Địa lý tự nhiên và địa mạo Việt Nam
I. Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên Việt Nam
1. Vị trí địa lý
Mọi người chúng ta thường hình dung lãnh thổ nước Việt Nam có hình chữ
S, nằm ở rìa đông của bán đảo Đông Dương thuộc lục địa Đông Nam Á cùng với
hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngoài khơi và hàng ngàn đảo quây quần trong
các vũng vịnh ven bờ. Lãnh thổ hình chữ S đó chỉ là hình ảnh phần đất liền của Tổ
Quốc, có diện tích khoảng 330 ngàn km
2
1)
(kể cả các đảo ven bờ). Với các tuyên bố
của Chính phủ Việt Nam năm 1977 và 1982 và phù hợp với công ước của Liên
Hiệp Quốc về Luật biển 1982, Việt Nam còn có một vùng nội thủy, nơi chủ quyền
quốc gia đầy đủ và tuyệt đối như trên đất liền, lại còn có vùng lãnh hải rộng 12 hải
lý, vùng tiếp giáp lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền về kinh tế 200 hải lý tính từ
đường cơ sở và thềm lục địa với diện tích tổng cộng gần 1 triệu km
2
.
Tọa độ địa lý phần đất liền:
∗ Điểm cực bắc: 23
o
24’ vĩ Bắc, thuộc xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang
∗ Điểm cực nam: 8
o
34’ vĩ Bắc, thuộc xã Đất Mũi, Ngọc Hiển, Cà Mau
∗ Điểm cực tây: 102
o
09’ kinh Đông, thuộc xã Sín Thầu, Mường Nhé, Điện
Biên
∗ Điểm cực đông: 109
hệ núi Đông Đông Dương, gồm nhiều dải núi khác nhau: Tây Bắc Bộ, Bắc Trung
Bộ và Nam Trung Bộ. Các khối và dãy núi Tây Bắc Bộ (từ thung lũng sông Hồng
đến thung lũng sông Cả) song song và kéo dài theo phương TB-ĐN, với nhiều đỉnh
núi cao trên dưới 3000m (Phan Si Pan 3143m
2)
, Pu Si Lung 3076m, Phu Luông
2985m, ) và giới hạn bên trong nhiều lòng chảo giữa núi như Điện Biên, Than
Uyên, Nghĩa Lộ, Dãy núi Trường Sơn kéo dài từ thung lũng sông Cả đến thung
1
)
Tập Bản đồ hành chính Việt Nam năm 2005 (NXB Bản đồ): diện tích cả nước là 329.314,6km
2
2
)
Có tài liệu xác định là 3147,3m, 3148m hoặc 3148,3m
1
lũng sông Đà Rằng có phương chủ yếu TB-ĐN ở phía bắc, chuyển dần sang kinh
tuyến ở phía nam, với các đỉnh núi trên 2000m (Xai Lai Leng 2711m, Rào Cỏ
2235m, Ngọc Linh 2598m, ). Dãy núi này ở Bắc Trung Bộ gắn với đường biên
giới Việt-Lào, đến Trung Trung Bộ có hình cung ôm lấy ở phía tây các cao nguyên
Kon Tum và Plây Cu, đồng thời giới hạn ở phía sườn ĐB của nó là các đồng bằng
ven biển hẹp, ngăn cách với nhau bởi các mạch núi nhánh đâm ngang ra sát biển.
Phía nam thung lũng Đà Rằng đến Đông Nam Bộ là các dãy và khối núi Cực Nam
Trung Bộ, phương ĐB-TN và kinh tuyến, với các đỉnh cao trên dưới 2000m (Chư
Yang Sin 2405m, Lang Biang 2167m, Braian 1864m, ), ôm lấy các cao nguyên và
bình sơn rộng lớn ở phía tây bắc: cao nguyên Đắc Lắc, Mơ Nông, Di Linh và Lâm
Viên (cũng gọi là bình sơn Đà Lạt).
Đồng bằng Việt Nam đã được khai phá và cải tạo từ lâu đời gồm đồng bằng
hạ lưu sông Hồng và Mê Công rộng lớn, cùng các đồng bằng ven biển miền Trung,
nhỏ hẹp hơn. Đồng bằng sông Hồng (còn gọi là đồng bằng Bắc Bộ) có diện tích trên
Biển Đông có dạng một hình thoi với 2 cạnh trùng phương kinh tuyến (khoảng
109
o
Đ và120
o
Đ), có trục dài (ĐB-TN) 2200km và trục ngắn (TB-ĐN) 1250km.
Thềm lục địa bằng phẳng, sâu đến 200m, đôi nơi tới 400-500m hoặc hơn, trên đó
phân bố hệ thống đảo ven bờ. Tiếp đến là sườn lục địa, sâu từ 200m đến 3500-
4000m, có địa hình phân dị mạnh mẽ; đáy biển thẳm ở độ sâu 3500-4000m đến
5500m, địa hình khá bằng phẳng.
