thực trạng hoạt động và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay dự án đầu tư tại sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - Pdf 13

Chuyên đề tốt nghiệp
Mục lục
Lời mở đầu 3
Chương 1 Lý luận chung về dự án đầu tư và cho vay dự án 6
1. Sự cần thiết phải tiến hành hoạt động đầu tư theo dự án 6
2. Đặc điểm hoạt động đầu tư phát triển 7
3. Dự án đầu tư 8
3.1 Khái niệm 8
3.2 Phân loại dự án đầu tư 9
3.2.1 Theo cơ cấu tái sản xuất 9
3.2.2 Theo lĩnh vực hoạt động 10
3.2.3 Theo giai đoạn hoạt động 10
3.2.4 Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng 11
3.2.5 Theo phân cấp quản lý 11
3.2.6 Theo nguồn vốn 11
3.2.7 Theo vùng lãnh thổ 12
4. Cho vay dự án đầu tư 12
4.1 Dự án đầu tư xin vay 12
4.2 Quy trình cho vay dự án đẩu tư 12
4.3 Sự cần thiết của việc cho vay dự án đầu tư 14
4.4 Thẩm định dự án đầu tư xin vay 18
4.5 Hợp đồng tín dụng 20
5. Nguồn vốn cho vay dự án đầu tư 22
6. Chất lượng cho vay dự án đầu tư 23
6.1 Khái niệm 23
6.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay 23
6.2.1 Các chỉ tiêu định tính 23
6.2.2 Các chỉ tiêu định lượng 26
7. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay dự án đầu tư 32
7.1 Nhóm nhân tố thuộc ngân hàng 33
7.1.1 Quy mô, cơ cấu, kỳ hạn nguồn vốn của các NHTM 33

3.1.3 Tình hình thu nợ 63
4. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay của Sở 63
5. Đánh giá chất lượng cho vay dự án 64
5.1 Những kết quả đạt được 64
5.2 Hạn chế và nguyên nhân 68
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 2 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 3 Một số giải pháp, kiến nghị 72
1. Định hướng chung về hoạt động kinh doanh của Sở 72
1.1 Định hướng chung 72
1.1.1 Tăng cường năng lực về vốn để đáp ừng nhu cầu 73
1.1.2 Nâng cao chất lượng tín dụng 74
1.1.3 Bảo lãnh 74
1.1.4 Lãi suất 74
1.1.5 Dịch vụ và công nghệ ngân hàng 74
1.1.6 Biên pháp tổ chức điều hành 75
1.2 Định hướng cho vay dự án 76
2. Một số giải pháp nhằm nầng cao chất lượng cho vay dự án 78
2.1 Thực hiện việc xây dựng chính sách tín dụng một cách hợp lý 79
2.2 Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án 80
2.3 Chú trọng phân tích tài chính dự án trước khi cho vay 82
2.3.1 Xem xét các chỉ tiêu cơ cấu vốn của doanh nghiệp 82
2.3.2 Xem xét khả năng trả nợ của doanh nghiệp 83
2.4 Đa dạng hoá các phương thức huy động vốn trung, dài hạn 86
2.5 Tiêu chuẩn hoá cán bộ để nâng cao chất lượng tín dụng 86
2.6 Phát triển hệ thống thông tin 89
2.7 Nâng cao vai trò công tác thanh tra kiểm soát 90
3 Kiến nghị 91
Kết kuận 96
Tài liệu tham khảo 97

