Đề tài: Các tiêu chuẩn Basel I và II và việc áp dụng trong điều kiện Việt Nam
DANH SÁCH NHÓM 5
STT HỌ TÊN
1 Lư Thanh Nhã
2 Trần Thị Kiều Oanh
3 Nguyễn Trường Sinh
4 Lê Ngọc Anh
5 Đặng Thanh Hương
6 Vũ Hồng Minh
GVHD: TS. Trương Quang Thông Nhóm 5 – K16 NH1 Trang 1
Đề tài: Các tiêu chuẩn Basel I và II và việc áp dụng trong điều kiện Việt Nam
I. Giới thiệu về Basel
Thoả ước Basel do uỷ ban Quản chế ngân hàng Basel (BCBS) - Thuỵ Sĩ ban hành là
thoả ước về quản lý ngân hàng, bao gồm các đề xuất về luật. Thoả ước này phần lớn được áp
dụng tại Châu Âu, nhưng nó còn được nhiều nước khác trên thế giới sử dụng với vai trò như
một chuẩn mực quốc tế cho ngành tài chính - ngân hàng. Gần đây, ngân hàng Nhà nước Việt
Nam cũng bắt đầu có những bước đi cụ thể để áp dụng chuẩn mực này vào hệ thống ngân
hàng Việt Nam, ví dụ như việc yêu cầu các ngân hàng thương mại phải đảm bảo được tỉ lệ
an toàn vốn tối thiểu 8%.
Uỷ ban Basel bao gồm thành viên đến từ ngân hàng trung ương và các cơ quan quản
chế ngân hàng của các nước G10, thêm một số nước khác (thường có Luxembourg và Tây
Ban Nha). Uỷ ban này không có thẩm quyền thực thi các đề xuất của mình, dù cho các quốc
gia thành viên (và rất nhiều nước khác) có xu hướng thi hành chính sách của Ủy ban. Điều
này có nghĩa là các đề xuất của Uỷ ban này được thực thi một cách gián tiếp thông qua luật
pháp và các qui định quản lý của từng quốc gia, vì vậy đôi khi, giữa thời điểm đưa ra đề xuất
cho đến khi nó được thực hiện thường có độ chênh về thời gian.
Vấn đề trọng tâm trong Thoả ước Basel liên quan đến mức độ an toàn vốn - nhằm đảm
bảo rằng các định chế tài chính luôn duy trì một số vốn cần thiết (vốn cấp I và vốn cấp II) để
tự bảo vệ mình trước những rủi ro không lường trước được.
Basel I được ban hành năm 1988, đưa ra những nguyên tắc cơ bản, ví dụ như về rủi ro
tín dụng. Thoả ước này sau đó được cập nhật lại năm 1996, bao quát thêm cả rủi ro thị
1.2.2 Cấp 2 – Vốn bổ sung
- Lợi nhuận giữ lại không công bố
- Dự phòng đánh giá lại tài sản
- Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung
- Công cụ vốn hỗn hợp
- Vay với thời hạn ưu đãi
- Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác
1.2.2 Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
1.3 Tiêu chuẩn 3: Vốn tính theo rủi ro gia quyền
GVHD: TS. Trương Quang Thông Nhóm 5 – K16 NH1 Trang 3
Vốn cấp 1 >= Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
Tài sản tính theo rủi ro gia quyền (RWA) = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản
trong bảng CĐKT) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)
Đề tài: Các tiêu chuẩn Basel I và II và việc áp dụng trong điều kiện Việt Nam
1.4. Những thiếu sót của Basel I
1.4.1 Không phân biệt theo loại rủi ro
- Một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng AA được coi như một khoản nợ
đối với tổ chức xếp hạng B.
- Một khoản nợ cho một ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ chỉ cần một lượng vốn
bằng 1/5 khoản nợ cho General Electric (GE-một công ty xếp hạng AAA) →
Việc giữ các tài sản có độ rủi ro thấp ít sinh lợi hơn tài sản có độ rủi ro cao.
1.4.2. Không có lợi ích từ việc đa dạng hóa
- Một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lượng vốn giống như một danh mục
đầu tư được đa dạng hóa, với cùng một giá trị.
- Không có sự khác biệt nào giữa một khoản vay $100 và 100 khoản vay
$1.