3. Khí hậu
Khí hậu Việt Nam (phần đất liền) thuộc nội chí tuyến (nhiệt đới) gió mùa
ẩm, ở phía nam chuyển dần sang tính chất á xích đạo. Nhiệt độ trung bình năm ở
phía Bắc (bắc đèo Hải Vân) là 22-25
o
C, còn ở phía Nam là 25
o
-27
o
C. Lượng mưa
trung bình năm ở các đồng bằng thường trên 1500mm, còn ở các vùng núi tới 2000-
3000mm, đôi nơi trên 3000mm (Hoàng Liên Sơn, Ngọc Linh, ). Một số nơi do địa
hình che khuất lượng mưa chỉ còn trên dưới 700mm (Mường Xén, Phan Rang).
Mưa rơi không đều trong năm, mùa mưa chiếm tới 80-85% lượng mưa cả năm.
Ở Việt Nam lượng bốc hơi trung bình năm khoảng 1000mm, nhưng cũng
phân hóa mạnh theo không gian. Phía bắc đèo Ngang (vĩ tuyến 18
o
B) lượng bốc hơi
năm nhỏ hơn 1000mm, trong khi về phía nam đèo này đều vượt quá 1000mm, cao
nhất là ở Cam Ranh (2326mm). Vùng núi Bắc Bộ có lượng bốc hơi thấp nhất,
B): phía Bắc thuộc đới rừng chí tuyến gió mùa và phía
Nam là đới rừng á xích đạo gió mùa [7].
Có sự tương đồng giữa khí hậu trên lục địa và khí hậu trên Biển Đông Việt
Nam. Ngoài dải biển nông và các đảo ven bờ phụ thuộc khá chặt chẽ vào các vùng
khí hậu đất liền, khí hậu ngoài khơi Biển Đông được chia thành 2 miền: miền khí
hậu nhiệt đới (chí tuyến) đại dương Bắc Biển Đông và miền khí hậu á xích đạo đại
dương Nam Biển Đông, mà ranh giới giữa chúng là khoảng vĩ tuyến 14-15
o
B [1].
Đặc điểm của miền khí hậu Bắc Biển Đông là có nhiệt độ không khí trung bình năm
26,7
o
, tháng thấp nhất (tháng 1) 23,3
o
C và mùa hè tháng cao nhất (tháng 5) là 29
o
C;
lượng mưa nhỏ, khoảng 1100mm. Trong khi miền khí hậu Nam Biển Đông có nhiệt
độ không khí luôn cao, ổn định và biến thiên theo mùa không lớn: nhiệt độ trung
bình năm 27,9
o
C, có 2 cực đại vào tháng 5 (29,2
o
C) và tháng 8 (28,2
o
C) và cực tiểu
vào tháng 1 (26,8
o
C), biên độ nhiệt năm 2,5
o
3
(60,4%), tiếp sau là hệ thống sông Hồng,
127tỷ m
3
(15,1%). Thành phần dòng chẩy mặt của tổng lượng nước trên là 76%
(637tỷ m
3
/năm); trong đó lượng nước được sản sinh tại nước ta là 226tỷ m
3
/năm
(35,5%), còn phần sinh từ bên ngoài lãnh thổ là 411tỷ m
3
/năm (64,5%) [5].
Sông ngòi Việt Nam có modul dòng chảy lớn, trên 30 l/s/km
2
, nhưng phân
bố không đều; lớp dòng chảy trung bình đạt 974mm/năm, với hệ số dòng chảy gần
0,50, tức gần bằng nửa lớp mưa năm.
Mùa lũ thường kéo dài 3 đến 6 tháng, trung bình 4 tháng/năm. Lượng mưa
mùa lũ chiếm từ 50-55% đến 85-90%, trung bình 70-75% tổng lượng nước cả năm.
Tháng có lưu lượng bình quân lớn nhất chiếm trung bình 26-28% tổng lượng nước
cả năm. Mùa lũ và tháng có lũ lớn nhất có xu hướng chậm dần từ Bắc vào Nam, từ
tháng 7-8 ở Bắc Bộ đến tháng 10-11 ở Nam Trung Bộ.
