ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÙI MẠNH CƢỜNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN
TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
Ở VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 62.31.01.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. TRẦN THỊ THÁI HÀ
HÀ NỘI – 2012 3.2.1. Tình hình đất nước 160
3.2.2. Bối cảnh quốc tế 160
3.2.3. Định hướng 161
3.3. Quan điểm về ĐTPT từ nguồn vốn NSNN 173
3.3.1. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN lấy hiệu quả làm thước đo hàng đầu 173
3.3.2. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN phải góp phần khẳng định vai trò của Nhà
nước trong nền KTTT 174
3.3.3. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN phải có tỷ trọng phù hợp 174
3.3.4. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN phải có trọng tâm, trọng điểm 175
3.3.5. ĐTPT từ NSNN phải hài hòa giữa vốn NSTW và NSĐP, các cấp ngân
sách với nhau, giữa ngân sách cứng và mềm 176
3.3.6. ĐTPT từ NSNN phải nâng cao tính cạnh tranh trong nội bộ 177
3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc 177
3.4.1. Phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm trong ĐTPT từ NSNN 177
3.4.2. Đổi mới căn bản chủ trương, định hướng đầu tư phát triển 183
3.4.3. Đổi mới cơ cấu đầu tư phát triển 189
3.4.4. Đổi mới huy động và phân bổ nguồn lực cho ĐTPT 196
3.4.5. Tăng cường năng lực tổng thể về đầu tư phát triển 199
3.4.6. Tăng cường hợp tác quốc tế 206
3.4.7. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường 207
3.4.8. Tạo lập môi trường ĐTPT tốt, phát huy yếu tố có lợi, hạn chế yếu tố ảnh
hưởng tiêu cực đến ĐTPT 208
KẾT LUẬN
MỘT SỐ CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
“Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam” làm
đề tài luận án tiến sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
ĐTPT nói chung và ĐTPT từ nguồn vốn NSNN nói riêng là một vấn đề được các nhà
nghiên cứu Việt Nam và quốc tế rất quan tâm.
Nhìn chung các nghiên cứu này đều thống nhất rằng ở Việt Nam, ĐTPT có vai trò quan
trọng đặc biệt và đã góp phần tích cực vào việc phát triển đất nước. Tăng trưởng kinh tế do
yếu tố vốn là chủ yếu. Hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN còn hạn chế, phải tiếp tục được
nâng cao. Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN một cách cụ thể và có
luận cứ thì chưa thật rõ.
Đối với hoạt động ĐTPT và ĐTPT từ nguồn vốn NSNN, theo tìm hiểu của tác giả tại một
số thư viện lớn như Thư viện Quốc gia, Thư viện Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia,
Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Tài chính, Đại học Thương
Mại, Học viện Ngân hàng, Đại học Luật Hà Nội, Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội, Đại
học Xây dựng Hà Nội, hiện có một số công trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan.
Các công trình nghiên cứu này do cá nhân các nhà khoa học hoặc do các cơ quan QLNN
nghiên cứu và công bố, với mức độ khác nhau, có sự liên quan ít/nhiều với ĐTPT đều có chung
nhận định về hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam còn thấp và nguyên nhân là chủ
trương đầu tư không đúng, thời gian thực hiện đầu tư chậm, thất thoát, lãng phí, tham nhũng,
tiêu cực, đầu tư sai, đầu tư dàn trải, đầu tư khép kín,…Các công trình nói trên thường đề cập
2
đến những khía cạnh, góc độ, phạm vi không gian và thời gian khác nhau, trên những vùng
lãnh thổ khác nhau, theo các thành phần kinh tế,…cả về lý thuyết, thực tiễn, dự báo và định
hướng liên quan đến ĐTPT. Tuy nhiên chưa thấy công trình nghiên cứu nào đề cập một cách
hệ thống, đầy đủ cả về lý luận, đánh giá thực trạng, xây dựng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu
quả kinh tế, hiệu quả xã hội, môi trường, bền vững, đồng thời cập nhật tình hình mới với số liệu
đến năm 2010 và chiến lược phát triển KTXH của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã được
thông qua.
Các cơ quan nhà nước, bộ ngành ở Việt Nam như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài
Thái Lan, Malaysia, Singapore,…Trong nước, một số địa phương ĐTPT có hiệu quả; một số
vùng kinh tế có nét riêng biệt trong ĐTPT. Các ngành kinh tế thực hiện ĐTPT với những đặc
điểm riêng. Các đề tài nghiên cứu về thực tiễn ĐTPT đã xem xét, đánh giá, nhận xét, luận
giải trên nhiều bình diện, phạm vi, mức độ, thời gian, không gian, bối cảnh,…và đã rút ra
được một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn. Tuy nhiên, hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn
NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn 2005-2010 chưa được xem xét hệ thống, cụ thể, toàn diện
theo hệ thống các chỉ tiêu được xây dựng hợp lý và có thể áp dụng tính toán với các số liệu
cụ thể. Bối cảnh kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng và việc chuyển đổi kinh
tế ở Việt Nam đã có những thành tựu nhất định sau hơn 25 năm đổi mới trong điều kiện hội
nhập có tính chất toàn cầu hoá. Định hướng phát triển kinh tế, Chiến lược phát triển KTXH
Việt Nam 2011-2020 vừa mới được Việt Nam chính thức công bố. Do vậy, nghiên cứu về
3
ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam hiện nay phải có những tiếp cận mới theo hướng hội
nhập quốc tế và chuyển đổi kinh tế gắn với việc cập nhật các số liệu mới nhất.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Đánh giá hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn 2005-
2010, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của ĐTPT từ nguồn vốn
NSNN.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn
NSNN.
- Sử dụng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn
NSNN để đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010.
- Đề xuất định hướng, hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ĐTPT từ nguồn
vốn NSNN ở Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
NSNN ở Việt Nam từ năm 2005-2010. Chỉ ra nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả ĐTPT từ
nguồn vốn NSNN của Việt Nam.
4
- Đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ĐTPT
từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 trong điều kiện của nền kinh tế
chuyển đổi và hội nhập quốc tế với mục tiêu CNH, HĐH đất nước.