Chuyên đề tốt nghiệp
thương mại trong nước. Vai trò tín dụng trung và dài hạn sẽ được phát huy
mạnh mẽ trong thời gian tới khi mà nguồn vốn tự tích luỹ của hầu hết các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn quá nhỏ bé, không thể đáp ứng nhu cầu
đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất là những hoạt động đòi
hỏi khối lượng vốn lớn. Nguồn vốn cấp phát từ ngân sách rất hạn hẹp, không
thể đầu tư dàn trải cho nhiều lĩnh vực mà chủ yếu chỉ tập trung xây dựng cơ sở
hạ tầng và những công trình công nghiệp lớn. Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân
cư khá dồi dào nhưng việc huy động chúng lại không dễ dàng. Trong bối cảnh
đó thì việc các ngân hàng thương mại phải phát huy hết vai trò và thế mạnh
của mình để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển, góp phần thực hiện thành công
sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Là một trong bốn hệ thống ngân hàng thương mại lớn nhất của cả nước,
ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn tự xác định cho mình nhiệm vụ
đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển chung đó của đất nước, chính
vì vậy mà trong thời gian qua BIDV và Sở giao dịch 1 đã có nhiều nỗ lực
trong việc mở rộng hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng chung dài hạn
nói riêng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp qua đó
góp phần thực hiện mục tiêu chung của nền kinh tế. Tuy nhiên nếu nhìn nhận,
đánh giá một cách khách quan rằng bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt
được thì hoạt động tín dụng chung dài hạn của BIDV và SGD vẫn chưa thực
sự tương xứng với tiềm năng thực sự của mình. Trong khi rất nhiều doanh
nghiệp đang thực sự thiếu và cần vốn thì bản thân SGD lại đang thừa vốn
không thể giải ngân đặc biệt là ngoại tệ. Xuất phát từ thực tế đó em chọn đề tài
“ Thực trạng hoạt động và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho
vay dự án đầu tư tại Sở giao dịch 1 ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam”.
Bố cục đề tài gồm ba chương:
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 5 -
Chuyên đề tốt nghiệp

nhiều năm với số lượng các nguồn lực được huy động cho từng công cuộc đầu
tư khá lớn và nằm khê đọng trong suốt quá trỡnh thực hiện đầu tư.
Cỏc thành quả của loại đầu tư này cần và có thể được sử dụng trong
nhiều năm đủ để các lợi ích thu được tương ứng và lớn hơn các nguồn lực đó
bỏ ra. Chỉ cú như vậy công cuộc đầu tư mới được coi là có hiệu quả. Nhiều
thành quả của đầu tư có giá trị sử dụng rất lâu,hàng trăm năm, hàng nghỡn
năm như các công trỡnh kiến trỳc cổ ở nhiều nước trên thế giới.
Khi các thành quả của đầu tư là các công trỡnh xõy dựng hoặc cấu trỳc
hạ tầng như nhà máy, hầm mỏ, các công trỡnh thuỷ điện, các công trỡnh thuỷ
lợi, đường xá, cầu cống, bến cảng thỡ cỏc thành quả này sẽ tiến hành hoạt
động của mỡnh ngay tại nơi chúng được tạo ra. Do đó, sự phát huy tác dụng
của chúng chịu nhiều ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế, tự nhiên, xó hội
nơi đây.
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 7 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư phát triển được tiến hành thuận
lợi, đạt mục tiêu mong muốn, đem lại hiệu quả kinh tế - xó hội cao thỡ trước
khi bỏ vốn phải tiến hành và làm tốt công tác chuẩn bị. Có nghĩa là phải xem
xét, tính toán toàn diện các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật, điều kiện tự nhiên,
môi trường xó hội, phỏp lý cú liờn quan đến quá trỡnh đầu tư, đến sự phát
huy tác dụng và hiệu quả đạt được của công cuộc đầu tư, phải dự đoán các yếu
tố bất định (sẽ xảy ra trong suốt quá trỡnh kể từ khi thực hiện đầu tư cho đến
khi các thành quả của hoạt động đầu tư kết thúc sự phát huy tác dụng theo dự
kiến trong dự án) có ảnh hưởng đến sự thành bại của công cuộc đầu tư. Mọi sự
xem xét, tính toán và chuẩn bị này được thể hiện trong dự án đầu tư. thực chất
của sự xem xét, tính toán và chuẩn bị này chính là lập dự án đầu tư. Có thể
nói, dự án đầu tư được soạn thảo tốt là kim chỉ nam, là cơ sở vững chắc, tạo
tiền đề cho công cuộc đầu tư đạt hiệu quả kinh tế - xó hội mong muốn.
2. Đặc điểm hoạt động đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn

- Mọi thành quả và hậu quả của quỏ trỡnh thực hiện đầu tư chịu nhiều
ảnh hưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa
lý của khụng gian.
3. Dự án đầu tư
3.1. Khỏi niệm
Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt
kỹ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế - xó hội của hoạt động đầu tư
đũi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và
nghiêm túc. Sự chẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án đầu tư.
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 9 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thỡ mới đạt
hiệu quả mong muốn.
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ. Về mặt hỡnh thức,
dự ỏn đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trỡnh bày một cỏch chi tiết và cú hệ
thống cấc hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả
và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng
vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xó hội trong một
thời gian dài.
Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế
hoạch chi tiết của một công cụ đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế
xó hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một
hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế
núi chung.
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên
quan đến nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đó định bằng việc
tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng
các nguồn lực nhất định.
3.2. Phân loại dự án đầu tư.

khoa học kỹ thuật ).
Trên thực tế người có tiền thích đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh thương
mại. Tuy nhiên trên giác độ xó hội hoạt động của loại đầu tư này không tạo ra
của cải vật chất cụ thể một cách trực tiếp, những giá trị tăng thêm do hoạt
động của dự án đầu tư thương mại chỉ là sự phân phối lại thu nhập giữa các
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 11 -
Chuyên đề tốt nghiệp
ngành, các địa phương, các tầng lớp dân cư trong xó hội. Do đó, trên giác độ
điều tiết kinh tế vĩ mô, nhà nước cần thông qua các cơ chế chính sách của
mỡnh nhằm hướng dẫn, khuyến khích các nhà đầu tư không chỉ đầu tư vào
lĩnh vực thương mại mà cũn đầu tư cả vào lĩnh vực sản xuất, theo các định
hướng và mục tiêu đó dự kiến trong chiến lược phát triển kinh tế - xó hội của
đất nước.
3.2.4. Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi vốn
Ta có thể chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư ngắn hạn (các dự án
đầu tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các dự án đầu tư sản xuất, đầu tư
phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng ).
3.2.5. Theo phõn cấp quản lý
Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng được ban hành theo nghị định
52/1999/NĐ-CP ngày 08/08/1999 của Thủ tướng Chính phủ phân chia các dự
án thành 3 nhóm A, B, C tuỳ theo tính chất và quy mô của dự án. Trong đó
nhóm A do thủ tướng Chính phủ quyết định; nhóm B và C do Bộ trưởng, thủ
trưởng có quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh và thành
phố trực thuộc TW quyết định.
3.2.6.Theo nguồn vốn
Dựa vào nguồn vốn, dự án đầu tư được phân chia thành :
- Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước (vốn tích luỹ của ngân sách,
của doanh nghiệp, từ tiền tiết kiệm của dân cư ).
- Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài (vốn đầu tư trực tiếp, viện
trợ, đầu tư gián tiếp ).

khách hàng được bắt đầu bằng việc xem xét và quyết định cho vay, sau đó là
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 13 -
Chuyên đề tốt nghiệp
giả ngân vốn, theo dõi nợ vay và kết thúc bằng việc thu nợ gốc và lãi. Chu kỳ
cho vay dự án đầu tư cũng có thể diễn đạt bằng sơ đồ:( T-T’).
Dựa trên đề xuất vay dự án đầu tư của khách hàng vay, ngân hàng
thương mại phải xem xét trong một thời gian nhất định và đưa ra quyết định từ
chối hay chấp nhận cho vay.
Đề xuất vay vốn dự án đầu tư của khách hàng được hợp thức hoá bằng
các tài liệu như: đơn xin vay; hồ sơ pháp lý chứng minh tư cách pháp nhân và
vốn điều lệ ban đầu; hồ sơ tình hình tài chính 2 năm trước khi đề xuất vay và
của 2 quý trong năm đề xuất vay; các tài liệu liên quan đến dự án đầu tư xin
vay (luận chứng kinh tế – kỹ thuật; bản phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật
của cấp có thẩm quyền; các văn bản có liên quan đến cung ứng vật tư thiết bị,
nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm; các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp
hoặc cầm cố ).
Việc chấp nhận hay từ chối cho vay một dự án đầu tư của khách hàng
phải dựa vào thẩm tra các mặt như tư cách pháp nhân; mức vốn tham gia của
đơn vị vay vốn; tình hình sản xuất kinh doanh; tình hình công nợ, đồng thời
phải xem xét mụch đích kinh tế xã hội, khả năng thực thi, nguồn cung cấp
nguyên liệu, nguồn nhân lực, hướng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế, khả
năng hoàn trả vốn vay của dự án
Khi xem xét, thẩm định và đi đến quyết định chấp nhận hay từ chối cho
vay một dự án đầu tư của khách hàng phải quán triệt các nguyên tắc: Phù hợp
với nguồn vốn của ngân hàng cho vay, nghĩa là không vượt quá khả năng
nguồn vốn hiện có và sẽ huy động được khả dĩ dùng vào cho vay trung và dài
hạn của bản thân ngân hàng cho vay; phù hợp với quyền phán quyết cho vay
trung, dài hạn mà ngân hàng cấp trên dành cho giám đốc ngân hàng đó trong
lĩnh vực cho vay trung và dài hạn, phù hợp với chính sách ưu tiên trong đầu tư
và cơ cấu đầu tư đã được quy định. Trường hợp chấp nhận cho vay do kết quả

