CHUYỂN DỊCH cơ cấu XUẤT KHẨU HÀNG hóa VIỆT NAM gắn với PHÁT TRIỂN THƯƠNG mại bền VỮNG - Pdf 13

Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế ngày càng phát triển, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào
thị trường quốc tế, từng bước đổi mới. Nền kinh tế phát triển theo cơ chế kinh tế
thị trường định hướng XHCN. Kinh tế kế hoạch hóa tập trung với những hạn chế
của nó đã làm nền kinh tế Việt Nam bị trì trệ. Trước năm 1986, Việt Nam chỉ quan
hệ với các nước trong khối XHCN, theo đó, hàng hóa cũng chỉ xuất khẩu đến các
nước này. Trước xu thế hội nhập mới, xuất nhập khẩu cũng ngày càng phát triển
với xu hướng đa dạng về sản phẩm và rộng lớn về thị trường. Chuyển đổi về cơ
cấu hàng hóa xuất khẩu được xem như là một điều tất yếu khi Việt Nam gia nhập
nền kinh tế thế giới. Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới trong phát triển
kinh tế, lĩnh vực xuất nhập khẩu đã có những bước tiến quan trọng, góp phần vào
sự phát triển chung của đất nước. Xuất khẩu hàng hóa còn là động lực thúc đẩy sự
phát triển của thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế, năng
cao vị thế của nước ta trong mắt các quốc gia khác.
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
I. Cơ sở lý luận chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam gắn
với phát triển bền vững
1.1 Các vấn đề cơ bản về xuất khẩu
1.1.1. Xuất khẩu
Xuất khẩu là quá trình hàng hóa được sản xuất ở trong nước nhưng tiêu thụ ở
nước ngoài. Xuất khẩu thể hiện nhu cầu về hàng hóa của các quốc gia khác với
quốc gia chủ thể. Xuất khẩu còn chỉ ra những lĩnh vực có thể chuyên môn hóa
được, những công nghệ và tư liệu sản xuất trong nước còn thiếu để sản xuất ra sản
phẩm xuất khẩu đạt được chất lượng quốc tế.
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu
a) Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế toàn cầu
Xuất khẩu hàng hoá xuất hiện từ rất sớm, nó là hoạt động buôn bán trên phạm
vi giữa các quốc gia với nhau(quốc tế). Nó không phải là hành vi buôn bán riêng
lẻ, đơn phương mà ta có cả một hệ thống các quan hệ buôn bán trong tổ chức

một sản phẩm thuần túy ra đời tại một địa phương cụ thể nhưng vẫn mang giá trị
toàn cầu.
Quá trình tạo ra chuỗi giá trị toàn cầu có ba phân khúc: nghiên cứu và phát
triển – sở hữu trí tuệ, sản xuất, xây dựng thương hiệu và thương mại.
1.2 Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hóa
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu là tỷ lệ tương quan giữa các ngành, mặt hàng xuất
khẩu hoặc tỷ lệ tương quan giữa các thị trường xuất khẩu.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu hàng hóa trên thị trường quốc tế:
- tốc độ tăng trưởng của hàng hóa “vô hình” nhanh hơn các hàng hóa “hữu
hình”
- giảm đáng kể tỷ trọng cá nhóm hàng lương thực, thực phẩm
- giảm mạnh tỷ trọng của nguyên liệu, tăng tỷ trọng của dầu mỏ và khí đốt
- tăng tỷ trọng của sản phẩm công nghiệp chế biến, nhất là máy móc thiết bị.
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nông sản, nguyên liệu thô và
sản phẩm sơ chế, sức cạnh tranh kém, người xuất khẩu bị ép giá thiệt thòi. Để nâng
cao sức cạnh tranh, cũng như hạn chế sự giao động về giá thì cần đổi mới cơ cấu
xuất khẩu theo hường tăng cường xuất khẩu các mặt hàng tinh chế, giảm dần sản
phẩm thô và sơ chế.
1.3 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng đầy đủ các nhu cầu hiện tại mà
không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai.
Có thể hiểu phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao,
liên tục trong thời gian dài. Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả nguồn
tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế
nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại
hậu quả xã hội cho thế hệ tương lai.
1.4 Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam gắn với phát
triển bền vững