7. Bố cục của luận án
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu
tham khảo, danh mục các công trình đã công bố của tác giả và các phụ lục, luận án được chia
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam
Chương 3: Định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ở
Việt Nam
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ
ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN
1.1.1. Đầu tƣ phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc
1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Từ các quan điểm trong các lý thuyết kinh tế, quan điểm của các nhà nghiên cứu cho
thấy đầu tư là việc huy động một hoặc một số nguồn lực trong các nguồn lực sau: tiền, tài
nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ và đưa ra để tiến hành các hoạt động cụ thể nào đó
trong một khoảng thời gian dài hạn (từ 2 năm trở lên) với mục đích thu được các kết quả
trong tương lai về tiền, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực lớn hơn nguồn lực bỏ
ra theo một cách tính toán nào đó.
Có thể chia đầu tư làm 3 loại: đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư phát triển.
đầu tư khác chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính cho người đầu tư mà không trực tiếp làm
tăng tài sản thực cho người đầu tư. Như vậy ĐTPT có bản chất là tìm kiếm lợi ích và vì mục
đích phát triển.
1.1.1.4. Vai trò ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
- ĐTPT từ NSNN có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc đảm bảo duy trì sự tồn tại,
hoạt động và phát triển của bộ máy nhà nước.
- ĐTPT từ NSNN có vai trò thúc đẩy, định hướng, chi phối, dẫn dắt, điều chỉnh,…
trong hoạt động ĐTPT nói chung của toàn bộ nền kinh tế.
- ĐTPT từ NSNN có vai trò to lớn trong việc thực hiện các nhiệm vụ KTXH của Nhà
nước như đảm bảo nền kinh tế hoạt động có hiệu quả và đúng định hướng, thực hiện công
bằng xã hội, mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô,…
1.1.1.5. Đặc điểm ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
- ĐTPT từ NSNN thường hướng đến những công trình dự án quan tâm đến hiệu quả xã
hội nhiều hơn là hiệu quả kinh tế. Nói cách khác mục đích của các dự án ĐTPT từ nguồn
vốn NSNN hướng đến tối đa hoá phúc lợi xã hội nhiều hơn là chú ý đến tối đa hoá lợi ích
kinh tế.
- ĐTPT từ nguồn vốn NSNN là sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường nhằm khắc
phục yếu kém, khuyết tật và sự thất bại của thị trường.
- Chi ĐTPT từ nguồn vốn NSNN là khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính ổn
định, chi theo ngân sách hàng năm, bị ảnh hưởng bởi yếu tố nhiệm kỳ nên dễ xảy ra dàn trải,
manh mún, nợ công, quyết định đầu tư vội vàng, đầu tư sai, đầu tư hình thức, đầu tư theo
phong trào, thiếu hiệu quả đích thực.
- Chi ĐTPT từ nguồn vốn NSNN mang tính chất chi cho tích luỹ. Phạm vi và mức độ
chi luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển KTXH của Nhà nước trong
từng thời kỳ.
- ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ít có tính cạnh tranh trong việc thực hiện mà chủ yếu
cạnh tranh qua cấp phát, xin cho, vì vậy dễ dẫn đến chất lượng hiệu quả thấp kém, dễ xảy ra
tiêu cực, tham nhũng, thất thoát.
- ĐTPT từ nguồn vốn NSNN có chủ sở hữu tài sản là Nhà nước nhưng đơn vị thực
hiện, đơn vị sử dụng, hưởng lợi và chủ sở hữu thường không phải là một nên trách nhiệm đối
triển, cân đối vĩ mô, khắc phục khuyết tật của thị trường, đảm bảo an sinh XH, hướng tới
công bằng bình đẳng, SX hàng hóa công…
1.1.1.7. Mối quan hệ giữa ĐTPT từ NSNN với tăng trƣởng kinh tế, phát triển kinh
tế, phát triển bền vững
ĐTPT từ nguồn vốn NSNN là hoạt động ĐTPT nên có quan hệ chặt chẽ, tác động qua
lại với tăng trưởng kinh tế, nhất là đối với tăng trưởng của kinh tế Nhà nước và cân đối vĩ
mô. ĐTPT góp phần giải quyết các vấn đề XH cùng với tăng trưởng kinh tế, do vậy ĐTPT
tác động sâu sắc đến phát triển kinh tế. Ngược lại phát triển kinh tế tạo điều kiện tích luỹ
vốn, tiết kiệm và đảm bảo môi trường để tăng ĐTPT. Đối với ĐTPT từ nguồn vốn NSNN,
tác động qua lại của nó đối với phát triển kinh tế quan trọng hơn là đối với tăng trưởng kinh
tế so với các loại nguồn vốn khác. Đồng thời các loại nguồn vốn khác ngoài Nhà nước mang
xu hướng đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng kinh tế. ĐTPT từ NSNN hướng tới tối đa hóa
phúc lợi XH, góp phần cân đối vĩ mô.
Bên cạnh việc thúc đẩy phát triển kinh tế, ĐTPT có thể gây nên một số tác động tiêu
cực như ô nhiễm, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, mất cân bằng sinh
thái, gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, xói mòn văn hoá,
ĐTPT từ nguồn vốn NSNN tác động quan trọng đến ĐTPT nói chung; tác động tích
cực vào tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế, phát triển kinh tế bền vững, ổn định kinh tế vĩ
mô, cân đối hài hòa vùng, miền lãnh thổ và ngành nghề, khắc phục thất bại thị trường, SX và
cung ứng hàng hóa công…và ngược lại những vấn đề này cũng quay trở lại tác động mạnh
mẽ đến ĐTPT từ nguồn vốn NSNN.
1.1.1.8. Môi trƣờng của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
Môi trường của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN đặt trong môi trường của ĐTPT chung.