Tổng lượng cát bùn vận chuyển trong sông suối nước ta trên 200triệu
tấn/năm
6)
trong đó phần lưu vực bên ngoài lãnh thổ cung cấp 85% [5]. Lượng cát
bùn của sông Hồng (đo tại Sơn Tây) chiếm tới 114triệu tấn/năm (57%)
6)
, còn của
gian, tầng sâu và khối nước đáy [1]. Dưới tác động của các khối nước bên ngoài
Biển Đông do chế độ gió mùa, đã tạo nên 3 loại cấu trúc nước của Biển Đông: cấu
trúc nhiệt đới, cấu trúc nhiệt đới biến tính và cấu trúc nhiệt đới xích đạo [1]. Chúng
có đặc điểm về nhiệt độ, độ muối khác nhau vào mùa đông và mùa hè và phân hóa
giữa Bắc và Nam Biển Đông với ranh giới là vĩ tuyến 14-15
o
B.
5
)
Có tài liệu: 880tỷ m
3
6
)
Số liệu về tổng lượng bùn cát rất khác nhau: có tác giả cho các con số tương ứng là 300triệu tấn (tổng
lượng) -130triệu tấn (sông Hồng)-100triệu tấn (Cửu Long); hoặc: 350triệu tấn (tổng lượng)-120triệu tấn
(sông Hồng)-170triệu tấn (Cửu Long). Lượng cát bùn của hệ thống Cửu Long lệch nhau quá lớn (70/170),
cần nghiên cứu tiếp
7
)
Có tài liệu ghi hàng năm hồ Hòa Bình giữ lại 48triệu tấn bùn cát, thậm chí đến 80triệu tấn
4
Sóng trên Biển Đông nhìn chung không lớn, phụ thuộc vào chế độ gió mùa,
với mùa gió ĐB sóng lớn hơn mùa gió TN. Vào mùa đông số ngày sóng cao hơn
cấp V (2,0-3,5m) chỉ chiếm 20-30%, trong khi mùa gió TN chỉ còn 10-20%. Trong
bão, sóng có thể cao tới 18m.
Thủy triều Biển Đông rất đặc sắc và có sự phân hóa mạnh [1]. Do đặc điểm
địa hình bờ và đáy biển, chế độ triều biển ven bờ Việt Nam rất đa dạng và có đủ 4
kiểu triều chính trên thế giới là nhật triều đều và không đều, bán nhật triều đều và
không đều, trong đó tính chất nhật triều chiếm ưu thế. Từ Bắc vào Nam chế độ triều
đất cát (3 loại đất).
Do sự phân bố dạng khảm của nền địa chất, tính phân cắt mạnh mẽ của nền
địa hình, cùng sự phân hóa của điều kiện khí hậu mà thổ nhưỡng Việt Nam phân
hóa rất mạnh trong không gian. Trong công trình Bản đồ đất Việt Nam [6] đã tiến
hành phân vùng địa lý thổ nhưỡng Việt Nam với 4 cấp là miền, á miền, khu và
vùng. Phần lục địa Việt Nam có 2 miền địa lý thổ nhưỡng Bắc và Nam mà ranh giới
cũng đi qua Bạch Mã-Hải Vân. Kết quả đã chia ra 6 á miền và 16 khu thổ nhưỡng
và cuối cùng là 142 vùng thổ nhưỡng.
5
7. Sinh vật
Sinh vật trên lãnh thổ Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng, với hệ địa-
sinh thái rừng nội chí tuyến ẩm là hệ nguyên sinh đặc trưng của tự nhiên phần lục
địa và hải đảo nước ta. Theo thống kê, nước ta có tới 14.624 loài thực vật, trong đó
có 9.949 loài sống ở đai rừng nội chí tuyến gió mùa chân núi và 4.675 loài sống tại
các đai rừng á chí tuyến và ôn đới trên núi [7]. Về động vật có tới 11.217 loài và
phân loài, trong đó có 223 loài thú, 272 loài bò sát, 828 loài chim,
Trong Biển Đông Việt Nam đã biết có trên 530 loài thực vật phù du và trên
650 loài động vật phù du, khoảng 6000 loài sinh vật đáy; trong trên 2000 loài cá
biển có 50 loài có sản lượng đánh bắt cao, với trữ lượng khoảng 2,7triệu tấn. Cũng
đã biết có khoảng trên 200 loài tôm, khoảng 50 loài mực, trên 650 loài rong, và
khoảng 500 loài san hô đặc trưng cho vùng biển nội chí tuyến, phát triển phong phú
ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [1].
Trên phần đất liền đã chia ra 12 hệ địa-sinh thái chính [7], bao gồm rừng
rậm, rừng thưa, xa van nội chí tuyến; rừng rậm á chí tuyến, rừng ôn đới trên núi;
rừng ngập mặn, rừng tràm, cồn cát ven biển và cuối cùng là hệ địa-sinh thái nông
nghiệp.
Các hệ địa-sinh thái trên biển rộng lớn còn chưa được nghiên cứu hệ thống.
Như vậy những đặc trưng cơ bản của tự nhiên Việt Nam có thể ghi nhận:
∗ Việt Nam là một quốc gia nửa bán đảo và nửa quần đảo, thuộc đai nội chí
tuyến gió mùa ẩm.