hiệu quả hoạt động của hai chủ thể này chắc chắn sẽ có những tác động tích
cực đối với sự phát triển chung của toang bộ nền kinh tế. Như vậy có thể
khẳng định rằng việc mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả cho vay dự án
đầu tư là cần thiết và khách quan, nó đem lại những lợi ích nhất định cho cả ba
chủ thể : Ngân hàng (người cho vay); doanh nghiệp (người đi vay) và nền kinh
tế quốc dân.
Đối với ngân hàng, trong các tài sản của các ngân hàng thương mại thì
khoản mục cho vay bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất và là khoản mục
mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Thu nhập từ tiền cho vay thể hiện
dưới dạng lãi tiền vay và phụ thuộc chủ yếu vào thời hạn của khoản vay. Thời
hạn cho vay càng dài thì lãi suất càng cao và do đó thu nhập của ngân hàng
càng lớn. Chính vì vậy nếu các ngân hàng có thể mở rộng cho vay nhất là cho
vay trung và dài hạn đối với các dự án đầu tư thì sẽ có điều kiện kiếm lời
nhiều hơn. Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng các khoản cho vay có thời hạn
càng dài thì càng tiềm ẩn một tỷ lệ rủi ro cao và đó là lý do vì sao khi mở rộng
quy mô các ngân hàng thường chú trọng đến việc nâng cao chất lượng tín
dụng cũng như hiệu quả dự án.
Không chỉ có vậy, việc đáp ứng tốt nhu cầu của các khách hàng cũng là
một thứ vũ khí cãnh tranh lợi hại của các ngân hàng. Khả năng mở rộng các
khoản vay dài hạn còn thể hiện tiềm lực vốn của ngân hàng, chất lượng tín
dụng cao phần nào thể hiện năng lực quản lý, năng lực chuyên môn của cán bộ
và nhân viên ngân hàng. đồng thời việc mở rộng tín dụng trung và dài hạn đặc
biệt là với các dự án đầu tư xin vay của các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện đẩy
mạnh tín dụng ngắn hạn cũng như các dịch vụ ngân hàng khác bởi khi được
vay vốn các doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc
thiết bị, tăng năng lực sản xuất điều đó khiến cho nhu cầu vốn lưu động lại
tăng cao và các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, tư vấn
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 16 -
Chuyên đề tốt nghiệp
cũng sẽ tăng lên chắc chắn địa chỉ đầu tiên mà khách hàng tìm đến chính là