Tuy nhiên, môi trường của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN cũng có nét riêng biệt. Nó phụ thuộc
rất lớn vào chính sách ĐTPT của Nhà nước; cơ chế phân bổ nguồn lực; quy hoạch, kế hoạch
ĐTPT chung và ĐTPT từ nguồn vốn NSNN nói riêng; mức độ cạnh tranh trong hoạt động
ĐTPT của Nhà nước; sự công khai, minh bạch, hiệu quả giám sát hoạt động ĐTPT,…
1.1.2. Hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
Hiệu quả của ĐTPT là hiệu quả tổng hợp của hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và đảm
bảo môi trường trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững nhằm hướng tới chất
Hai là, Nhà nước phải ưu tiên vốn để ĐTPT công trình, dự án về môi trường, bởi đây là
lĩnh vực công ích, ít lợi nhuận, các nhà đầu tư khác không muốn đầu tư.
Ba là, ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ngoài việc phải đảm bảo có hiệu quả về mặt môi
trường như ĐTPT từ các nguồn vốn khác, còn có vai trò hỗ trợ, dẫn dắt, thúc đẩy,… toàn xã
hội ĐTPT hướng tới làm cho môi trường xanh hơn, sạch hơn.
1.1.2.4. Hiệu quả về phát triển bền vững
Hiệu quả của ĐTPT về phát triển bền vững là việc ĐTPT đưa lại sự tăng trưởng, phát
triển kinh tế, xã hội cùng với việc đảm bảo môi trường và phát triển phải bền vững.
ĐTPT từ nguồn vốn NSNN có ý nghĩa hết sức quan trọng quyết định trong phát triển
bền vững. Nó được thể hiện ở chỗ trước hết ĐTPT từ nguồn vốn NSNN phải gương mẫu
trong việc phát triển bền vững. Sau đó là việc Nhà nước phải ưu tiên ĐTPT từ nguồn vốn
NSNN phát triển bền vững. Bởi chỉ có Nhà nước mới quan tâm nhiều hơn đến phát triển bền
vững, ổn định vĩ mô, khắc phục khuyết tật thị trường,…còn các nhà đầu tư khác quan tâm
nhiều hơn đến lợi ích kinh tế.
1.1.2.5. Hiệu quả tổng hợp
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ĐTPT nói trên có mức độ, phạm vi và điều kiện tác
động khác nhau. Khi tổ hợp các tác động này có những yếu tố bổ sung làm tăng sự tác
động tích cực của yếu tố khác nhưng cũng có những yếu tố lại tác động tiêu cực đến yếu
tố khác khi cùng tác động. Do vậy để đánh giá một cách chung nhất hiệu quả của hoạt
động ĐTPT cần phải xét hiệu quả tổng hợp. Có nhiều phương pháp để tính toán hiệu quả
tổng hợp. Đơn giản thì có phương pháp cho điểm, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
Phức tạp hơn có phương pháp hồi quy, phương pháp số bình quân đa chiều, Sử dụng
phương pháp này, phương pháp khác hoặc tổ hợp các phương pháp là tuỳ thuộc người
đánh giá lựa chọn trong những trường hợp cụ thể. Nhưng dù sử dụng phương pháp nào thì
cũng cần phải xác định rõ ràng. 8
1.1.3. Những yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
1.1.3.1. Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
- Phân tích nguyên nhân dẫn đến kết quả, hiệu quả của ĐTPT cao/thấp ;
- Đưa ra nhận định về hiệu quả của ĐTPT.
1.1.4.1. Hệ thống chỉ tiêu
a) Đánh giá hiệu quả kinh tế
Chỉ tiêu 1: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào phát triển GDP kinh tế
nhà nƣớc và GDP
Ở chỉ tiêu này cần xem xét dưới 2 góc độ :
Một là, đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào phát triển GDP kinh tế nhà nước.
Nếu ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ngày càng tăng cao mà không đưa lại sự phát triển của GDP
kinh tế nhà nước thì sự đầu tư ấy cũng có hiệu quả không cao.
Hai là, ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ngoài việc đóng góp vào sự phát triển của GDP
kinh tế nhà nước còn thúc đẩy phát triển GDP kinh tế ngoài nhà nước và đầu tư nước ngoài.
Như vậy ĐTPT từ nguồn vốn NSNN nếu có hiệu quả cao sẽ tạo ra sự phát triển GDP chung
cao (bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, đầu tư nước ngoài).
Chỉ tiêu 2: Đánh giá hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN thông qua hiệu suất đầu tƣ
Dùng hệ số ICOR có thể đánh giá hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN. Nếu hệ số
ICOR cao thì hiệu quả ĐTPT thấp.
9
Chỉ tiêu 3: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào tăng thu NSNN đảm bảo
ngày càng tốt hơn cho hoạt động của Nhà nƣớc
Hiệu quả của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN trong việc tăng thu NSNN được xem xét trên
cả 2 khía cạnh, số lượng và chất lượng.
Nếu tốc độ tăng vốn ĐTPT lớn hơn tốc độ tăng thu NSNN của khu vực nhà nước cũng
như tăng thu NSNN nói chng thì ĐTPT của nhà nước chưa hiệu quả trong việc tăng thu
NSNN.
Chỉ tiêu 4 : ĐTPT từ nguồn vốn NSNN và tiêu dùng cuối cùng của Nhà nƣớc
Có thể so sánh tương quan giữa tốc độ tăng vốn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN và tốc độ
tăng tiêu dùng của Nhà nước để đánh giá hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN.
Chỉ tiêu 5 : Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào cân đối cán cân thƣơng
Chỉ tiêu 2: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN tạo thêm việc làm
ĐTPT có hiệu quả thể hiện ở chỗ tạo thêm nhiều việc làm mới.
Chỉ tiêu 3: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN giảm đói nghèo
ĐTPT từ nguồn vốn NSNN có hiệu quả thể hiện ở việc giảm số người nghèo đói, giảm
khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh XH,… Để đo lường hiệu quả của ĐTPT đối với
giảm đói nghèo cần xem xét tương quan giữa tốc độ tăng vốn ĐTPT và tốc độ giảm tỷ lệ đói
nghèo. Tốc độ giảm đói nghèo thể hiện qua các số liệu như: thu nhập bình quân đầu người
10
một tháng; chi tiêu bình quân đầu người một tháng; tỷ lệ nghèo chung; tỷ lệ hộ nghèo; thu
nhập bình quân hàng tháng của lao động trong khu vực kinh tế nhà nước ;
Chỉ tiêu 4: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào bình ổn giá cả, kiềm chế
lạm phát
Các số liệu thống kê hàng năm về giá thường bao gồm chỉ số giá tiêu dùng ; chỉ số giá
xuất/ nhập khẩu; chỉ số giá vàng và đô la Mỹ ; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất
hàng công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản ; chỉ số giá bán sản phẩm của người
sản xuất,… Đây là những số liệu thông kê cho phép nghiên cứu, đánh giá về hiệu quả ĐTPT.