Vĩ tuyến 14
o
B chia Biển Đông thành 2 phần Bắc và Nam, còn kinh tuyến
115
o
Đ cũng chia Biển Đông thành 2 phần Đông và Tây.
Để xác định vị trí tương đối các đối tượng trên biển thuận tiện hơn nữa có thể
8
)
Theo các chỉ tiêu được các nhà địa lý thường sử dụng. Bán đảo Đông Dương và Biển Đông thuộc cấp phân
vị Xứ
9
)
Trên đất liền từ lâu việc định danh đã tương đối thống nhất: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ; và các cấp nhỏ
hơn: Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan cũng đã thống nhất, tuy
rằng ranh giới cửa vịnh là còn khác nhau.
6
quy định thêm một không gian bao quanh điểm trung tâm, gọi là khu giữa Biển
Đông (G), nằm giữa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có diện tích khoảng
281.000km
2
(tọa độ: 12
o
B-16
o
B và 112
o
Đ-118
o
Đ). Như vậy Biển Đông có 11 khu
Bắc
Việt
Nam
trong
đới rừng
nhiệt
đới gió
mùa
I. Khu Bắc
và Đông
Bắc Bộ
1. Vùng Bắc Hà-Đồng Văn, núi và cao nguyên.
2. Vùng Lô-Gâm, núi đồi
3. Vùng Ngân Sơn-Bắc Sơn, núi cánh cung
4. Vùng Đông Triều-Cao Xiêm, núi cánh cung
II. Khu
Tây Bắc và
Cực Bắc
Trung Bộ
5. Vùng Mường Tè, núi
6. Vùng Điện Biên-Sơn La, núi và cao nguyên
7. Vùng Hoàng Liên Sơn, núi
8. Vùng Hòa Bình, núi
9. Vùng Tây Thanh-Nghệ, núi
10. Vùng Sông Hồng, đồng bằng
11. Vùng Mã-Cả, đồng bằng
III. Khu
Bắc Trung
Bộ
12. Vùng Trường Sơn Bắc, núi
23. Vùng Tây Ninh-Bình Dương, đồng bằng
thềm
24. Vùng Cửu Long, đồng bằng châu thổ
B.
Biển
Đông
B1.
Miền
Bắc
Biển
Đông
nhiệt
đới đại
dương
I. Khu
Vịnh Bắc
Bộ
1. Vùng Tây Vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa-đảo
2. Vùng Trung tâm Vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa
3. Vùng Đông Vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa
II. Khu
Đông
Trung Bộ
4. Vùng Đông Nam-Ngãi, thềm lục địa
5. Vùng Đông Bình-Khánh, thềm lục địa-đảo
III. Khu
Đông Hải
Nam-Trạm
Giang
6. Vùng Đông Nam Trạm Giang, thềm lục địa
16. Vùng Trường Sa, cao nguyên và núi, đảo
17. Vùng Đông Nam Trường Sa, máng trũng
18. Vùng Nam Trường Sa, đồng bằng sườn lục
địa
VIII. Khu
Tây Nam
Biển Đông
19. Vùng Côn Sơn-Phú Quý, thềm lục địa-đảo
20.Vùng Cảnh Dương-Tư Chính, thềm lục địa-
cao nguyên
21. Vùng Nam Đông Sơn, thềm lục địa-đồng
bằng
IX. Khu
Vịnh Thái
Lan
22. Vùng Phú Quốc-Thổ Chu, thềm lục địa-đảo
23. Vùng Trung tâm vịnh Thái Lan, thềm lục địa
III. Vài nét về đặc điểm địa mạo lãnh thổ Việt Nam
Như trên đã trình bày lãnh thổ Việt Nam bao gồm khoảng 330 ngàn km
2
đất
liền và gần 1 triệu km
2
nội thủy, lãnh hải và vùng đặc quyền về kinh tế. Đặc điểm
8
chung nhất của địa hình Việt Nam là tính đa dạng và sự phân hóa sâu sắc theo
không gian. Những đặc điểm đó sẽ được xem xét tách riêng thành 3 phần: địa mạo
phần lục địa; đảo và quần đảo; và địa mạo đáy biển.
A. Địa mạo phần lục địa
Có thể nêu 4 đặc điểm cơ bản của địa mạo phần lục địa Việt Nam: phản ánh
2
). Bề mặt
ven thung lũng, có độ cao từ 100-200m đến 600-700m, là các pedimen và pediplen,
tuổi Q
1
1-2
, được gọi là bề mặt Ea Súp [3].
Đặc điểm biến dạng các MSB nêu trên phản ánh chuyển động kiến tạo chủ
yếu trong Neogen-Đệ tứ, nhất là từ Pliocen.
