NHU CẦU VÀ NGUỒN CUNG CỦA VÀNG - Pdf 13

Nhu Cầu Và Nguồn Cung
Của Vàng

Vàng là một một dạng vật chất duy nhất nên không cần quan tâm
lắm tới rủi ro niềm tin vì đã là vàng thì đâu phải là khoản nợ của
một ai đó phải trả. Do vậy, không có rủi ro về niềm tin. Nó cũng
không có tính rủi ro của một loại cổ phiếu thưởng hay một khoản
thanh toán phải mua lại như trái phiếu hay các công ty đổ vỡ
trong việc kinh doanh như chứng khoán.

Cũng như những tài sản giá trị khác, giá Vàng cũng thay đổi theo
sự thay đổi giữa cán cân cung cầu. Các sản phẩm Vàng thường
liên quan tới các mỏ vàng đã tồn tại, đang khai thác và những mỏ
Vàng mới phát hiện. Điều này giải thích tại sao giá Vàng bắt đầu
phục hồi từ năm 2001 nhưng nguồn cung sản phẩm từ Vàng vẫn
không tăng. Trong khi đó nhu cầu về Vàng lại tăng lên một cách
ổn định, đây chính là nhân tố chính trên thị trường Vàng. Điều
này đã tạo nên các viễn cảnh tươi sáng về giá trị của kim loại quý
này trong những năm qua.

Vàng và Rủi Ro

Các công cụ tài chính thường chú ý tới ba yếu tố rủi ro chính:

· Rủi ro niềm tin: Đó là rủi ro trong trường hợp người vay nợ
không trả

· Rủi ro trong tính thanh khoản: Tính rủi ro này chính là các tài
sản tài chính khi mà người bán không thể bán cũng như người
mua tìm mua nhưng không thể mua.


yếu tố rủi ro có thể ập xuống thị trường, giá Vàng có thể bị tác
động bất cứ lúc nào. Rủi ro từ thị trường Vàng cũng rất khác biệt
so với rủi do liên quan tới các loại tài sản tài chính khác. Do vậy,
đây cũng chính là một nhân tố hấp dẫn khiến cho Vàng luôn có
trong các danh mục đầu tư đa dạng. Giả dụ: Một ngân hàng nào
đó công bố bán một lượng lớn vàng, khi đó chuyện gì sẽ xảy ra
đối với hiệp ước Vàng của các ngân hàng trung ương năm 1999
(The Central Bank Gold Agreement, CBGA 1– 1999 hay còn gọi
là the Washington Agreement on Gold- Do 15 tổ chức nắm giữ
vàng nhiều nhất thế giới ký kết). Năm 2004 có thêm CBGA2-
Được gia hạn thêm từ CBGA1. Các hiệp định này được ký kết
nhằm khống chế lượng vàng bán ra một cách ào ạt như đã từng
xảy ra vào những năm 80 của thế kỷ trước).

Điều này sẽ có những tác động không hay ảnh hưởng tới các
khoản lợi nhuận từ chứng khoán ngoài ra còn gây ảnh hưởng
không tốt tới giá vàng trong ngắn hạn. Tương tự như các nhân tố
rủi ro đến từ trái phiếu và các loại chứng khoán rủi ro của Vàng
cũng sẽ được phơi bày. Ngay cả các áp lực liên quan tới sức
khỏe của nền kinh tế, của chính phủ và kể cả các tập đoàn trong
thời kỳ kinh tế suy giảm, các cổ phiếu liên quan tới vàng cũng
không ngoại lệ.

Một cách thức đo lường rủi ro thị trường đó là xem xét mức độ
biến động, nó cũng dùng để đo lường mức lợi nhuận có thể mất
mát trên cổ phiếu hay chỉ số của thị trường. Tính biến đông thất
thường của thị trường cao thì tài sản đó thường có mức rủi ro
hơn nhiều.

