hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thị trường trái cây giữa việt nam và thái lan - Pdf 13

BKHCN
PVCÑNN&CNSTH
BKHCN
PVCÑNN&CNSTH
BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
VIỆN CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
PHÂN VIỆN CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

DỰ ÁN

HỢP TÁC VỀ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ SAU
THU HOẠCH VÀ XÚC TIẾN THỊ
TRƯỜNG TRÁI CÂY GIỮA VIỆT NAM
VÀ THÁI LAN Chủ nhiệm dự án: Th.S. Nguyễn Duy Đức

8866


VÀ THÁI LAN
Chủ nhiệm dự án: Th.S. Nguyễn Duy Đức

TP. HỒ CHÍ MINH, 11-2005

Bản thảo viết xong 11/2005
Tài liệu được chuẩn bò trên cơ sở kết quả thực hiện dự án hợp tác nghiên cứu theo nghò
đònh thư Việt Nam- Thái Lan năm 2002
DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1: Qui trình công nghệ xử lý xoài 7
Hình 2: Toàn cảnh thiết bò đang hoạt động tại xưởng 11
Hình 3: Hệ thống điều khiển thiết bò 18
Hình 4: Thí nghiệm xử lý nước nóng và hóa chất đang được thực hiện trên thiết bò 11
Hình 5: Xoài đang được rửa và xử lý 11
Hình 6: Xoài sau khi rửa, xử lý được chuyển tiếp sấy khô 11
Hình 7: Hệ thống cung cấp nước rửa 11
Hình 8: Sơ đồ công nghệ xử lý đóng gói xoài 12

Hình 24: Đoàn cán bộ viện TISTR sang thăm Phân viện SIAEP đợt 2 (28/2-6/3/2005) 45
Hình 25: Đoàn cán bộ Việt Nam sang thăm viện TISTR đợt 1 (08-14/2/2004) 46
Hình 26: Đoàn cán bộ viện TISTR sang thăm phân viện SIAEP đợt 3 (01 – 04/11/2005) 46
Hình 27: Đoàn cán bộ Phân viện SIAEP đến Thái Lan (để học tập) (25/4 – 2/5/04) 51
Hình 28: Diện tích và tuổi vườn nhãn 55
Hình 29: Năng suất và sản lượng các giống nhãn 55
Hình 30: Giá bán các giống nhãn trong vụ chính và vụ nghòch 57
Hình 31: So sánh những chi phí và lợi nhuận từ việc trồng nhãn 59
Hình 32: Những khoản chi phí kinh doanh nhãn 62
Hình 33: Giá mua nhãn trong năm (nhà bán sỉ) 64
Hình 34: Giá bán nhãn trong năm (nhà bán sỉ) 64
Hình 35: Giá mua nhãn trong năm 71
Hình 36: Giá bán nhãn trong năm 71
Hình 37: Số lượng nhãn mua hàng tháng và số lần mua nhãn trong tháng 75
Hình 38: Giá mua nhãn tiêu da bò và xuồng cơm vàng trong năm 75

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Phân loại xoài theo trọng lượng 6
Bảng 2: Chỉ số cảm quan của quả bảo quản bằng màng bao PE (điểm) 14
Bảng 3: Tỉ lệ hao hụt trọng lượng quả (%) khi bảo quản bằng màng bao PE 15
Bảng 4: Nồng độ CO
2
trong túi PE (%) đựng quả khi bảo quản bằng màng bao PE 16
Bảng 5: Độ cứng quả (kg/cm
2
) khi bảo quản bằng màng bao PE 16
Bảng 6: Hàm lượng chất rắn hòa tan tổng số (%) của quả khi bảo quản bằng bao PE 16
Bảng 7: Độ chua (%) của quả khi bảo quản bằng màng bao PE 17
Bảng 8: Tỷ số TSS/TA của quả khi bảo quản bằng màng bao PE 17