Tuỳ theo loại chỉ số mà cách thức đánh giá khác nhau.
Chỉ tiêu 5: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào tăng NSLĐ
Đóng góp của ĐTPT vào tăng NSLĐ có thể xét trên 2 khía cạnh:
- Về hiệu quả kinh tế: NSLĐ cao sẽ làm cho lợi ích kinh tế tăng. NSLĐ cao thể hiện
ĐTPT hiệu quả hơn.
- Về hiệu quả xã hội: NSLĐ tăng góp phần làm cho thu nhập, đời sống của người lao
động tăng cao trong khi phải bỏ ra ít sức lực lao động hơn; trình độ KHCN, kỹ năng, chất
lượng nguồn nhân lực được nâng lên; cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế hướng tới CNH,
HĐH nhiều hơn,…Như vậy ĐTPT đã có hiệu quả xã hội.
Chỉ tiêu 6: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào việc phát triển sự nghiệp
giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội.
Một là, đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào việc phát triển sự nghiệp giáo
dục và đào tạo.
yếu so với tổng vốn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ vốn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN trong tổng vốn ĐTPT toàn xã hội.
Chỉ tiêu 5: Tỷ lệ vốn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN cho khu vực SXKD và khu vực
xây dựng KCHT trong tổng vốn ĐTPT toàn xã hội.
Chỉ tiêu 6: Tỷ lệ vốn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN cho con ngƣời (nguồn nhân lực)
trong tổng vốn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
Chỉ tiêu 7: Tỷ lệ vốn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN cho hoạt động khoa học, kỹ
thuật, công nghệ trong tổng vốn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN
1.2.1. Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan
1.2.1.1. Nhật Bản
Nhật Bản xác định hiệu quả ĐTPT thể hiện ở 6 kết quả chính: GDP, GNI tăng; GDP,
GNI bình quân đầu người tăng; phân phối thu nhập công bằng; bảo hiểm an toàn cho duy trì
mức sống; nâng cao đời sống, sức khoẻ, vật chất, tinh thần; đảm bảo quyền tự do của người
lao động.
1.2.1.2. Hàn Quốc
Từ thực tiễn phát triển của Hàn Quốc cho thấy, một quốc gia có tài nguyên thiên nhiên
nghèo nàn, xuất phát điểm kinh tế thấp, đất nước bị chiến tranh tàn phà nặng nề nếu ĐTPT
hiệu quả sẽ đưa lại sự phát triển vượt bậc cho nền kinh tế.
Điểm mấu chốt là xác định chiến lược phát triển KTXH đúng đắn và mềm dẻo thì
ĐTPT mới có hiệu quả; coi trọng ĐTPT phát triển nguồn nhân lực; đa dạng hoá hệ thống tài
chính để thu hút vốn ĐTPT; tập trung ĐTPT xây dựng các tập đoàn kinh tế lớn (chaebol) kể
cả vốn Nhà nước và tư nhân để làm đầu tàu, nòng cốt cho phát triển kinh tế; củng cố và nâng
cao hiệu quả các DNNN; thu hút tư nhân tham gia ĐTPT để bớt gánh nặng cho nhà nước.
1.2.1.3. Đài Loan
Đài Loan lựa chọn CNH, HĐH với định hướng ĐTPT công nghiệp hướng vào kỹ thuật
cao, tiếp đến là CNH gắn với HĐH. Tập trung nghiên cứu triển khai, đầu tư nhập khẩu công
nghệ mới cho những ngành công nghiệp mới có triển vọng, trong đó lựa chọn chính xác các
ngành chủ lực như vi điện tử, máy tính, bán dẫn, Đài Loan chú trọng ĐTPT chiều sâu, lựa
chọn ngành nghề và sản phẩm chủ lực đúng nên chất lượng tăng trưởng tốt.
của Malaysia là bài học cho Việt Nam: Lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp tối ưu với
điều kiện CNH, HĐH của một nước nông nghiệp trình độ phát triển thấp. Khi đã phát triển
được nông nghiệp, giải quyết được vấn đề lương thực thực phẩm để ổn định XH, tiếp tục
phát triển công nghiệp theo hướng đa dạng, phát triển về bề rộng. Lựa chọn và tập trung
ĐTPT vào ngành công nghiệp chủ lực, mũi nhọn là ngành khai thác, chế biến dầu mỏ. Khi
đã phát triển được công nghiệp theo bề rộng, định hình và lựa chọn được ngành công nghiệp
chủ lực mũi nhọn, tiếp tục ĐTPT công nghiệp về chiều sâu. Tăng cường ĐTPT triển khai
ứng dụng tiến bộ KHKT, khuyến khích nghiên cứu triển khai ngay tại doanh nghiệp để đưa
nhanh tiến bộ KHKT vào SX, rút ngắn thời gian từ khâu nghiên cứu đến khâu áp dụng.