Nâng mạnh nhất là các dãy núi địa lũy ở Tây Bắc Bộ (Pu Si Lung, Phan Si
Pan) với di tích MSB Paleogen trên độ cao 2000-2500m. Ở Bắc Bắc Bộ nâng vòm-
khối tảng mạnh (Quản Bạ, Đồng Văn), MSB Paleogen có độ cao 1500 đến 2000m.
Trường Sơn Bắc có dạng một địa lũy-vòm kéo dài, mặt Miocen nghiêng từ 1200
xuống 400m. Khối Ngọc Linh là một vòm-khối tảng lớn có sườn đông dốc, ở trung
tâm mặt Paleogen cao 2000-2100m, hạ thấp dần về nam tới 1500m. Khối Lâm Viên
cũng có cấu tạo vòm-khối tảng, phía tây bắc có khối địa lũy Chư Yang Sin (mặt
Paleogen cao tới 2000m), phía sườn đông là một vách kiến tạo-xâm thực lớn
(Krông Pha), với mặt Pliocen đổ rất dốc từ độ cao 800m xuống 200m.
Cấu trúc địa hình của các cao nguyên bazan phân bố rộng rãi ở miền Nam
9
cũng phản ánh rất rõ các đặc điểm địa chất-kiến tạo
10)
. Phun trào bazan bắt đầu từ
Miocen
11)
, gồm 2 kiểu: kiểu khe nứt và kiểu trung tâm. Vào Neogen bazan trào lên
theo khe nứt khi mặt địa hình đã được san phẳng (với đồng bằng bóc mòn, bóc
mòn-tích tụ) tạo lớp phủ rộng lớn. Còn từ cuối Pliocen-Pleistocen bazan phun trào
trên địa hình về cơ bản đã được nâng lên và phân cắt.
Điều kiện địa chất-kiến tạo phức tạp và đa dạng của nền móng lãnh thổ cũng
Tốc độ phong hóa đá bazan ở Nam Việt Nam là lớn, 0,03-0,05mm/năm kể từ
đầu Q
1
2
. Để so sánh có thể thấy thời gian tạo vỏ phong hóa bauxit ở Việt Nam ngắn
hơn ở Ấn Độ và ở Tây Phi đến 15-20 lần, một phần do yếu tố gió mùa quyết định
12)
.
Chính khí hậu nội chí tuyến gió mùa đã tạo ra cho Việt Nam phong phú các
dạng địa hình nguồn gốc ngoại sinh, còn gọi là chạm trổ hình thái (CTHT), tạo nên
sự đa dạng của cảnh quan.
Trước hết là địa hình karst nhiệt đới đã được nhiều chuyên khảo mô tả. Với
diện tích khoảng 55.000 km
2
chủ yếu ở phía Bắc, karst nhiệt đới Việt Nam có phong
10
)
Hình thái cao nguyên bazan với lớp vỏ phong hóa dầy lại phản ánh điều kiện khí hậu nội chí tuyến-gió
mùa
11
)
Trong các bồn trũng thềm lục địa, phun trào bazan từ Oligocen
12
)
Điều này được chúng tôi giải thích còn do yếu tố nội sinh: tốc độ nâng kiến tạo của các cao nguyên bazan
Nam Việt Nam cao gấp đến 10 lần các địa phương đó, đã thúc đẩy quá trình tạo vỏ phong hóa
10
phú các di sản địa chất-địa mạo, đã tạo ra nhiều thắng cảnh nổi tiếng trong nước và
thế giới với 2 di sản thiên nhiên thế giới (Hạ Long
13)
) là sản phẩm trực tiếp của khí
hậu, nhưng không chỉ có thế, mà trắc diện dọc của chúng cũng nói lên điều đó:
sông ngòi nhiệt đới ẩm phải mang nặng bùn cát (sản phẩm của vỏ phong hóa hóa
học dầy) không còn đủ lực và phương tiện (cuội, tảng) để bào phẳng đáy sông. Hiện
tượng đó, cùng với đặc điểm phong hóa chọn lọc do thạch học khác nhau của đá
nền, đã tạo cho lòng sông suối lắm thác ghềnh, nhất là ở phần thượng lưu. Hệ thống
sông Đồng Nai có rất nhiều thác trong đó có những thác đẹp nổi tiếng: Liên
Khương, Gù Gà, Pông Qua; sông Cả từ Cửa Rào trở lên có đến trên 100 thác.