Bảng 35: Chi phí trao đổi thông tin 58
Bảng 36: Đối tượng bán hàng 60
Bảng 37: Thời gian kinh doanh 60
Bảng 38: Những khó khăn gặp phải trong kinh doanh 62
Bảng 39: Tỷ lệ hao hụt khi giao hàng 64
Bảng 40: Tỷ lệ hao hụt khi lưu hàng 65
Bảng 41: Những biện pháp sơ chế, bảo quản đang áp dụng 65
Bảng 42: Các đối tượng kinh doanh 66
Bảng 43: Đòa điểm những nơi khảo sát điển hình 66
Bảng 44: Thời gian kinh doanh 68
Bảng 45: Những khó khăn gặp phải trong kinh doanh 70
Bảng 46: Tỷ lệ hao hụt khi giao hàng 72
Bảng 47: Tỷ lệ hao hụt khi lưu hàng 72
Bảng 48: Những biện pháp sơ chế bảo quản đang áp dụng 73
Bảng 49: Chi phí trao đổi thông tin ø 74
Bảng 50: Tỷ lệ giống nhãn được thu mua 74
Bảng 51: Nơi mua 75
Bảng 52: So sánh giá mua với mức thu nhập 76
Bảng 53: Cách chọn mua trái 76
Bảng 54: Yêu cầu chất lượng trái 76
Bảng 55: Những vấn đề thường gặp khi mua nhãn 77
Bảng 55: những cải thiện cần đặt ra cho chất lượng 77
MỤC LỤC

I. THƠNG TIN TỔNG QUAN 1

II. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CỦA NHIỆM VỤ 1

III. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2


- Thời gian thực hiện: 24 tháng (từ tháng 1/2003 đến tháng 12/2004). Tuy nhiên do điều
kiện sắp xếp lại tổ chức của hai cơ quan thực hiện của Việt Nam và Thái Lan, do đó
việc triển khai dự án chậm một năm và các bên đã có văn bản đề nghò kéo dài dự án
hết tháng 12 năm 2005.
- Chương trình: Hợp tác Khoa học Công nghệ và Môi trường giữa Chính phủ Việt Nam
và Thái Lan.
- Thuộc Nghò đònh thư với Thái Lan: Khoá họp liên chính phủ về khoa học công nghệ
và môi trường giữa Thái Lan và Việt Nam ngày 14 tháng 3 năm 2002 tại Hà Nội.
- Kinh phí: 935.000.000 đ, trong đó:
 Ngân sách: 735.000.000 đ
 Vốn tự có: 200.000.000 đ
- Chủ nhiệm dự án: Nguyễn Duy Đức
- Cơ quan chủ trì: Phân Viện Công nghệ Sau Thu Hoạch (PHTI), nay là Phân viện Cơ
điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch (SIAEP)
- Cơ quan đối tác nước ngoài: Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Thái Lan
(Thailand Institute of Scientific & Technological Research -TISTR).
- Nội dung thỏa thuận chính: Đồng ý trên nguyên tắc về 10 dự án do phía Việt nam đã
đề nghò trong đó có dự án hợp tác kỹ thuật về xử lý sau thu hoạch và tiếp thò trái cây
giữa Việt Nam và Thái Lan do Phân Viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch, nay là Phân
viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch (SIAEP) tại Tp. Hồ Chí Minh
và Viện Nghiên cứu Khoa Học và Công nghệ Thái lan hợp tác thực hiện.

II. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CỦA NHIỆM VỤ
1. Mục tiêu:

Báo cáo tổng kết dự án “Hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thò trường trái cây giữa Việt Nam và Thái
Lan” do SIAEP & TIRST thực hiện - Tp. Hồ Chí Minh - Tháng 12/2005

Trang 2/79


quan của chính phủ, các doanh nghiệp kể cả tư nhân để phát triển kinh tế xã hội của
Thái Lan.
- Trong lónh vực công nghệ sau thu hoạch, viện có nhiều công trình nghiên cứu và các
chuyên gia đầu ngành. Những thế mạnh của Thái Lan trong lónh vực trên được đưa
vào trong sản xuất như xây dựng và áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng các loại
Báo cáo tổng kết dự án “Hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thò trường trái cây giữa Việt Nam và Thái
Lan” do SIAEP & TIRST thực hiện - Tp. Hồ Chí Minh - Tháng 12/2005