Khuyến khích ĐTPT giáo dục đào tạo để nâng cao dân trí, trình độ KHKT và phát huy tối đa
lợi thế đất nước. Trong công nghiệp đặc biệt chú trọng ĐTPT vào khu vực tư nhân, coi khu
vực tư nhân là chủ đạo của nền kinh tế. …
1.2.3.3. Singapore
Từ thực tiễn ĐTPT ở Singapore có thể rút ra: Tận dụng thời cơ, lợi thế về địa lý, phát
huy tiềm năng thế mạnh con người. Lựa chọn và thừa kế, phát triển hệ thống luật pháp của
nước ngoài để rút ngắn thời gian xây dựng luật lệ trong đó có cả các văn bản liên quan đến
ĐTPT. Xây dựng môi trường trong sạch cho ĐTPT. Nhà nước xây dựng hệ thống hành
chính chuẩn mực, liên hoàn, thống nhất toàn vẹn. Tinh giản bộ máy hành chính nhà nước,
thiết lập hệ thống pháp lý toàn diện, lấy luật pháp làm nền tảng cho mọi hoạt động của tổ
chức và công dân, kiên quyết chống tham nhũng. Ngoài môi trường chính trị, KTXH, chú
trọng phát triển môi trường tự nhiên, đảm bảo phát triển bền vững. ĐTPT những ngành kinh
tế mũi nhọn, chủ đạo trong nước phù hợp trong từng giai đoạn phát triển. Tăng cường đầu tư
vốn ra ngoài. Tập hợp đội hình các công ty như lớn như STRAITS, STEAMSHIP LAND,…
để tăng cường ĐTPT hướng ngoại. ĐTPT xây dựng nền kinh tế đạt trình độ tiên tiến trên thế
giới. ĐTPT khối thương mại tổng hợp. ĐTPT để sử dụng tối đa lợi thế của một cảng thương
mại trung chuyển quốc tế. Phát triển KCHT toàn diện. Quy hoạch đô thị, quản lý đất đai để
ĐTPT đúng hướng, tránh lãng phí, dàn trải, manh mún. Cùng với ĐTPT KCHT kinh tế hiện
đại, Nhà nước quan tâm ĐTPT các CSHT xã hội, trong đó giáo dục và đào tạo nguồn nhân
lực có kỹ năng và kỷ luật là chiến lược ưu tiên. Nhà nước ĐTPT nhà ở giá rẻ để đa số người
dân có nhà ở thuộc sở hữu riêng hoặc thuê. Nhà nước chủ trương và kiên trì thực hiện ĐTPT
thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân được
nâng cao. Công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt, vượt mục tiêu
phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.
2.1.2. Văn hoá - xã hội
Giáo dục - Đào tạo có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường
lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học, trên đại học. Khoa học công nghệ và tiềm
lực KHCN có bước phát triển nhất định. Nhiều thành tựu KHCN đã được đưa vào áp dụng
trong thực tế, mang lại hiệu quả KTXH rõ rệt. Đặc biệt là trong các lĩnh vực nông nghiệp, y
tế, bưu chính viễn thông, Kinh phí đầu tư cho KHCN được tăng lên. Công tác chăm sóc sức
khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ. Văn hoá, có bước phát triển tốt. Cơ cấu xã hội nước ta có
những biến đổi theo hướng tiến bộ. Giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo chuyển biến
tích cực.
2.2. HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ ĐTPT TỪ NGUỒN VỐN NSNN
2.2.1. Hiện trạng đầu tƣ phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc
2.2.1.1. Quy mô ĐTPT từ nguồn vốn NSNN tăng nhanh theo thời gian
2.2.1.2. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng vốn ĐTPT toàn
xã hội
2.2.1.3. Cơ cấu trong nội bộ nguồn vốn ĐTPT từ NSNN chƣa hợp lý
a) Vốn NSNN cấp phát dành cho ĐTPT
b/ Vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc
c/ ĐTPT của các doanh nghiệp nhà nƣớc
2.2.1.4. Cơ cấu vốn ĐTPT từ NSNN theo ngành kinh tế
2.2.1.5. Cơ cấu vốn ĐTPT từ NSNN theo phân cấp hành chính
2.2.2. Hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
2.2.2.1. Hiệu quả kinh tế
Chỉ tiêu 1: ĐTPT từ NSNN vào phát triển GDP kinh tế nhà nƣớc
Giai đoạn 2006-2008 và 2009-2010 hiệu quả ĐTPT từ NSNN đối với việc phát triển
GDP kinh tế nhà nước có xu hướng tăng, giai đoạn 2005 – 2006 và giai đoạn 2008 -2009
14
Một là, đóng góp của ĐTPT từ nguốn vốn NSNN vào sự gia tăng doanh thu thuần
SXKD của các DNNN.
Hai là, đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào sự gia tăng vốn SXKD bình quân
hàng năm của các doanh nghiệp, trong đó có DNNN.
Ba là, đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào sự gia tăng TSCĐ và đầu tư tài
chính dài hạn của các doanh nghiệp, bao gồm cả DNNN
2.2.2.2. Hiệu quả xã hội
Chỉ tiêu 1: ĐTPT từ NSNN và việc nâng cao mức sống ngƣời dân
Giai đoạn 2006-2008 và 2009-2010, ĐTPT từ nguồn vốn NSNN có hiệu quả tăng trong
việc nâng cao mức sống người dân, còn các giai đoạn 2005 -2006 và giai đoạn 2008-2009
có hiệu quả giảm, đặc biệt giai đoạn 2008-2009 hiệu quả giảm rõ rệt. Nhìn chung trong cả
giai đoạn 2005-2010, ĐTPT từ nguồn vốn NSNN có hiệu quả giảm rõ rệt trong việc nâng
cao mức sống cho người dân.
Chỉ tiêu 2: ĐTPT từ nguồn vốn NSNN và vấn đề giải quyết việc làm
ĐTPT có hiệu quả khi tạo thêm nhiều việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị,
tăng thời gian lao động ở nông thôn.
Từ 2005-2007, hiệu quả ĐTPT từ NSNN trong việc tăng thêm số lao động bình quân
trong khu vực nhà nước giảm dần, giai đoạn 2008-2009 tăng lên. Nhìn chung trong cả giai
đoạn 2005-2010, ĐTPT từ nguồn vốn NSNN có hiệu quả tăng nhưng thiếu ổn định.
15
Chỉ tiêu 3: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào giảm đói nghèo
Giảm đói nghèo là một trong những mục tiêu của ĐTPT và của xã hội. ĐTPT có hiệu
quả thể hiện ở việc giảm số người nghèo đói, giảm khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh
xã hội. Để đo lường sự tác động của ĐTPT vào giảm đói nghèo cần xem xét hệ số tương
quan giữa tốc độ tăng trưởng vốn ĐTPT và tốc độ giảm tỷ lệ đói nghèo. ĐTPT từ nguồn vốn
NSNN trong việc giảm hộ nghèo ở nông thôn có hiệu quả tăng lên.