Các đồng bằng châu thổ rộng lớn Bắc Bộ và Nam Bộ, và ngay cả các đồng
bằng nhỏ hẹp ven biển Trung Bộ đều có bề mặt bằng phẳng, cấu tạo bởi thành phần
hạt mịn (sét, bùn cát) và đa nguồn gốc, nhất là luôn có yếu tố sinh vật (rừng ngập
mặn và lợ). Các đặc điểm đó đều nói lên xuất xứ nhiệt đới ẩm của chúng. Cũng
tương tự như vậy vùng bờ biển nhiệt đới Việt Nam thường gặp kiểu bờ cấu tạo bởi
vách mài mòn và thềm đá san hô và carbonat, hoặc bờ bãi triều rừng ngập mặn sú
vẹt; và nhìn chung ở vùng nhiệt đới Việt Nam bờ tích tụ luôn vượt trội so với bờ
mài mòn. Vài chục năm gần đây bờ tích tụ nhiều nơi bị xói lở nghiêm trọng, do
nhiều nguyên nhân (nước biển dâng, chế độ khí tượng hải văn biến động mạnh, ).
3. Đặc điểm phân hóa địa hình trong không gian
13
)
Tạo nên kiểu karst nhiệt đới Hạ Long, với nón tháp karst bị biển tràn ngập
14
)
Nhiều nhà địa lý đã coi vùng trung du Bắc Bộ là một bán bình nguyên (peneplain), thậm chí có tuổi Trung
sinh! Thật ra vùng này có nhiều nguồn gốc: một phần do bóc mòn núi thấp, một phần do phân cắt thềm sông,
một phần là pediplain; chúng đều có tuổi Đệ tứ
11
Do cấu trúc phức tạp của địa hình núi và độ kéo dài tương đối lớn của đất
nước theo chiều kinh tuyến nên đã xảy ra sự phân dị khá rõ của các quá trình ngoại
sinh và các dạng địa hình do chúng tạo ra (tức CTHT) theo phương Bắc-Nam và
-E
2
) là một đại chu kỳ đã hoàn tất, khoảng 200 triệu
năm, kết thúc bằng việc hình thành MSB khu vực rộng lớn-peneplen Đông Dương.
Đại chu kỳ này gồm 4 chu kỳ, đều bắt đầu bằng thời kỳ kiến tạo phân dị, tạo núi và
kết thúc bởi quá trình san bằng địa hình.
Giai đoạn sau (E
3
đến nay) là một đại chu kỳ chưa kết thúc, dài khoảng 34
triệu năm, có thể gọi là giai đoạn tạo núi sau nền, hay giai đoạn Tân kiến tạo. Chính
trong giai đoạn này xảy ra trượt bằng trái cự ly rất lớn của vi mảng Đông Dương so
với vi mảng Việt-Trung và hình thành Biển Đông, có tác động mạnh mẽ đến thành
tạo địa hình Việt Nam. Giai đoạn này gồm 2 chu kỳ: chu kỳ sớm (E
3
-N
2
1
) đặc trưng
bởi nâng phân dị khối tảng mạnh, kèm theo sụt võng rift và phun trào bazan; tạo
một loạt MSB chưa trọn vẹn (pediplen Đà Lạt và Tây Nguyên); chu kỳ muộn (N
2
2
-
Q), nâng khối tảng mạnh mẽ ở ven rìa vi mảng Đông Dương, xuất hiện địa hình núi
cao, phun trào bazan rầm rộ, tạo pedimen, pediplen, thềm sông và thềm biển, xẩy ra
liên tiếp các đợt biển tiến Thuận Hải (Q
1
2-3a
), Cà Ná (Q
1
Sơn), đá carbonat (Hạ Long), Một điều lý thú là tồn tại một tương quan tuy không
thật chặt giữa độ cao và độ lớn của đảo, trong đó các đảo đá magma xâm nhập có độ
cao gấp trên 2 lần đảo đá trầm tích có cùng cấp diện tích. Số lượng các đảo tăng
nhanh theo độ cao giảm dần của đảo: có 25 đảo ở cấp độ cao 300-200m; 115 đảo ở
cấp 200-100m; 279 đảo ở cấp 100-50m và đến 374 đảo ở cấp 50-0m (thống kê các
đảo có ghi độ cao). Nhìn chung các đảo ven bờ có địa hình núi thấp, dạng chỏm sót
là phổ biến, đa số ở độ cao dưới 100m (73,5%).
Ngoại trừ các đảo đá carbonat với địa hình karst, các đảo tạo bởi đá khác có
một nét chung nhất về hình thái là đều có cấu tạo 3 thành phần: phần đỉnh, sườn và
phần chân. Phần đỉnh thường có một diện tích chia nước khá bằng phẳng (mặt san
bằng 100, 200, 300m); sườn thường dốc với các bồn thu nước lồng vào nhau và bị
biến cải mạnh do tác động của các đợt biển tiến; chân đảo gồm các dạng do biển
tạo, như các vách, thềm mài mòn, tích tụ, đụn cát, Các đảo lớn có ưu thế về các
dạng địa hình nguồn gốc bóc mòn và xâm thực, trong khi ở các đảo nhỏ và rất nhỏ
số lượng dạng địa hình rất hạn chế, mà chủ yếu chỉ có nguồn gốc biển.