Trang 3/79
trái cây, kỹ thuật bảo quản nhãn, vải, xoài, sầu riêng, chôm chôm Thái Lan có
công nghệ xử lý xoài rất hiệu quả từ thu hoạch, xử lý sâu bệnh hại sau thu họach, ủ
chín, bảo quản … và có một Trung tâm nghiên cứu bao bì để áp dụng trong kỹ thuật
bao gói. Thái Lan có nhiều kinh nghiệm trong việc xúc tiến thương mại xuất khẩu
trái cây. Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Thái Lan có đầy đủ trang thiết bò
phục vụ nghiên cứu và đào tạo, đồng thời có nhiều hợp tác với các tổ chức nghiên
cứu, đào tạo khác trên phạm vi khu vực và thế giới.
- Những nghiên cứu và huấn luyện đào tạo về hệ thống bảo đảm chất lượng rau quả ở
các nước có nền nông nghiệp tiên tiến rất phong phú và phát triển mạnh mẽ bởi tính
cạnh tranh của các doanh nghiệp rau quả. Khái niệm về hệ thống bảo đảm chất
lượng trái cây không còn là một khái niệm mới mẻ đối với nông dân trồng cây ăn
quả, nhà thu mua xử lý, nhà kinh doanh cũng như nhà quản lý sản xuất nông nghiệp.
Trên mạng internet, chúng ta có thể truy cập đầy đủ những thông tin giới thiệu về
các dự án cũng như những nhà kinh doanh, nhà sản xuất giới thiệu về quả của họ đã
áp dụng hệ thống bảo đảm chất lượng. Thái Lan cũng rất quan tâm phát triển hệ
thống này cho rau quả.

2. Trong nước:
- Phân viện Công nghệ sau thu hoạch đóng tại thành phố Hồ Chí Minh được thành lập
trên cơ sở Thông báo số 3539V6 của Hội đồng Bộ trưởng, nay là Thủ tướng Chính
phủ, và Quyết đònh số 494QĐ/TC của Bộ Lương thực, nay là Bộ Nông nghiệp &

nghiệp cả nhà nước và tư nhân như kỹ thuật bảo quản thanh long, nhãn, nho bằng các
biện pháp phối hợp từ thu hoạch, cách xử lý nấm bệnh, bao bì, nhiệt độ lạnh, v,v .,
nhưng do đây là lónh vực mới, thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ và kinh nghiệm, đồng
thời thiếu trang thiết bò và phương tiện thông tin phục vụ cho nghiên cứu còn hạn
chế nên chưa đáp ứng được nhiều yêu cầu bức xúc của sản xuất kinh doanh trái cây
hiện đang đòi hỏi. Đây là những điểm yếu của Phân viện trong nghiên cứu và
chuyển giao công nghệ.
- Việc hợp tác với Thái Lan trong lónh vực công nghệ sau thu hoạch trái cây mà bạn có
thế mạnh về xử lý xoài, kỹ thuật sử dụng bao bì cho bảo quản vận chuyển, phát triển
hệ thống bảo đảm chất lượng trái cây và xúc tiến thò trường là rất cần thiết. Ví dụ,
trong khuôn khổ dự án bảo đảm chất lượng quả thanh long, nhằm giúp các thành viên
trong hệ thống sản xuất và tiêu thụ thanh long (bao gồm: nông dân, nhà thu mua sơ
chế, vận chuyển, xuất nhập khẩu, bán sỉ, bán lẻ v.v…) hiểu biết hơn về sản phẩm của
mình đang sản xuất, kinh doanh để quản lý chất lượng ngày càng tốt và ổn đònh hơn
cũng như để làm cơ sở trong giao dòch buôn bán. Sự mô tả này dựa trên quá trình
khảo sát tại vườn thanh long của nông dân, nhà thu mua, nhà xuất khẩu và các nơi
bán lẻ trong đòa bàn tỉnh Bình Thuận. Bản dự thảo này được chuyển đến tất cả những
thành viên của nhóm công tác bảo đảm chất lượng thanh long để tham khảo ý kiến
bằng cách chấp nhận hoặc không chấp nhận, hoặc có ý kiến bổ sung trước khi được
phổ biến. Trong hội nghò về công nghệ sau thu hoạch của các nước ASEAN, APEC
tổ chức ở Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 11/1999 với chủ đề “Bảo đảm chất lượng
nông sản" đã đưa ra những khuyến cáo về tầm quan trọng của hệ thống cũng như
những công nghệ sau thu hoạch đối với các nước thành viên của APEC. Cũng chính
vì tầm quan trọng của hệ thống đảm bảo chất lượng quả, Phân viện được Ban Quản
lý dự án “Phát triển chè và cây ăn quả ở Việt Nam” (do Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB) tài trợ) giao nhiệm vụ chủ biên tài liệu về hệ thống đảm bảo chất lượng các
loại trái cây chủ lực của các tỉnh Bắc Giang, Hòa Bình, Thanh Hóa, Bình Đònh,
Khánh Hòa, Tiền Giang, Bến Tre.
Báo cáo tổng kết dự án “Hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thò trường trái cây giữa Việt Nam và Thái
Lan” do SIAEP & TIRST thực hiện - Tp. Hồ Chí Minh - Tháng 12/2005

