010).
Lý do giải thích thực trạng trên là do dân số nước ta đang có xu hướng già
hóa. Kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009 cho thấy, chỉ số già hóa dân số của
Việt Nam tăng do tỷ lệ người cao tuổi tăng, trong khi tỉ lệ trẻ em giảm mạnh
trong thập kỷ qua. Chỉ số này cao hơn mức trung bình của các nước khu vực
Đông Nam Á (30%) do đó Việt Nam được coi là đang bước vào thời kỳ dân số
vàng. Dân số vàng là giai đoạn khi có 2 người trong độ tuổi lao động mới có 1
người trong độ tuổi phụ thuộc. Cơ cấu dân số già (hay già hóa dân số) được chia
thành 2 giai đoạn. Khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đạt 10% thì gọi là dân số
đang già, còn khi tỷ lệ này đạt 20% thì là giai đoạn dân số đã già. Tốc độc già
16
hóa dân số của nước ta tăng một cách chóng mặt là do tuổi thọ bình quân ngày
càng tăng trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết tử giảm.
1.1.1.2. Phân theo giới tính, thành thị/nông thôn và các
vùng kinh tế - xã hội năm 2010:
BẢNG 2. Lực lượng lao động phân theo giới tính, thành thị - nông thôn
Nơi cư trú/các vùng kinh
tế - xã hội
Lực lượng lao động
(nghìn người)
tra dân số, trong vòng 30 năm qua, tỷ trọng nữ chiếm trong lực lượng lao động
thay đổi rất ít (TĐT 1989: 48, 8%; TĐT 1999: 48, 2%; TĐT 2009: 48%).
Tỷ trọng nữ trong lực lượng lao động chênh lệch không đáng kể giữa thành
thị và nông thôn, nhưng thay đổi ở mức thấp nhất là 45, 7% ở Đồng bằng sông
Cửu Long lên mức cao nhất là 50, 6% ở Đồng bằng sông Hồng. Số liệu cho thấy
có sự ngược chiều về mức độ tham gia vào lực lượng lao động giữa hai giới ở hai
17
vùng Đồng bằng lớn nước ta. Trong khi ở Đồng bằng sông Cửu Long, nữ giới
chiếm tỷ trọng thấp hơn đáng kể so với nam giới (45,7% so với 54,3%), thì ở
Đồng bằng sông Hồng tỷ trọng đó gần như cân bằng giữa nữ giới và nam giới
(50,6% so với 49,4%). Nguyên nhân là do nhiều phụ nữ ở khu vực phía Nam
(vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ) chủ yếu làm công việc nội
trợ, không tham gia hoạt động kinh tế.
• Xét theo cơ cấu các vùng kinh tế:
Trong 6 vùng kinh tế-xã hội, gần hai phần ba2/3 lực lượng lao động (64, 5%
tổng lực lượng lao động của cả nước) tập trung ở 3 vùng là Đồng bằng sông
Hồng, Bắc Trung Bộ và; Duyên hải miền Trung, và Đồng bằng sông Cửu long.
Như vậy khu vực nông thôn và 3 vùng kinh tế-xã hội này là những nơi cần có các
chương trình khai thác nguồn lực lao động, tạo việc làm và đào tạo nghề trong
những năm tới.