các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ có thể sẽ không đủ điều kiện
huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Đối với nền kinh tế: Nền kinh tế của mỗi quốc gia trong thời kỳ nào
cũng cần có nguồn vốn phục vụ đầu tư phát triển. Sự tham gia của vốn tín
dụng ngân hàng sẽ góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước,
hơn thế nữa hiệu quả đạt được của các dự án đầu tư cũng sẽ cao hơn bởi lẽ khi
cho vay một trong những yêu cầu đầu tiên mà ngân hàng đặt ra là an toàn.
Chính vì vậy mà đối với mỗi dự án xin vay, ngân hàng phải xem xét rất kỹ
tính khả thi của dự án để tránh những rủi ro có thể xảy ra và đề ra những biện
pháp điều chỉnh kịp thời. Mặt khác không giống như nguồn vốn cấp phát từ
ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng ngân hàng được giải ngân dựa trên
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi, do đó người đi vay sẽ phải tính toán làm
sao để có thể sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất. Đây chính là điểm ưu
việt của nguồn vốn tín dụng ngân hàng so với nguồn vốn cấp phát từ ngân
sách nhà nước.
Trong điều kiện Việt Nam hiên nay, nhiệm vụ Công nghiệp hoá, Hiện
đại hoá đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật XHCN được Đảng và
Nhà nước đặt lên hàng đầu. Nội dung chính của công cuộc này là tập trung
vốn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới nâng cao trình độ khoa học
công nghệ; máy móc, trang thiết bị tùng bước chuyển nền kinh tế từ nông
nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công – nông nghiệp và
dịch vụ hợp lý, phát triển sản xuất trong nước theo cả chiều rộng và chiều sâu.
Nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư đó bao gồm: Nguồn do ngân sách Nhà
nước cấp, nguồn tự tích luỹ của các doanh nghiệp, nguồn huy động từ dân cư,
tín dụng ngân hàng, huy động trên thị trường chứng khoán và nguồn vốn viện
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 18 -
Chuyên đề tốt nghiệp
trợ từ nước ngoài. Trong đó tín dụng ngân hàng đang là nguồn cung cấp vốn
chủ yếu cho các dự án phục vụ đầu tư phát triển bởi lẽ nguồn vốn tự tích luỹ
của hầu hết các doanh nghiệp nước ta hiện nay đều quá nhỏ bé, không thể đáp

ba mặt cơ bản là các phương diện kỹ thuật, phương diện kinh tế và phương
diện tài chính.
Thẩm định dự án đầu tư về phương diện kỹ thuật là đi sâu nghiên cứu
và phân tích các yếu tố kỹ thuật và công nghệ, thiết bị chủ yếu của dự án đầu
tư để đảm bảo tính khả thi của dự án đầu tư khi thi công xây duẹng cũng như
khi vận hành công trình đã hoàn thành. ở đây người ta chú ý đến sự phù hợp
của quy mô dự án đầu tư với khả năng tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp
nguyên vật liệu, năng lực, năng lực quản lý của doanh nghiệp. Sự lựa chọn
thiết bị và công nghệ của dự án đầu tư, sự cung ứng nguyên vật liệu và các
yếu tố đầu vào, sự lựa chọn địa điểm xây dựng công trình, việc quản lý dự án
từ khi thai nghén đến khi kết thúc đưa vào sử dụng.
Thẩm định về mặt kinh tế xã hội của dự án đầu tư là xét đến hiệu ích
của dự án trên quan điểm vĩ mô. Nó thường được xem xét dựa trên một số chỉ
số sinh lời xã hội như mức đóng góp của dự án đầu tư cho nền kinh tế do tiết
kiệm chi phí nhập khẩu của các sản phẩm nhập khẩu tuơng tự, chỉ số hoàn
vốn, mức gia tăng việc làm, mức đóng góp vào ngân sách nhà nước, mức tích
luỹ Đồng thời ở đây người ta còn xem xét ảnh hưởng của dự án đến môi
trường, đến sinh hoạt văn hoá và đến sự phát triển kinh tế của địa phương.
Thẩm định phương diện tài chính của dự án đầu tư là phân tích, đánh
giá, kết luận việc sử dụng các nguồn lực tài chính trong tài trợ, khả năng sinh
lời, khả năng hoàn trả nợ, khả năng ứng phó trước thử thách trong quá trình
đưa dự án đầu tư vào thực hiện.
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 20 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Xét về phương pháp thẩm định dự án đầu tư người ta có thể áp dụng ba
phương pháp cơ bản:
- Phương pháp phân tích so sánh: Đây là phương pháp được sử dụng
nhiều nhất. Người ta so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật ghi trong dự
án đầu tư với các tài liệu; các định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành; các
tiêu chuẩn của nganh, của cả nước; các chỉ tiêu trước khi mở rộng, cải