 Đề tài: Nghiên cứu một số biện pháp để nâng cao chất lượng quả phục vụ nội
tiêu và xuất khẩu thuộc chương trình KC06 của Bộ Khoa Học Cơng Nghệ.
- Về kết cấu hệ thống thiết bò:
 Tham khảo một số hệ thống xử lý xoài của Nhật Bản tại Thái Lan thông qua
chương trình tấp huấn, đào tạo của dự án;
 Sự tham gia đóng góp ý kiến của các chuyên gia của Phân viện và phía đối tác
(TISTR) trong các đợt làm việc và quá trình vận hành thử nghiệm.
Báo cáo tổng kết dự án “Hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thò trường trái cây giữa Việt Nam và Thái
Lan” do SIAEP & TIRST thực hiện - Tp. Hồ Chí Minh - Tháng 12/2005

Trang 6/79

b) Quy trình công nghệ và thông số kỹ thuật của hệ thống thiết bò
b.1. Qui trình công nghệ xử lý xòai:
- Kỹ thuật thu hoạch:
Xoài Cát Hòa Lộc có thể bắt đầu thu hoạch vào khoảng 9 tuần sau khi đậu quả. Lúc này
hạt cứng (nhà thu mua thường dùng kim nhọn đâm vào quả để kiểm tra). Một số căn cứ
xác đònh thời điểm thu hoạch quả:
• Khi núm quả tụt xuống ngang hoặc thấp hơn vai quả.
• Màu vỏ quả chuyển từ xanh đậm sang xanh nhạt, phớt vàng.
Công việc thu hái cần tiến hành vào buổi sáng hay chiều mát. Quả thu xuống được đặt
trong thùng, sọt tre, tránh để quả tiếp xúc với đất nhằm tránh vấy nhiễm nấm bệnh lên vỏ
quả làm cho quả bò thối trong quá trình ủ chín.
Thu hoạch xoài ở độ chín đối với xoài cát Hoà lộc, có khối lượng riêng nằn trong phạm vi
từ 1,0 đến 1,02, được xác đònh bằng nhúng nước khi trái lơ lưng hoặc chìm chậm trong
nước, hoặc xác đònh theo màu sắc theo đó vỏ màu xanh nhạt, vai nhô cao. Lúc thu hoạch
để cuống dài 20cm và khi mang về nơi đóng gói xử lý, lặt cuống để trái ngược lại ngắt
cuống cho mủ chảy ra tránh mủ dính vào vỏ.

- Phân loại:

• Giai đoạn làm khô: sử dụng hệ thống quạt làm khô trong 13 phút.
• Giai đoạn đánh bóng: sử dụng vật liệu giả da đánh bóng tự động trong thời gian 2
phút.
• Giai đoạn phân loại: Xoài di chuyển trên băng chuyền và sử dụng phương pháp thủ
công.
• Giai đoạn đóng gói: sử dụng thùng carton 5 kg hoặc 10 kg.
• Giai đoạn ủ chín: đặt thùng xoài trong buồng ủ tự động sử dụng khí acetylen nồng
độ 1.000 ppm trong 24 giờ ở nhiệt độ 28
0
C.