Chỉ tiêu 4: Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào bình ổn giá cả, giảm
lạm phát
Tuỳ theo loại chỉ số mà cách thức đánh giá khác nhau. Tuy nhiên, nếu giá cả không ổn
các vùng kinh tế trọng điểm, động lực, các khu kinh tế, khu công nghiệp lớn không thành
công. Hiệu quả ĐTPT tăng/giảm thiếu ổn định và ngày càng giảm dần với tốc độ lớn trong
việc đóng góp vào phát triển GDP kinh tế nhà nước. ĐTPT từ nguốn vốn ngoài nhà nước có
hiệu quả tăng trong việc đóng góp vào phát triển GDP kinh tế ngoài nhà nước, tuy nhiên tăng
trưởng không ổn định. Hiệu quả ĐTPT khu vực FDI tăng nhưng rất ít và thiếu ổn định trong
việc đóng góp vào GDP khu vực đầu tư nước ngoài. Nhà nước cần xem xét điều chỉnh chính
16
sách đối với đầu tư FDI để có hiệu quả ngày càng tăng và ổn định tích cực. Hiệu quả ĐTPT
toàn XH đối với GDP toàn xã hội tăng nhưng rất ít và thiếu ổn định. Như vậy, nhìn trên bình
diện toàn xã hội ĐTPT có hiệu quả tăng, nhưng ít. Nhà nước cần đổi mới toàn diện ĐTPT để
hiệu quả ngày càng tăng, ổn định, thiết thực. Hiệu quả ĐTPT từ NSNN từ 2005-2008 lớn
hơn hiệu quả ĐTPT toàn xã hội và giai đoạn 2008-2009 nhỏ hơn. Đối với ĐTPT từ nguồn
vốn ngoài nhà nước, giai đoạn 2005-2006 hiệu quả kém hơn ĐTPT toàn xã hội, giai đoạn
2007-2009 hiệu quả tốt hơn. Đối với đầu tư FDI, năm 2005, 2009 hiệu quả tốt hơn ĐTPT
toàn xã hội, còn trong giai đoạn 2006-2008 hiệu quả kém hơn. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN
cho phát triển sản lượng điện phát ra của nhà nước có xu hướng không có hiệu quả. Từ đó,
phải xem xét, điều chỉnh việc ĐTPT cho ngành điện lực để đảm bảo hiệu quả hơn.
ICOR khu vực vốn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN tăng nhanh và cao cho thấy trong giai
đoạn 2005-2010, ĐTPT từ nguồn vốn NSNN kém hiệu quả. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN cho
DNNN trong việc thu NSNN tăng từ 2006-2007 và giảm rất mạnh từ 2007-2008. Xét cho cả
giai đoạn 2005-2008, hiệu quả giảm. Từ đó cần phải tiếp tục đổi mới ĐTPT từ NSNN cho
DNNN nói riêng và cải cách đổi mới toàn diện hệ thống các DNNN để đảm bảo hiệu quả
ĐTPT. Về tiêu dùng cuối cùng, giai đoạn 2006 - 2007 và 2008-2009, ĐTPT từ NSNN có xu
hướng hiệu quả tăng, còn lại hiệu quả có xu hướng giảm. Nhà nước phải xem xét tiêu dùng
của mình hợp lý để đảm bảo tiết kiệm và ĐTPT từ nguồn vốn NSNN. ĐTPT từ nguồn vốn
kinh tế trong nước trong giai đoạn 2006-2007 và 2008-2009 có tác động hiệu quả tốt vào cân
đối cán cân thương mại quốc tế, giai đoạn 2006-2007 có hiệu quả kém hơn. Nhìn chung
trong cả giai đoạn hiệu quả có tăng nhưng không ổn định. Đóng góp của ĐTPT từ NSNN
ngày càng có hiệu quả trong việc gia tăng doanh thu thuần SXKD của các DNNN. Tuy nhiên
xuất định hướng và hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐTPT từ NSNN ở Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vừa phải được tự đổi mới theo hướng
phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm để nâng cao hiệu quả, vừa phải bám sát định
hướng phát triển KTXH của đất nước mới đạt được mục tiêu phát triển. Mục tiêu đó bao
gồm mục tiêu tổng quát, mục tiêu cơ bản.
3.1. CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU
3.1.1. Mục tiêu tổng quát
Chiến lược phát triển KTXH giai đoạn 2011 – 2020 của Việt Nam đã được thông qua
xác định đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp. Để đạt mục tiêu đó
cần xây dựng nền KTTT, đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế tri thức. Phát triển kinh tế
gắn liền với phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa; phát triển nguồn lực lao động có chất
lượng để tạo ra NSLĐ cao là yếu tố cốt lõi; bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Phát
triển đi đôi với giải quyết hài hòa các mối quan hệ lớn như đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị, KTTT và vai trò Nhà nước, đổi mới và ổn định, tăng trưởng kinh tế và phát triển VHXH,
phát triển LLSX và đổi mới QHSX, tăng trưởng và công bằng, an sinh, phúc lợi XH,…
3.1.2. Một số mục tiêu cơ bản
3.1.2.1. Kinh tế
Một là, tăng trƣởng kinh tế nhanh, liên tục, bền vững
Hai là, cơ cấu kinh tế đƣợc đổi mới phù hợp theo hƣớng CNH, HĐH
Ba là, năng suất lao động tăng cao
Bốn là, kết cấu hạ tầng phát triển và đồng bộ
Năm là, nền KTTT đƣợc xác lập và phát triển
3.1.2.2. Văn hóa, xã hội
Mục tiêu phát triển kinh tế phải đi liền với mục tiêu phát triển văn hóa xã hội; xây dựng
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, hoạt động theo pháp luật. Theo Chiến lược phát triển
KTXH của Việt Nam, đến năm 2020 chỉ số HDI đạt nhóm trung bình cao trên thế giới; tuổi
thọ bình quân đạt 75 tuổi; bình quân 9 bác sỹ/ 1 vạn dân; 26 giường bệnh/1 vạn dân; số lao
động qua đào tạo 70%; số hộ nghèo giảm 2 - 3%/năm; mức thu nhập dân cư gấp 3,5 lần năm
2010; nhà ở kiên cố 70%, bình quân 25 m2/người, xóa nhà ở đơn sơ, tranh tre nứa lá. Giáo
dục và đào tạo, KHCN phát triển đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển
nhiều bất cập, tiềm ẩn nguy cơ phức tạp. Việc huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực
còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố chiều rộng, chậm phát triển
theo chiều sâu. Các lĩnh vực VHXH còn nhiều bất cập. Khoảng cách giàu nghèo còn lớn, bất
bình đẳng trong XH còn phổ biến. Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng nề. Thể chế
KTTT, chất lượng nguồn nhân lực, KCHT còn yếu, cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt
Nam trở thành nước công nghiệp chưa hình thành đầy đủ. Vẫn tiềm ẩn những yếu tố gây mất
ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia đặc biệt là biển đảo và vùng biên
giới.