Giá Vàng về cơ bản chúng ít biến động hơn so với giá cả của các

trường được phân chia theo những nhân tố xã hội kinh tế và văn
hóa khác nhau. Sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng và sự
thay đổi trong kinh tế - xã hội khiến cho xuất hiên nhiều nhu cầu
mới về các sản phẩm vàng. Do kinh tế phát triển đặc biệt ở Trung
Quốc và Ấn Độ khiến cho lớp người giàu (trung lưu tăng lên
nhanh chóng –dẫn tới lượng cầu mới về vàng tăng đột biến trong
những năm gần đây.). Lượng cầu này xuất phát từ ba nhân tố
chính: Trang sức, Đầu Tư và Công Nghiệp.

Nhu Cầu Về Trang Sức

Nhu cầu về trang sức chắc chắn chiếm khoản ¾ nhu cầu tiêu thụ
Vàng. Chỉ trong 12 tháng năm 2006 khối lượng tiêu thụ được ước
tính có giá trị khoảng 44 tỷ USD khiến cho nghành trang sức trở
thành nghành thụ hàng hóa có giá trị lớn nhất thế giới. Mỹ là thị
trường trang sức lớn nhất thế giới. Trong khi đó Ấn Độ lại là một
thị trường lớn nhất thế giới về khối lượng mua bán. Ước tính
chiếm khoảng 22% tổng cầu trên thế giới năm 2006.

Nhu cầu vàng của Ấn Độ được khiến khích bởi đặc tính văn hóa
và truyền thống tôn giáo. Điều này không liên quan trực tiếp gì tới
xu hướng chung của nền kinh tế thế giới.

Nhìn chung nhu cầu trang sức được định hướng bởi khả năng chi
trả cũng như mức độ mong muốn của người tiêu dung. Một xu
hướng tăng giá ổn đính đã diễn ra trong suốt những thời gian
qua, giá tăng một cách từ từ dù có lúc giảm trong một số khoảng
thời gian biến động. Giá tăng lên một cách vững chắc làm tăng
thêm giá trị của việc sở hữu vàng trang sức. Chính là một phần
bản chất trong việc mong muốn sở hữu nó. Mức tiêu thụ vàng

đã được xác định: Tất cả gốc rễ của những vấn đề đó chính là
khả năng của Vàng có thể bảo vệ chống lại sự không chắc chắn,
không ổn định và phòng tránh rủi ro hiệu quả.

Đầu tư vào Vàng có rất nhiều cách thức. một số nhà đầu tư có
thể lựa chọn kết nối hai hay nhiều phương thức để có sự linh
hoạt, đa dạng. Sự phân biệt giữa mua Vàng vật chất và lợi ích từ
hướng dịch chuyển của giá Vàng là thường không rõ ràng, đặc
biệt kể từ khi có thể đầu tư vào Vàng thỏi mà hoàn toàn không có
sự giao nhận Vàng vật chất.

Sự gia tăng trong nhu cầu đầu tư đã phản ánh tương ứng với sự
phát triển trong nhiều phương thức đầu tư. Ngày nay có nhiều
phương thức đầu tư đa dạng thích hợp cho cả nhà đầu tư cá
nhân lẫn tổ chức. Có 6 phương thức chính để đầu tư vào Vàng :

1. Mua bán các loại tiền xu hay vàng thỏi

2. Giao dịch Vàng thông qua các hợp đồng quyền lựa chọn,
tương lai, chứng quyền…

3. Tài khoản Vàng (FX – mức giá được kết nối từ ngân hàng nắm
giữ Vàng thỏi)

4. Giấy chứng nhận (từ Fed, Đức, Thụy Sỹ, Úc)

5. Quỹ vàng Đông Phương (đầu tư vào cổ phiếu của các công ty
khai khoáng vàng)

6. Các sản phẩm cấu trúc cơ bản (một dạng hợp đồng giao trước

định và ước tính lượng trung bình hàng năm khoảng 2,550 tấn
trong vòng 5 năm trở lại đây. Các mỏ mới đang được phát triển
nhằm thay thế các mỏ hiện tại, tuy nhiên, cũng không có dấu hiệu
nào cho thấy tổng sản lượng toàn cầu sẽ tăng lên nhiều.