- Kỹ thuật bảo quản: Bảo quản ở nhiệt độ 13 – 14
0
C và bao gói (wraping) trong 2 tuần.
Sử dụng bao bì điều chỉnh thành phần khơng khí có độ thấm khí 2.000 ml/m
2
/giờ bao gói
ở nhiệt độ trên trong 4 tuần.

b.2. Quy trình công nghệ xử lý xòai trên dây chuyền
Hệ thống thiết bò xử lý xoài được nghiên cứu thiết kế, chế tạo là một hệ thống gồm 05
cụm thiết bò gồm: Thiết bò rửa trái; Thiết bò xử lý nhiệt hoặc hóa chất dạng dung dòch;
Thiết bò sấy khô trái sau khi xử lý; Thiết bò đánh bóng trái và Thiết bò phân loại có thể
hoạt động độc lập hay đồng bộ liên tục theo quy trình sau (hình 1).

thanh gạt bố trí trên thanh ngang của băng chuyền.
- Sau khi xử lý, xoài được chuyển tiếp đến thiết bò sấy khô hoạt động theo nguyên lý sấy
băng tải với hệ thống quạt nhằm tăng khả năng bay hơi, để làm khô triệt để, xoài được
thay đổi vò trí trên băng nhờ hệ thống xoay con lăn. Sau khi sấy khô, xoài được chuyển
tiếm đến thiết bò đánh bóng được thiết kế dựa trên nguyên lý đánh bóng tiếp xúc với hệ
thống 2 lô đánh bóng quay cùng hướng trục quay với trái. Sau khi đánh bóng, xoài được
chuyển tiếp đến thiết bò phân loại dạng băng tải, trên đó bố trí hệ thống phân loại sử dụng
cảm biến trọng lượng (Loadcell) nhằm phân loại trái theo yêu cầu của khách hàng.

b.2. Đặc tính kỹ thuật của hệ thống thiết bò
b. 2.1. Thiết bò rửa trái 3 cấp:
- Nguyên lý: Rửa liên tục trên hệ thống băng rửa kết hợp đánh sạch bằng hệ thống chổi
đánh. Xoài sau khi sơ loại được chuyển đến thiết bò rửa và cung cấp cho băng chuyền
rửa 3 cấp bao gồm băng chuyền thanh ngang con lăn xoay cưỡng bức kết hợp đánh
sạch bề mặt bằng các lô cước mềm với tác nhân rửa là nước phun với áp lực phun có
thể điều chỉnh, đảm bảo rửa toàn bộ bề mặt trái.
- Kết cấu: Băng rửa cấp 1 và băng rửa cấp 3 (Băng xả) loại băng tải thanh ngang con
lăn – Rửa cấp 2 (Băng đánh sạch) loại lô cước mòn.
- Kích thước khối: 4.000 X 700 X 1.500 mm (dài x rộng x cao).
- Tốc độ băng rửa: 0,25 – 0,5 m/s.
- Nguồn điện và công suất tiêu thụ điện: 3 pha, 3,5KW. Báo cáo tổng kết dự án “Hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thò trường trái cây giữa Việt Nam và Thái
Lan” do SIAEP & TIRST thực hiện - Tp. Hồ Chí Minh - Tháng 12/2005

Trang 9/79
- Vật liệu chế tạo: Ngoài hệ lô băng đánh sạch bằng cước, còn lại được chế tạo bằng vật
liệu thép không gỉ.
b.2.2. Thiết bò xử lý nhiệt sử dụng dung dòch có khả năng điều chỉnh nhiệt độ từ 35 –

- Kết cấu: Hệ thống các lô cao su, vải xen kẽ.
- Kích thước khối: 1.250 X 400 X 1.000 mm (dài x rộng x cao).