1.1.2. Phân bổ nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay
1.1.2.1. Phân theo ngành kinh tế
BẢNG 3. Phân bố lao động có việc làm chia theo khu vực kinh tế
thời kỳ 2005 - 2010
Nông, lâm, thủy
sản
Công nghiệp và
xây dựng
Dịch vụ
2005 55, 1 17, 6 27, 3
Tỷ trọng
(%)
Số lượng
(Nghìn
người)
Tỷ trọng
(%)
Tổng số 45 868, 9 100, 0 47 999, 4 100, 0 49 465, 7 100, 0
Cá nhân 36 811, 0 80, 3 37 716, 8 78, 6 38 820, 3 78, 5
Tập thể 266, 2 0, 6 226, 5 0, 5 364, 1 0, 7
Tư nhân 2 750, 5 6, 0 3 864, 8 8, 0 3 745, 5 7, 6
Nhà
nước
5 073, 6 11, 1 4 793, 7 10, 0 4 780, 1 9, 7
Vốn đầu
tư nước
ngoài
967, 6 2, 1 1 397, 6 2, 9 1 755, 7 3, 5
Nguồn:: Báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2010 (Tổng cục Thống Kê)
Tính đến 01/07/2010 khu vực "cá nhân" chiếm tỷ trọng tới 78, 5%, tương
ứng với khoảng 38, 8 triệu lao động. “Tập thể” là loại hình kinh tế chủ đạo trong
những năm 70 đã có nhữứng đóng góp xứng đáng vào sự nghệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội nước ta thì nay chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ (0, 7%). "Tư nhân" và
"Vốn đầu tư nước ngoài" là hai loại hình kinh tế năng động nhưng tỷ trọng lao
động đang làm việc trong loại hình này còn khá khiêm tốn. Số liệu trong các
cuộc điều tra từ năm 2007 đến năm 2010 cho thấy tỷ trọng lao động làm việc ở
khu vực "Tư nhân" và "Vốn đầu tư nước ngoài" đang tăng lên, điều này cho thấy
thị trường lao động ở nước ta đã đang phát triển trong thời gian qua, nhưng vẫn
còn ở mức thấp.
1.1.3. Đánh giá về quy mô, phân bổ nguồn nhân lực Việt Nam
Ngoài công lập 138. 3 162. 3 168. 3 221. 4 -
Số sinh viên tốt nghiệp (Nghìn
SV)
210. 9 232. 5 234. 0 222. 7 246. 6
Công lập 195. 0 216. 5 215. 2 208. 7 223. 9
Ngoài công lập 15. 9 16. 0 18. 8 14. 0 22. 7
Nguồn: Bộ giáo dục và Đào tạo
Từ năm 2005 đến nay quy mô giáo dục đại học và cao đẳng đã tăng đáng kể.
Hàng năm, số sinh viên từ khu vực nông thôn, miền núi đều chiếm khoảng 70%
tổng số tuyển mới. Mặc dù có chuyển biến, nhưng cơ cấu đào tạo giữa giáo dục
ĐH với giáo dục nghề nghiệp vẫn chưa hợp lý, chưa đáp ứng nhu cầu nhân lực
trình độ cao của thị trường lao động. Số học viên cao học và nghiên cứu sinh
tăng quá nhanh trong khi chưa đủ điều kiện bảo đảm chất lượng.
1.2.2. Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Kết quả điều tra lao động và việc làm năm 2010 cho thấy tỷ trọng lao
động đã qua đào tạo của nước ta vẫn còn thấp. Trong số 50, 8 triệu người từ 15
tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của cả nước, chỉ có hơn 7, 4 triệu người đã
20
qua đào tạo, chiếm 14, 7% tổng lực lượng lao động. Như vậy, lực lượng lao động
nước ta trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật thấp.
Hiện cả nước có hơn 43, 2 triệu lao động (chiếm 85, 3% lực lượng lao động)
chưa được đào tạo để đạt một trình độ chuyên môn kỹ thuật nào đó. Con số này
đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho những cố gắng nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực
lao động phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của
nước ta.
BẢNG 6. Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo trình độ
chuyên môn kỹ thuật thời lỳ 2007 - 2010
Đơn vị: phần trăm
Trình độ chuyên môn kỹ thuật Điều tra
1/8/2007 1/9/2009 1/7/2010
đẳng thấp hơn 2 lần so với thành thị, nhưng thấp hơn tới 6 lần ở trình độ đại học
và tới 20 lần ở trình độ trên đại học. Ssự khác biệt về trình độ chuyên môn kỹ
thuật cũng khá lớn khi so sánh dân tộc Kinh với các nhóm dân tộc khác.