3.2.2. Bối cảnh quốc tế
Thế giới đang thay đổi nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Dự báo giai đoạn 2011 -
2020, hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh
giành tài nguyên, lãnh thổ, biển đảo, nạn khủng bố cùng những vấn đề toàn cầu khác như đói
nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên,…là nguy cơ lớn.
3.2.3. Định hƣớng
3.2.3.1. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu
nền kinh tế và góp phần phát triển kinh tế nhanh, bền vững
3.2.3.2. Ưu tiên ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào một số ngành chủ lực, mũi nhọn trong
công nghiệp, tái cơ cấu và nâng cấp một số ngành công nghiệp
3.2.3.3. Lựa chọn ĐTPT từ nguồn vốn NSNN một số ngành dịch vụ then chốt, có tiềm
năng lớn, sức cạnh tranh cao, giá trị gia tăng hấp dẫn với định hướng hiện đại.
3.2.3.4. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN cho nông - lâm - ngư nghiệp theo hướng CNH,
HĐH gắn với giải quyết tốt vấn đề tam nông
3.2.3.5. Tập trung ĐTPT từ nguồn vốn NSNN về KCHT kinh tế tạo bước đột phá
3.2.3.6. Quan tâm ĐTPT từ nguồn vốn NSNN để tạo ra sự cân đối, hài hòa giữa các
vùng miền lãnh thổ, đô thị và nông thôn
19
3.2.3.7. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN cho các lĩnh vực VHXH, đảm bảo phát triển
VHXH hài hòa với phát triển kinh tế
3.2.3.8. ĐTPT từ nguồn vốn NSNN cho sự nghiệp y tế hướng tới mục tiêu ĐTPT vì
Khắc phục nhược điểm, yếu kém phải đi liền với việc phát huy ưu điểm, tiềm năng, lợi
thế. Từ phân tích ở chương 1 cho thấy, cần phải tận dụng thời cơ, sự thuận lợi về vị trí địa lý
và lịch sử, bối cảnh trong nước và quốc tế, xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế để bứt phá trong ĐTPT mang lại hiệu quả cao. Một số vùng miền lãnh thổ,
khu vực kinh tế có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên hạn chế và để
khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đó một cách có hiệu quả cần phải đầu tư lớn, dự kiến
hiệu quả đầu tư thấp, thì Nhà nước cần xem xét để quyết định đầu tư đúng, có lộ trình.
Từ việc phân tích, đánh giá, nhận xét ở chương 2 cho thấy, thực tiễn ĐTPT trong
những năm qua là kinh nghiệm quý giá và cơ sở để tiếp tục bổ sung, điều chỉnh trong ĐTPT
từ nguồn vốn NSNN đạt hiệu quả cao hơn. Cụ thể như sau:
- Từ năm 2005-2010, đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào tăng trưởng GDP
khu vực kinh tế nhà nước có xu hướng tăng nhưng không ổn định; hiệu quả đầu tư từ NSNN
20
kém hơn các khu vực vốn khác. Do vậy vừa phải quản lý chặt chẽ ĐTPT từ nguồn vốn
NSNN, vừa phải giảm tỷ lệ ĐTPT từ nguồn vốn NSNN hợp lý để góp phần nâng cao hiệu
quả ĐTPT chung.
- Giai đoạn 2005-2010 chỉ số ICOR của Việt Nam liên tục tăng nhanh, thể hiện việc
ĐTPT nói chung hiệu quả thấp. ICOR kinh tế nhà nước tăng nhanh và cao hơn đầu tư ngoài
nhà nước và đầu tư nước ngoài. Từ đó rút ra trong giai đoạn 2005-2010 ĐTPT từ nguồn vốn
NSNN kém hiệu quả so với các khu vực vốn khác. ICOR trong khu vực nông nghiệp, lâm
nghiệp, thủy sản cao thể hiện hiệu quả ĐTPT thấp; ICOR trong công nghiệp khai thác mỏ,
công nghiệp chế biến thấp hơn nông nghiệp; khu vực dịch vụ có tiến bộ so với nông nghiệp
và công nghiệp. Do vậy, cần định hình việc lựa chọn ngành nghề, sản phẩm chủ lực để
ĐTPT làm cân đối và kéo dần hệ số ICOR xuống khoảng bằng 3.
- Đối với thu NSNN, trong giai đoạn 2005-2010 đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn
NSNN ngày càng có hiệu quả. Tuy nhiên thu từ dầu thô còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
thu cho thấy hiệu quả thu NSNN từ nguồn lực tài nguyên thiên nhiên vẫn chiếm tỷ lệ lớn.