Số lượng các dạng địa hình tích tụ trên đảo giảm nhanh theo diện tích của
đảo: đảo càng nhỏ càng bị bóc mòn mài mòn là chủ yếu, và điều đó có nghĩa đảo
càng nhỏ càng bị thu hẹp diện tích nhanh.
Dựa vào đặc điểm đá nền, các nhân tố nội và ngoại sinh, kết hợp với các chỉ
tiêu về hình thái, đã chia ra 10 kiểu nguồn gốc-hình thái đảo ven bờ, trong đó có 1
kiểu trên đá carbonat, 4 kiểu trên đá trầm tích sét bột kết, 3 kiểu trên đá magma, 1
kiểu trên đá bở rời và 1 kiểu chỏm sót trên các đá khác nhau.
Các đảo ven bờ được hình thành từ Miocen (23 triệu năm) nhưng giai đoạn
phát triển đảo chính thức chỉ từ kỳ biển tiến Q
1
2-3
.
2. Địa mạo quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Địa hình các quần đảo ngoài khơi Biển Đông là một hình mẫu đầy đủ của
vùng biển nội chí tuyến, với các atol (cấu trúc rạn san hô hình vòng) kích thước
Đa số các đảo có trục dài định hướng ĐB (64,5%), số còn lại định hướng
Đông Nam. Gần như một quy luật, hầu hết các đảo có trục dài định hướng theo
hướng chiều dài của nền ám tiêu san hô mà đảo phân bố trên đó. Đại đa số các đảo
phân bố về phía Bắc và Đông Bắc của các atol, phía có gió và sóng mạnh hơn.
Các đảo thường có độ cao 2-4m, cấu tạo trên mặt bởi cát, sỏi vụn san hô bở
rời tuổi Holocen, phủ lên các trầm tích sỏi dăm san hô phân lớp và đá vôi san hô tái
kết tinh rắn chắc tuổi Pleistocen. Đảo Đá thuộc atol phức Phú Lâm có độ cao 15m,
cấu tạo bởi đá vôi san hô phân lớp tuổi Q
1
3
(C
14
: 27.000±610 năm). Ở Trường Sa, độ
cao của Song Tử Tây lớn hơn cả, đến 6 m, cấu tạo trên mặt bởi cát sạn san hô với
nhiều vỏ sinh vật bở rời. Cần ghi nhận là nếu ở Hoàng Sa (tại đảo Đá) đá san hô
cuối Pleistocen được nâng lên tạo thềm (15m) thì ở Trường Sa (tại Song Tử Tây) đá
đó bị sụt lún khá sâu (ở độ sâu 43,6m, C
14
: 23.980±145 năm). Xen kẽ trong các trầm
tích Holocen và Pleistocen là các lớp ổ tích tụ chứa phôtphorit nguồn phân chim và
các mặt bóc mòn bị chôn vùi, liên quan với các giai đoạn hạ thấp mực nước đại
dương. Các đảo trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thường xuyên bị tác động
của quá trình mài mòn, xói lở và tích tụ, hàng năm thường thay đổi hình thái bờ
theo mùa. Một số đảo đang bị mài mòn xói lở mạnh, cần được bảo vệ bởi các công
trình nhân tạo.
C. Địa mạo đáy biển
Đáy Biển Đông Việt Nam và lân cận về mặt địa mạo được chia thành 2 đơn
vị lớn (KTHT bậc II) là rìa lục địa và đáy biển thẳm, trong đó rìa lục địa gồm 3 đơn
vị cấp nhỏ hơn (KTHT bậc III) là thềm lục địa, sườn lục địa và diềm lục địa. Hơn
cả trên đất liền, địa hình đáy biển phản ánh đầy đủ và rõ ràng cấu trúc sâu của vỏ
nơi đến 10
o
, chưa kể các vách cao nguyên dốc đứng. Cũng trong phạm vi sườn và
diềm lục địa phát triển các vách sườn dốc; các dãy núi ngầm; các cao nguyên khối
tảng cao đến trên 2000m-2500m; các cao nguyên san hô thường nằm trên một nền
móng nâng cao tương đối; các đồng bằng tích tụ kiểu giữa núi, độ sâu 1500m đến
3500m; các đồng bằng tích tụ kiểu lòng máng sâu 2500m (Palawan).
Khác hẳn với sơ đồ đáy biển kiểu Đại Tây Dương, tại đáy biển rìa Biển
Đông, thuộc cung Tây Thái Bình Dương, phát triển các dải núi ngầm quy mô lớn
bao quanh đồng bằng biển thẳm; có dải dài đến trên 500km, rộng 50km, cao tương
đối (so với đáy biển thẳm) trên 2000m (được gọi là vòng cung Đông Trung Bộ)
cùng các dải núi thấp hơn ở đông Hoàng Sa và bắc Trường Sa, thuộc về diềm lục
địa.