- Tốc độ các lô đánh bóng: 260 vòng/phút.
Báo cáo tổng kết dự án “Hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thò trường trái cây giữa Việt Nam và Thái
Lan” do SIAEP & TIRST thực hiện - Tp. Hồ Chí Minh - Tháng 12/2005

Trang 10/79
- Nguồn điện và công suất tiêu thụ điện: 3 pha, 1,5 kW.
- Vật liệu chế tạo: Ngoài hệ thống lô đánh bóng, còn lại được chế tạo bằng vật liệu thép
không gỉ.
b.2.5. Thiết bò phân loại.
- Nguyên lý: Phân loại bằng chuyền, liên tục. hệ thống cảm biến trọng lượng điện tử
(Loadcell)
- Kết cấu: Băng chuyền phằng con lăn.
- Kích thước khối: 4.000 X 400 X 400 mm (dài x rộng x cao).
- Tốc độ băng chuyền: 0,25 – 0,5 mét/phút.
- Nguồn điện và công suất tiêu thụ điện: 3 pha, 0,75 kW.
- Vật liệu chế tạo: Trừ băng cao su, còn lại được chế tạo bằng vật liệu thép không gỉ.

c) Kết quả thực hiện
- Hệ thống thiết bò đã được chế tạo hoàn thiện và đưa vào vận hành phục vụ cho các thí
nghiệm về xử lý sau thu hoạch xoài thuộc dự án.
- Mô hình được phía đối tác là Viện Nghiên Cứu Khoa Học Và Công Nghệ Thái Lan
đánh giá cao, đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn và công nghệ trong xử lý và
bảo quản xoài.
- Được một số tổ chức và doanh nghiệp xem xét và quan tâm như Công ty TNHH Thiên
Hà (Bình Phước) và Công ty TNHH Vónh Trà (Tây Ninh)

d) Kiến nghò


Báo cáo tổng kết dự án “Hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thò trường trái cây giữa Việt Nam và Thái
Lan” do SIAEP & TIRST thực hiện - Tp. Hồ Chí Minh - Tháng 12/2005

Trang 12/79

IV.1.2. Thiết kế mô hình nhà đóng gói
a) Mục đích
Xây dựng và chuyển giao mô hình nhà đóng gói phù hợp với công nghệ và thiết bò đã
nghiên cứu trong các nội dung của dự án phục vụ cho công tác xử lý, bảo quản sau thu
hoạch xoài quy mô sản xuất hàng hoá (20 tấn/ca).
b) Đặc tính kỹ thuật nhà xưởng và thiết bò
- Nhà xưởng: Diện tích xây dựng tối thiểu: 500 m
2

(25 m x 20 m)
Hình 8: Sơ đồ công nghệ nhà xử lý, đóng gói xoài
- Thiết bò:
• Khu sơ loại: Hệ thống khay chứa làm ráo mủ xoài trước khi đưa vào xử lý.
• Khu xử lý: Hệ thống thiết bò rửa, xử lý nhiệt, làm khô, đánh bóng, phân loại công
suất 2.500 tấn/giờ.
• Khu đóng gói: Thiết bò đóng gói, xe đẩy vận chuyển
• Khu ủ chín: Buồng ủ chín sử dụng khí acetylene có khả năng điều chỉnh nồng độ.
• Kho lạnh: Kho lạnh bảo quản trước khi xuất hàng thể tích 200m
3
.


- Thu hoạch xoài Cát Hòa Lộc (khoảng 100 ngày sau khi ra hoa) tại một vườn thí
nghiệm tại Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Những quả không biểu hiện sâu bệnh hay tổn
thương cơ học sẽ được chọn để làm thí nghiệm. Xoài sẽ được thu hái vào sáng sớm
hay chiều tối sau đó chuyển ngay về phòng thí nghiệm của Phân Viện.
- Bao PE kích thước 15x25cm được đục 20, 40 và 100 lỗ (đườg kính lỗ 0,5mm) tương
ứng với các nghiệm thức: PE20, PE40 và PE100.
- Bố trí thực hiện thí nghiệm bao bì với 3 lần lặp sau đây: Sau khi thu hoạch, chọn ngẫu
nhiên những quả đạt độ chín thu hoạch, kích thước đồng đều, không bò tổn thương cơ
học hay sâu bệnh và chia cho 3 nghiệm thức là những loại bao bì khác nhau, bao gồm:
PE đục 20 lỗ, 40 lỗ và 100 lỗ. Đặt vào mỗi túi một quả, hàn kín miệng túi, sau đó bảo
quản ở nhiệt độ 11
o
C.
- Phân tích các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa của quả, bao gồm: tỉ lệ hao hụt trọng lượng
(%), nồng độ CO
2
trong túi PE, độ acid (%), hàm lượng chất rắn hòa tan tổng cộng
(%), độ cứng (kg/cm
2
) và đánh giá cảm quan. Việc phân tích này được thực hiện 7
ngày một lần trong thời gian bảo quản lạnh 35 ngày. Chỉ số cảm quan được đánh giá
theo thang điểm 9 và số người đánh giá cảm quan là 3 người. (Các phương pháp phân
tích sinh lý, sinh hóa cho xoài và các loại trái khác như thanh long, nhãn, măng cụt,
sầu riêng, chôm chôm được trình bày ở phụ lục 7).