1.4.3. “Cơ lợi” có tính hệ thống
1.4.4. Không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành
2. Basel II
Basel II bao gồm những khuyến nghị về luật và quy định ngành ngân hàng, được ban
II đối với các tổ chức ngân hàng.
- Mức độ nhạy cảm của doanh nghiệp (corporate exposure): nghĩa vụ nợ của doanh
nghiệp, theo đó nguồn để hoàn trả lại tiền chủ yếu là từ hoạt động hiện tại của bên vay,
chứ không từ dòng tiền từ dự án hoặc từ bất động sản.
- Mức độ nhạy cảm của ngân hàng (bank exposure): bao gồm các công bố đối với
ngân hàng và các công ty chứng khoán; họ có thể bao gồm các Ngân hàng Phát triển Đa
phương (MDB).
- Mức độ nhạy cảm của quốc gia (sovereign exposure): bao gồm các quốc gia (và các
ngân hàng Trung ương). PSE được định nghĩa như một pháp chế theo cách tiếp cận tiêu
chuẩn, và các MDB thỏa mãn các tiêu chí 0% về rủi ro theo cách tiếp cận tiêu chuẩn.
2.3. Trụ cột thứ III
Trụ cột thứ III làm gia tăng một cách đáng kể các thông tin mà một ngân hàng phải
công bố. Phần này được thiết kế để cho phép thị trường có một bức tranh hoàn thiện
hơn về vị thế rủi ro tổng thể của ngân hàng và cho phép các đối tác của ngân hàng định
giá và tham gia chuyển giao một cách hợp lý.
GVHD: TS. Trương Quang Thông Nhóm 5 – K16 NH1 Trang 5
CAR = (Vốn cấp I + Vốn cấp II + Vốn cấp III)/RWA
Đề tài: Các tiêu chuẩn Basel I và II và việc áp dụng trong điều kiện Việt Nam
3. So sánh giữa hiệp ước 1988 và hiệp ước mới 2004:
III. Việc vận dụng những tiêu chuẩn của Basel I và II vào Việt nam
Hiệp ước Basel I năm 1988 mang tính chất thỏa thuận quốc tế và các tiêu chuẩn về
vốn đã trở thành chuẩn mực quốc tế về vốn tự có. Nó quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
và quản lý rủi ro tín dụng đối với ngân hàng, là một trong những căn cứ, tiêu chuẩn để các
ngân hàng của các quốc gia trên thế giới áp dụng quản lý, bảo đảm an toàn trong hoạt động.
Thực hiện thỏa ước an toàn vốn tối thiểu của Basel I đã và đang là một trong những mục tiêu
quản lý rủi ro đối với các tổ chức tín dụng ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy
nhiên, Basel I mới chỉ đề cập đến những rủi ro về tín dụng chứ chưa đề cập đến những rủi ro
khác như rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất
Trong điều kiện Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc
lớn đến các NHTM Việt Nam, nhất là yêu cầu về quản lý rủi ro. Việc áp dụng Basel II đòi
hỏi chi phí khá cao, các TCTD phải sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, bao gồm các
qui trình, thủ tục và công nghệ thông tin để đánh giá khách hàng với mức độ rủi ro tín dụng
khác nhau. Vì thế, mức rủi ro của các ngân hàng lớn có thể giảm, nhưng của các ngân hàng
nhỏ và yếu kém có thể tăng lên. Khi đó, các ngân hàng nhỏ sẽ chịu chi phí đầu vào tăng, nên
lãi suất đầu ra sẽ tăng hoặc chênh lệch lãi suất thấp hơn, gây ảnh hưởng bất lợi đến lợi nhuận
của ngân hàng. Trong điều kiện đó, các ngân hàng nhỏ phải hợp nhất hoặc sáp nhập để hạn
chế rủi ro. Điều này dường như đã được các NHTM Việt Nam xác nhận và nhiều ngân hàng
đã xây dựng chiến lược kinh doanh riêng, trong đó chú trọng mở rộng qui mô về vốn và loại
hình dịch vụ theo hướng sáp nhập thành ngân hàng lớn hơn và liên doanh, liên kết với các
ngân hàng nước ngoài.