Địa hình tại miền sườn và diềm lục địa cũng có tính phân bậc rõ ràng. Mặt
đỉnh các cao nguyên san hô có 2 bậc chính 4-10m đến -4-20m; còn trên sườn của
chúng có các bậc: -8-15m, -30-40m, -60-80m và -220-270m. Bề mặt đỉnh các núi
ngầm ở các bậc độ sâu 400-500m, 900-1000m, 1200-1400m và 1600-1800m. Bề
mặt đáy các đồng bằng và trũng chậu ở các bậc độ sâu: 1000-1500m, 1500-2000m,
2500m, 3000-3500m.
Các đá vôi san hô cấu tạo nên các cao nguyên san hô và núi ngầm có tuổi N-
Q (có nơi từ E
3
) phủ trực tiếp trên các đá móng (magma, biến chất hoặc trầm tích)
tuổi trước KZ hoặc trên đá trầm tích Paleogen. Tốc độ tích tụ đá vôi san hô khoảng
0,12-0,15mm/năm trong N-Q. Căn cứ vào bề dày trầm tích và tuổi tuyệt đối của
chúng (C
14
) có thể sơ bộ xác định tại vùng Song Tử Tây từ 24.000 năm đến nay tốc
độ tích tụ đá vôi san hô thay đổi từ 6,43mm/năm (24.000-20.000 năm), đến
1,15mm/năm (20.000-10.000 năm) và 0,69mm/năm (Holocen) phụ thuộc vào điều
Nam, T/c KH&CN Biển, T.2, 2, tr.1-11, Hà Nội.
5. Nguyễn Văn Âu, 1997: Sông ngòi Việt Nam, 260tr, NXB ĐHQGHN, Hà Nội.
6. Tôn Thất Chiểu (chủ biên), 1996: Bản đồ đất Việt Nam, tỉ lệ 1:1.000.000, NXB
Nông nghiệp, Hà Nội.
7. Vũ Tự Lập, 1999: Địa lý tự nhiên Việt Nam, 346tr, NXB Giáo dục, Hà Nội.
16
17
ấn độ
m i a n m a
vịnh
thái lan
băng cốc
b i ể n
a n đ a m a n
t h á i l a n
l
viêng chăn
rangun
e
o
giacacta
ấ
n
campuchia
cualalămpơ
xingapo
malaixia
malaixia
banđa xêri bêgaoan
e
o
M
a
l
ă
c
c
a
n
a
m
o
b
ô
n
g
e
o
Đ
à
i
c
a
x
a
Đ
ôn
g
T
i
m
o
Đili
b i ể n g i a v a
biển bali
biển
phloret
biển
xavu
p h i l i p p i n
manila
b i ể n
x u l u
a
g
(
v
n
g
S
a
Q Đ
.
T r
S a
(
v
i
ệ
t
n
a
m
)
o
112
112
112
115
115
115
115
115
115
115
115
115
-10
20
Hình 1. Việt Nam trong Đông Nam và sơ đồ định danh các phần của Biển Đông
á
Tỷ lệ 1/ 250.000
Ghi chú
O - Trung tâm Biển Đông
A, B, C, D - Các khu vực của Biển Đông: TB, ĐB, ĐN và TN
G - Khu giữa Biển Đông
A+B - Khu Bắc Biển Đông
C+D - Khu Nam Biển Đông
A+D - Khu Tây Biển Đông
B+C - Khu Đông Biển Đông
Ranh giới Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan
Giới hạn các eo biển
Nguồn: Tập bản đồ Thế giới và các châu lục
NXB GD, 2002
18
17
18
15
17
16
VII
B
2
5
II
6
7
2
1
108
iii
12
9
11
1
I
A
3
1
4
13
II
4
I
2
n
phú quốc
rạch giá
s
g
.
h
ậ
u
V
à
m
C
ỏ
cam pu chia
sông
Chu
vinh
s
ô
n
g
C
ả
s
ô
n
g
Đ
à
hồ Thác Bà
S
g
.
L
ụ
c
N
a
m
S
g
.
K
ỳ
C
ù
n
g
s
ô
n
g
cồn cỏ
cửa Thuận An
thai lan
lào
Đ
ô
n
g
T
â
y
V
à
m
C
ỏ
hồ Dầu Tiếng
S
g
.
Đ
ồ
n
g
N
a
i
tp.hồ chí minh
.
tr ờng sa
o
à
n
a
s
T
r
ờ
n
g
s
a
400km
10
0 200
15
20
105
110 115
Hình 2. Phân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam và lân cận
115
110
55
105
10
20
15