tham gia thực hiện dự án đầu tư không được nhỏ hơn 30% của tổng mức đầu
tư.
Tổng mức đầu tư của dự án là tổng chi phí xây lắp, chi phí máy móc
thiết bị và chi phí khác ghi trong tổng dự toán của dự án.
Phần vốn tham gia thực hiện dự án của bên vay được tính bằng tổng của
vốn tự có thể hiện bằng tài sản hiện có của bên vay và vốn huy động do bên
vay thực hiện.
Nếu dự án đầu tư là dự án liên doanh thì phần tham gia của bên vay
phải tính cho các bên liên doanh.
Trường hợp dự án đầu tư xin vay có điều kiện thế chấp tài sản thì mức
cho vay không thể lớn hơn 70% mức tài sản thế chấp.
Mức cho vay dự án đầu tư không thể sử dụng một lần mà được sử dụng
dần dần trong quá trình thực hiện thi công của dự án. Từ đó tất yếu nảy sinh
phạm trù mức cho vay còn lại. Mức cho vay còn lại bằng mức cho vay trừ đi
số dư nợ hiện có. Mỗi lần giải ngân ngân hàng phải chú ý đến mức cho vay
còn lại này.
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 22 -
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ ba: Trong hợp đồng tín dụng phải ghi rõ thời hạn nợ hay còn gọi là
thời hạn cho vay. Nó bao gồm thời hạn rút vốn, thời hạn trả nợ và thời hạn ân
hạn nếu có.
Cuối cùng: Trong hợp đồng tín dụng phải xác định rõ quyền và nghĩa
vụ của ngân hàng cho vay và người vay. Quyền và nghĩa vụ này nếu không có
thoả thuận gì khác giữa ngân hàng cho vay và khách hàng vay thì phải tuân
thủ những quy định về quyền và nghĩa vụ đó của quy chế cho vay hiện hành
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
5. Nguồn vốn cho vay dự án đầu tư của các ngân hàng thương mại.
Một trong những vấn đề sống còn đối với mỗi ngân hàng thương mại là
phải bảo đẩm khả năng thanh toán của mình. Để đảm bảo yêu cầu này thì hoạt
động cho vay của ngân hàng phải gắn bó chặt chẽ, dựa trên nền tảng nguồn

6.1.Khái niệm:
Chất lượng của một khoản vay có thể được hiểu là hiệu quả kinh tế
mà khoản vốn vay đó mang lại cho cả người đi vay (khách hàng) và người
cho vay. Một khoản vay được coi là có chất lượng tốt nếu nó mang lại hiệu
quả kinh tế cao cho cả ngân hàng và khách hàng, tức là vốn vay được người
vay đưa vào quá trình đầu tư tạo ra một số tiền lớn hơn vừa để hoàn trả nợ gốc
và lãi vay, vừa trang trải các chi phí khác mà vẫn bảo đảm có lợi nhuận qua đó
đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế. Xét một cách tổng thể
khoản vay đó vừa tạo ra hiệu quả kinh tế vừa tạo ra hiệu quả xã hội.
Với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động chủ
yếu và thường xuyên nhất là nhận tiền gửi và cho vay, để có thể bảo đảm sự
tồn tại và phát triển thì chất lượng của các khoản vay luôn là mối quan tâm
hàng đầu của các NHTM. Việc đáp ứng nhanh chóng, thuận tiện, an toàn nhu
cầu vốn của khách hàng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng nâng cao uy tín, thu hút
Nguyễn Việt Hùng NH- 41D - 24 -
Chuyên đề tốt nghiệp
thêm nhiều khách hàng mới, làm tăng thêm khả năng mở rộng hoạt động tín
dụng. Mặt khác, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn
vay; đó cũng là tiền đề để họ có thể thực hiện đúng cam kết trả nợ đầy đủ
đúng hạn.
6.2.Các chỉ tiêu đánh giá Chất lượng cho vay dự án đầu tư.
6.2.1. Các chỉ tiêu định tính
Chất lượng cho vay của một ngân hàng chắc chắn phụ thuộc trước hết
vào uy tín của ngân hàng đó trên thị trường. Một ngân hàng có uy tín cao sẽ có
khả năng thu hút được nhiều khách hàng hơn, ngược lại nếu một ngân hàng có
đội ngũ khách hàng đông đảo, làm ăn có uy tín thì đó là một trong những dấu
hiệu chứng tỏ chất lượng cho vay của ngân hàng đó. Chất lượng cho vay của
ngân hàng được thể hiện ở khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Đối
với khách hàng thì điều này trước hết biểu hiện ở thủ tục đơn giản thuận tiện,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status