22
BẢNG 8. Trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã đạt được của dân số từ
15 tuổi trở lên theo nhóm tuổi, 2009
Đơn vị tính: Phần trăm
Nhóm tuổi Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học Sau đại học
15–19 0, 9 0, 4 0, 1 0, 1 0, 00
20–24 3, 0 7, 1 2, 6 2, 9 0, 02
25–29 3, 6 7, 3 3, 3 8, 3 0, 3
30–34 3, 4 4, 1 2, 1 7, 6 0, 4
35–39 3, 2 3, 7 1, 3 4, 7 0, 3
40–44 2, 7 4, 2 1, 4 3, 6 0, 2
45–49 2, 7 5, 4 1, 5 4, 2 0, 3
50–54 2, 8 6, 3 1, 6 4, 2 0, 3
55–59 2, 5 6, 9 1, 8 4, 5 0, 3
60–64 2, 5 7, 5 1, 5 4, 5 0, 2
65+ 1, 1 3, 1 0, 6 2, 3 0, 2
Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo
Số liệu thống kê trên đây cho thấy: Với trình độ sơ cấp, nhóm 30-39 tuổi
có tỷ lệ cao nhất (từ 3, 4 -3, 6%). Với trình độ Trung cấp, nhóm tuổi từ 65 trở lên
có tỷ lệ cao nhất (7, 5%), tiếp theo là nhóm 30-34 tuổi (7, 3%). Với trình độ Cao
đẳng, nhóm 30-34 tuổi cũng có tỷ lệ cao nhất (3, 3%) so với các nhóm tuổi khác.
Nhóm 30-34 tuổi và 35-39 tuổi cũng là các nhóm có trình độ đại học cao nhất.
dân số trong nhóm tuổi này là những người được sinh ra sau khi thống nhất đất
nướcvà có nhiều cơ hội học tập hơn các thế hệ trước khi đất nước bước vào thời
kỳ mở cửa. Đđiều này giải thích nhóm tuổi này có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao nhất trong dân số. Tỷ lệ tốt nghiệp trên đại học rất thấp, dưới mức 0, 5% ở tất
cả các nhóm tuổi. Tỷ lệ dân số có trình độ đại học và trên đại học thấp đang là
Năm 2009 8, 321, 474 1319258 530, 157 781
Năm 2010 8, 825, 592 977972 547, 534 30, 293
3. Khu vực dịch vụ
Không có
trình độ CMKT
Trung cấp,
dạy nghề
Cao đẳng,
đại học trở lên
KXĐ
Năm 2007 8, 065, 974 2599536 2, 378, 790 11, 762
Năm 2008 7, 541, 135 2770362 2, 535, 895 32, 510
Năm 2009 8, 566, 168 2612247 2, 580, 067
Năm 2010 8, 729, 013 2032569 2, 890, 741 34, 574
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nguồn nhân lực không có trình độ chuyên môn của nước ta còn nhiều và
chủ yếu tập trung ở khu vực nông nghiệp (năm 2010 tỷ trọng nguồn nhân lực
chưa qua đào tạo trong ngành nông nghiệp chiếm tới 97,. 57%). Trong khi đó,
mặc dù số lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên liên tục tăng qua các
năm đặc biệt trong khu vực dịch vụ tuy nhiên tỷ trọng của nhóm lao động này
vẫn còn thấp.
BẢNG 10. Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn
Đơn vị: người
Không có trình
độ CMKT
Trung cấp,
dạy nghề
CĐ, ĐH trở
lên
KXĐ Tổng Cơ
7. 27 17. 85
Năm
2010
38, 058, 360 3, 362, 632 3, 521, 851 147, 638
45, 090,
481
6. 36 15. 27
Nguồn: Tổng cục thống kê
Tỷ trọng công nhân trí thức trong lực lượng lao động của nước ta vẫn còn
rất thấp (năm 2010 là 6, 36%), chưa đạt đến tiêu chuẩn của nền kinh tế tri thức.
Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo của nước ta có cải thiện từ năm 2007
đến 2008 (từ 13, 73% tăng lên 18, 82%) nhưng đến năm 2009, 2010, tỷ trọng này
lại có xu hướng giảm. Điều này cho thấy nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho
giáo dục và đào tạo còn chưa được sử dụng hợp lý, hiệu quả.
25