Thời gian để sản xuất vàng là tương đối lâu, với những mỏ vàng
mới thường mất 10 năm để khai thác mới có thể thành dòng, điều
này có nghĩa sản lượng khai thác có tác động rất chậm khó
tương thích và phản ứng nhanh với sự thay đổi nhanh chóng của
giá Vàng. Những lời hứa khích lệ đưa ra để giữ vững giá Vàng
khiến giá tăng trở lại. Kinh nghiệm từ vàng đã cho thấy như vậy
trong nửa thập kỷ qua. Do vậy, thật không dễ hay sẽ nhanh
chóng gia tăng tăng sản lượng Vàng.

Chu Kỳ Quay Vòng -Tái Sinh

Dù sao, các mỏ sản xuất vàng tương đối chậm trễ do vậy chu kỳ
vàng quay vòng (hay còn gọi là Swap) chắc chắn dễ dàng giao
dịch tăng nguồn cung cho các nhu cầu cần thiết nhằm trợ giúp ổn
định giá vàng. Ý nghĩa giá trị kinh tế ổn định của Vàng khiến nó
thường được phục hồi lại phần lớn sau khi đã sử dụng do khả
năng có thể tan chảy, tái phục hồi và tái sử dụng, từ năm 2001 tới
2005 Vàng tái chế đóng góp khoảng 23% nguồn cung hàng năm.

Các Ngân Hàng Trung Ương

Ngân hàng trung ương và các tổ chức bình ổn quốc tế (như quỹ
tiền tệ quốc tế - the International Monetary Fund) gần đây đã nắm
giữ 1/5 lượng Vàng như một tài sản dự trữ ước tính (khoảng
31.000 tấn phân bổ trong khoảng 110 tổ chức). Tính trung bình,


Tiến trình gia công cơ bản đều diễn ra từ mỏ nằm trong lòng đất
cho tới mỏ lộ thiên.

Nhà máy luyện kim Vàng của thế giới thường nằm gần các khu
trung tâm chính của mỏ Vàng hay ở các trung tâm gia công kim
loại quý nằm rải rác khắp thế giới. Trữ lượng vàng lớn nhất là
nhà máy luyện tinh Rand ở Germinston, Nam Phi. Sản lượng khai
thác lớn nhất thế giới là nhà máy tinh luyện Johnson Matthey ở
Salt Lake City, Mỹ.

Dĩ nhiên là mua Vàng, sau đó bán Vàng ra thị trường, các nhà
máy tinh chế này sẽ được nhận phí từ các chủ mỏ. Sau khi tinh
chế Vàng thành vàng thỏi (có độ tinh khiết 99,5% hoặc cao hơn),
các thỏi Vàng này sẽ được bán cho những người buôn Vàng,
những người này sau đó sẽ bán lại cho các nhà máy sản suất nữ
trang hay những nhà đầu tư. Vai trò của thị trường Vàng thỏi
chính là trung tâm của chu kỳ cung cầu. Đây chính là người trung
gian đóng vai trò hai mặt hợp đồng giữa chủ mỏ và những nhà
sản xuất, tạo dòng chảy dễ dàng kết nối tự do giữa kim loại này
với cơ cấu nòng cốt của thị trường tự do.

Vàng và Lạm Phát

Giá trị như Vàng là một thuật ngữ chỉ chất lượng hàng hóa và
dịch vụ có thể mua, đã duy trì một sự ổn định trong nhiều năm.
Vào năm 1900 giá Vàng có mức giá là $20,67/oz ngang bằng
mức $503/oz quy đổi theo giá hiện tại. Cách đây hai năm, năm
2006 giá trung bình thực tế là $524. Vì vậy, giá trị thực tế của
vàng thay đổi rất ít qua hàng thế kỷ, đặc điểm chung là có thể sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status