Cần phải tiếp tục đổi mới ĐTPT để có hiệu quả cao hơn trong việc huy động các nguồn lực
khác cho ĐTPT như con người, khoa học, công nghệ,…Nhà nước cần quan tâm đến ĐTPT
21
thêm việc làm. Tuy nhiên, Nhà nước không nên dùng ĐTPT từ nguồn vốn NSNN làm công
cụ để điều chỉnh việc tạo thêm việc làm mới. Đóng góp của ĐTPT từ NSNN để tăng thêm
việc làm ít hiệu quả so với so với các khu vực kinh tế khác. Do vậy, mục tiêu tạo thêm nhiều
việc làm Nhà nước cần giao phó cho khu vực ngoài nhà nước, FDI, xuất khẩu lao động và hỗ
trợ cho các khu vực này.
- Đóng góp của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN đối với việc giảm đói nghèo có hiệu quả.
Tuy nhiên, nếu để tỷ lệ ĐTPT từ nguồn vốn NSNN cho khu vực này cao thì sẽ ảnh hưởng
đến tăng trưởng chung và Nhà nước thiếu nguồn lực để tái đầu tư. Do vậy, Nhà nước phải
khuyến khích các thành phần kinh tế, kêu gọi các nhà hảo tâm, định hướng cho các tổ chức
xã hội tham gia chung tay cùng Nhà nước giải quyết giảm đói nghèo.
- ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào sự bình ổn giá cả có hiệu quả thấp và thiếu ổn định.
Cần tiếp tục điều chỉnh ĐTPT từ nguồn vốn NSNN để đảm bảo bình ổn giá cả, hạn chế lạm
phát.
- Hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN trong việc tăng NSLĐ không cao và thiếu ổn
định. Do vậy, Nhà nước phải tăng cường ĐTPT chiều sâu, đổi mới công nghệ, cải cách tổ
chức quản lý theo hướng lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả làm thước đo, hạn chế ĐTPT
theo chiều rộng.
Ngoài ra, xem xét một số chỉ tiêu khác cho thấy:
- Đóng góp của ĐTPT vào việc thu hút FDI trong giai đoạn 2005-2008 có xu hướng
hiệu quả, giai đoạn 2008 -2010 ngày càng kém hiệu quả. Việc xem xét chỉ tiêu này có thể
thực hiện để đánh giá hiệu quả ĐTPT theo các ngành kinh tế, theo đối tác đầu tư, theo lãnh
thổ,…Cần phải lựa chọn, hạn chế một số ngành nghề, lãnh thổ trong tiếp nhận đầu tư FDI
nhằm làm tăng hiệu quả chung, giảm ô nhiễm môi trường, đưa công nghệ lạc hậu vào trong
nước.
- Chi NSNN cho ĐTPT trong tổng chi NSNN từ 2005-2010 có xu hướng giảm dần.
Đây là xu hướng tốt, nhưng việc giảm chi chưa đảm bảo tỷ lệ thích hợp, cần phải tiếp tục
điều chỉnh giảm. Mặt khác phải cơ cấu lại chi NSNN phù hợp hơn. Chuyển hướng chi tiêu
NSNN, trong đó ĐTPT từ NSNN tập trung nhiều hơn cho phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế, nhà
ở, an sinh xã hội,…). Việc xã hội hóa giáo dục, y tế,… là để huy động xã hội tham gia nhiều
- Trong giai đoạn 2005-2006, ĐTPT từ NSNN vào công nghiệp có hiệu quả giảm, giai
đoạn 2006-2008 hiệu quả tăng. Tính chung cả giai đoạn 2005-2010, ĐTPT từ NSNN trong
công nghiệp không có hiệu quả bằng ĐTPT chung toàn xã hội trong khu vực công nghiệp.
Nhà nước phải tái cơ cấu và nâng cấp công nghiệp hợp lý vì đây là khu vực kinh tế trọng
điểm, có khả năng tăng trưởng cao, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước CNH.
- ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào năng lượng chiếm ưu thế. Tuy nhiên thực tế cho thấy
sản xuất và cung cấp, phân phối điện năng còn nhiều vấn đề bất ổn. Cần phải đưa ngành điện
đi thẳng vào HĐH như ngành bưu chính viễn thông và thả nổi thị trường điện năng, khí đốt,
xăng dầu. Nhà nước không nên bao cấp mà chỉ thực hiện nhiệm vụ QLNN, thu thuế, dự trữ
quốc gia.
- Hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN vào lĩnh vực du lịch nhìn chung tăng nhưng
không ổn định. Nhà nước nên khuyến khích tư nhân và đầu tư nước ngoài. Còn ĐTPT từ
NSNN ở lĩnh vực này phải giảm thiểu đến mức tối đa cho phép.
- ĐTPT từ NSNN vào lĩnh vực GTVT có số vốn rất lớn nhưng phân tích cho thấy hiệu
quả không ổn định. Từ đó phải điều chỉnh giảm ĐTPT từ NSNN và tăng đầu tư bằng các
hình thức khác như BOT, BT, đổi đất lấy hạ tầng,…
- ĐTPT từ NSNN vào sự phát triển bưu chính viễn thông có bước phát triển tốt. Các
công nghệ được lựa chọn đi thẳng vào HĐH. ĐTPT từ NSNN tạo ra cú hích ban đầu và sau
đó Nhà nước kêu gọi các thành phần kinh tế khác, kể cả đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế.
Tuy nhiên, khi đã đạt đến trình độ nhất định, giai đoạn 2011-2020, Việt Nam cần lựa chọn
để đầu tư theo những đột phá mới về công nghệ nội dung, đi tắt đón đầu công nghệ mới, đầu
tư ra nước ngoài, xuất khẩu dịch vụ (một số nước Châu Phi, Campuchia, Lào,… về viễn
thông,…), tham gia vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu mà không chỉ dừng lại ở mức giảm
giá cước, cạnh tranh tăng số thuê bao,…
- Giáo dục có vai trò to lớn trong ĐTPT. Đổi mới giáo dục là nền tảng để ĐTPT có
hiệu quả theo chiều sâu và bền vững. ĐTPT từ NSNN cho giáo dục từng bước được nâng
cao hiệu quả. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển cần phải đổi mới giáo dục và cải cách
giáo dục triệt để.
- ĐTPT từ NSNN cho phát triển y tế ngày càng cao và đưa lại những hiệu quả nhất
định. Tuy nhiên, về y tế cần phải có những cải cách căn bản vừa đảm bảo nhu cầu khám