b) Kết quả và thảo luận
b.1. Chỉ số cảm quan: Sau 7 ngày, các quả trong bao PE 20 và PE 40 vẫn giữ điểm
cảm quan như ban đầu (9 điểm) trong khi quả được bao bằng PE100 sẽ bò giảm cấp,
chỉ còn 7 điểm (bảng 2). Đến ngày 21, nghiệm thức PE20 và PE40 giúp quả giữ được
điểm cảm quan cao. Cụ thể quả vẫn xanh và chưa biểu hiện nấm bệnh (hình 10). Đến

Hình 9: Xoài cát Hòa Lộc bảo quản bằng màng bao PE sau 7 ngày
PE20 PE40 PE100 Hình 10: Xoài cát Hòa Lộc bảo quản quả bằng màng bao PE sau 21 ngày
Báo cáo tổng kết dự án “Hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thò trường trái cây giữa Việt Nam và Thái
Lan” do SIAEP & TIRST thực hiện - Tp. Hồ Chí Minh - Tháng 12/2005

Trang 15/79
PE20 PE40 PE100
Hình 11: Xoài cát Hòa Lộc bảo quản bằng màng bao PE sau 35 ngày

b.2. Sự giảm trọng lượng quả (%): Trọng lượng tươi giảm trong thời gian bảo quản do
mất nước, vì được bao bằng bao PE, sự hao hụt này không cao so với quả không được
bao (6,8%, sau 21 ngày). Trong 3 nghiệm thức, PE20 giúp quả ít hao hụt trọng lượng
nhất (bảng 3).

Bảng 3: Tỉ lệ hao hụt trọng lượng quả (%) khi bảo quản bằng màng bao PE

Tỉ lệ hao hụt trọng lượng quả (%)
Nghiệm thức
7 ngày 14 ngày 21 ngày 28 ngày 35 ngày
PE20
0,42± 0,04 0,65 ± 0,03 0,75 ± 0,03 0,82 ± 0,06 1,61 ± 0,02

b.4. Độ cứng quả: Sau 7 ngày, quả có độ cứng như nhau (khoảng 11-12 kg/cm
2
), độ cứng
của các quả giảm dần, đến ngày 35 mới thể hiện được sự khác biệt: quả bao bằng PE 100
có độ cứng thấp hơn các nghiệm thức khác. Tuy nhiên với độ cứng trong khoảng 9-10, quả
vẫn cứng nhưng chưa vào giai đoạn chín (bảng 5).

Bảng 5: Độ cứng quả (kg/cm
2
) khi bảo quản bằng màng bao PE.

Độ cứng quả (kg/cm
2
)
Nghiệm thức
Sau 7 ngày Sau 14 ngày Sau 21 ngày Sau 28 ngày Sau 35 ngày
PE20 11,5 ± 0,04 10,7 ± 0,05 10,5 ± 0,03 10,2 ± 0,01 9,8 ± 0,02
PE40 11,5 ± 0,01 10,5 ± 0,07 10,5 ± 0,03 10,5 ± 0,07 10,2 ± 0,09
PE100 10,9 ± 0,05 10,2 ± 0,04 10,1 ± 0,03 9,8 ± 0,06 9,7 ± 0,02

b.5. Hàm lượng chất rắn hòa tan tổng số (%) (TSS): Hàm lượng chất rắn hòa tan tăng
dần trong thời gian bảo quản nhưng không có sự khác biệt lớn giữa các nghiệm thức (bảng
6).