Về giám sát vĩ mô, NHNN đã ban hành Quyết định 457 và Quyết định 493 qui định về
các tỉ lệ an toàn, về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD,
trong đó Quyết định 493 đã tiến dần đến những đánh giá mang các yếu tố định tính và dự
phòng được chia thành dự phòng chung và dự phòng cụ thể đã hướng tới khuôn khổ thuộc
dự phòng theo Basel II.
Trong xu thế hội nhập và tự do hóa hoạt động ngân hàng với nhiều loại hình dịch vụ
ngân hàng mới, áp dụng Basel II là yêu cầu cấp thiết và bắt buộc đối với mọi NHTM, trên cơ
sở đó sẽ tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro, mặc dù việc tiếp cận Basel II
đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, trong khi hệ thống ngân hàng Việt Nam mới đang ở giai đoạn phát
triển ban đầu. Các TCTD có thể tự xác định được thực trạng rủi ro hoạt động theo từng lĩnh
vực kinh doanh và xác định thế mạnh của ngân hàng trong từng lĩnh vực kinh doanh để định
hướng hoạt động ngân hàng, từng bước áp dụng các chẩn mực Basel II.
Riêng đối với phương pháp đo lường nâng cao, phần lớn các NHTM Việt Nam chưa
đáp ứng được các tiêu chuẩn định tính và định lượng do Ủy ban Giám sát ngân hàng thuộc
BIS đề ra, nên việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi phải có thời gian. Với sự phát triển của
thị trường vốn và yêu cầu của hội nhập quốc tế, nguồn thông tin về các ngân hàng ngày càng
công khai và minh bạch, việc tăng vốn ngày càng khó khăn hơn, đòi hỏi mỗi ngân hàng phải
quan tâm đặc biệt đến hiệu quả sử dụng vốn và khả năng mở rộng dịch vụ ngân hàng, càng
mở rộng qui mô và loại hình dịch vụ thì ngân hàng càng phải chủ động trong việc đối mặt
không đủ trình độ để kiểm chứng hệ thống đánh giá rủi ro của các tổ chức tín dụng có đúng
hay không.
Trong khi đó, nếu được sử dụng hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ, nhiều tổ chức tín dụng
có thể quá lạc quan về triển vọng khách hàng của mình, dẫn tới hậu quả vô cùng nguy hiểm
đối với sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng.
Một vấn đề nữa là việc hầu hết các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển chưa được
xếp hạng có thể dẫn tới tình trạng các công ty xếp hạng sẽ tiến hành chấm điểm xếp hạng
doanh nghiệp mà không xuất phát từ yêu cầu của doanh nghiệp.
Khi đó, điểm xếp hạng sẽ do những công ty này cung cấp sẽ không chính xác do thông
tin về doanh nghiệp chưa đầy đủ và như vậy sẽ bất lợi cho doanh nghiệp. Mặt khác, trong
phương pháp đánh giá rủi ro hoạt động cũng còn nhiều vấn đề như phương pháp ngân hàng
tự đánh giá quá phức tạp, phương pháp chuẩn hóa với các chỉ tiêu cơ bản không gắn chặt với
rủi ro, đem cộng gộp rủi ro tín dụng với rủi ro hoạt động.
GVHD: TS. Trương Quang Thông Nhóm 5 – K16 NH1 Trang 8
Đề tài: Các tiêu chuẩn Basel I và II và việc áp dụng trong điều kiện Việt Nam
Mặc dù tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu vẫn giữ mức 8% nhưng trên thực tế, các ngân hàng
phải duy trì mức vốn cao hơn so với mức quy định ở Basel I bởi các ngân hàng phải bổ sung
thêm vốn để dự phòng các rủi ro hoạt động. Điều này sẽ cực kỳ bất lợi cho các ngân hàng
Việt Nam vì rủi ro hoạt động thấp hơn các ngân hàng quốc tế lớn nhưng lại vẫn phải áp dụng
chung một mức vốn dự phòng rủi ro hoạt động là 20% tổng doanh thu.
Bên cạnh đó, phương pháp đánh giá rủi ro nội bộ cũng khá phức tạp đối với các tổ chức
tín dụng ở các nước đang phát triển. Để áp dụng các phương pháp quản lý rủi ro hiện đại,
các tổ chức tín dụng Việt Nam sẽ phải đầu tư rất lớn cho ngân hàng của mình.
GVHD: TS. Trương Quang Thông Nhóm 5 – K16 NH1 Trang 9