Bảng 6: Hàm lượng chất rắn hòa tan tổng số (%) của quả khi bảo quản bằng bao PE

Hàm lượng chất rắn hòa tan tổng cộng (%)
Nghiệm thức
Sau 7 ngày Sau 14 ngày Sau 21 ngày Sau 28 ngày Sau 35 ngày
PE20 12,5 ± 0,03 12,7 ± 0,28 13,5 ± 0,01 13,7 ± 0,08 15,7 ± 0,04

PE20 6,58 11,41 12,72 12,76 19,08
PE40 8,69 11,77 12,39 12,61 15,58
PE100 11,51 11,98 12,89 13,68 29,80
c) Kết luận: Kết quả thí nghiệm cho thấy việc kết hợp bao bì bảo quản (bao PE) và nhiệt
độ 11
o
C có ảnh hưởng lên chất lượng xoài. Nghiệm thức tối ưu nhất là bao PE đục 40 lỗ
có thể kéo dài thời gian bảo quản đến 28 ngày với chất lượng và cảm quan có thể được
người tiêu dùng chấp nhận.

IV.2.2. SỬ DỤNG BAO BÌ BẢO QUẢN THANH LONG
Cây Thanh Long (Hylocereus undatus (Haw.)) được trồng nhiều ở tỉnh Bình Thuận và
Long An. Thanh long đang được xuất khẩu đi nhiều nước ở Châu u và Châu Á vì quả có
màu sắc hấp dẫn và có giá trò dinh dưỡng cao. Để có thể vận chuyển quả bằng đường tàu
biển với thời gian lâu hơn để đến các nước xa hơn, chúng tôi tiến hành thử nghiệm
phương pháp sử dụng bao bì trong việc bảo quản thanh long sau thu hoạch.
a) Vật liệu và phương pháp:
- Thu hoạch thanh long (khoảng 28 ngày sau khi ra hoa) tại một vườn thí nghiệm tại
Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Những quả không biểu hiện sâu bệnh hay tổn
thương cơ học sẽ được chọn để làm thí nghiệm.
- Các nghiệm thức bao bì bao gồm:
 OTR2000: Bao OTR2000 hàn kín.
 PE: Bao polyethylen (PE), đục 40 lỗ được hàn kín.
 PP: Bao polypropylen (PP), đục 40 lỗ được hàn kín.
Báo cáo tổng kết dự án “Hợp tác về công nghệ xử lý sau thu hoạch và xúc tiến thò trường trái cây giữa Việt Nam và Thái
Lan” do SIAEP & TIRST thực hiện - Tp. Hồ Chí Minh - Tháng 12/2005

Trang 18/79

 PVC: polyvinyl chloride wrapping.

Sau 2
tuần
Sau 3
tuần
Sau 4
tuần
Sau 5
tuần
Sau 6
tuần
Sau 7
tuần
OTR2000
0,56 0,63 1,17 1,33 1,67 1,92 2,08
PE
1,05 1,15 1,32 1,48 1,70 2.04 2.19
PP
1,40 1,74 1,75 2,15 2,65 3.06 *
PVC
1,32 1,78 2,40 3,80 4,57 5.42 *
Đối chứng
2,48 5,75 7,30 7,92 8,44 9.25 *
Ghi chú: * trái đã hư
b.2. Hàm lượng chất tổng rắn hòa tan (%):
Sự thay đổi tổng chất rắn hòa tan của Thanh long không phụ thuộc vào loại bao bì thí
nghiệm và ngay cả đối chứng không bao bì. Các nghiệm thức có tổng chất rắn hòa tan
biến thiên trong khoảng 10,49% - 10,94%. Thanh long bảo quản trong bao OTR2000 đến
tuần thứ 7 vẫn đảm bảo độ ngọt (10%). Theo thời gian bảo quản, tổng chất rắn hòa tan
của Thanh long giảm rõ rệt sau 5 tuần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status