nhỏ (mới chiếm từ 0,5 đến 1,4%), chưa tương xứng với tiềm năng của ngành.
Nhưng xét về tốc độ gia tăng giá trị kim ngạch thì rau quả đã tăng rất nhanh, năm
1998 đạt 52 triệu USD thì năm 1999 là 105 triệu USD và năm 2000 đạt 205 triệu
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
USD, tăng gần 2 lần so với năm 1999. Thứ đến là hồ tiêu hạt với chỉ số tăng 51%
rồi đến cà phê (28%) và cao su (22%).
Mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú và đa dạng. Nếu như năm 2004,
Việt Nam chỉ có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD thì đến hết năm 2010
đã có 18 nhóm hàng, trong đó có 10 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ
USD và 8 nhóm hàng trên 2 tỷ USD. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt
trên thị trường của 220 nước và vùng lãnh thổ.
Theo thống kê vào tháng 10. 2011, Việt Nam đã có thêm 5 mặt hàng có
KNXK trên 1 tỷ USD, nâng tổng số các mặt hàng có quy mô xuất khẩu trên 1 tỷ
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
USD lên 20 mặt hàng. Với các kết quả này, KNXK 9 tháng qua đã đạt 70 tỷ USD
và đang bám đuổi rất sát với chỉ tiêu cả năm là 79,4 tỷ USD.
Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn tương đối lạc hậu.
Hàng hoá của Việt Nam chưa có thương hiệu trên thị trường thế giới, tính cạnh
tranh thấp vì chất lượng và mẫu mã, giá đầu vào cao. Chi phí cho xuất khẩu lớn,
nhất là thu gom hàng hoá, vận tải, tiêu cực phí ở khâu vận tải và thủ tục hải quan.
Trên 60% giá trị kim ngạch là mặt hàng xuất khẩu ở dạng thô, giá trị gia tăng thấp.
Hàng công nghiệp thì tỷ lệ gia công cao, nhất là may mặc và giày dép.
2.2. Những nhân tố tác động đến khả năng chuyển dịch cơ cấu
xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam gắn với phát triển bền vững
2.2.1. Những nhân tố thuận lợi
Năm 2011, hoạt động xuất nhập khẩu có những thuận lợi như sự phục
hồi của kinh tế thế giới đặc biệt là của các thị trường xuất khẩu truyền thống đang
tạo điều kiện tốt hơn cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Năm 2012, tình hình cũng chưa thấy sáng sủa hơn khi thị trường xuất khẩu ngành
này bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng nợ ở EU, Hoa Kỳ và các dự án nguyên phụ liệu
tiếp tục khó triển khai.
2.3. Tình hình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam gắn
với phát triển bền vững
Trong mười năm qua, hoạt động xuất khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng
đối với tăng trưởng kinh tế và giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nhất là giải quyết
việc làm cho lao động có trình độ trung bình. Kim ngạch xuất khẩu không ngừng
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
tăng lên qua các năm không chỉ về mặt số lượng mà còn về cả giá trị. Tuy nhiên
trong thời gian qua nhìn vào kết quả tăng trưởng xuất khẩu mà nước ta đạt được,
thì chúng ta cũng có thể nhận ra chất lượng tăng trưởng xuất khẩu chưa cao, hoạt
động xuất khẩu chứa đựng nhiều nguy cơ làm suy thoái môi trường.
Định hướng phát triển bền vững như trong giai đoạn tới đó là cần nâng cao
chất lượng xuất khẩu trên cơ sở thay đổi mô hình tăng trưởng dựa vào các yếu tố
làm tăng năng xuất, chất lượng, nâng cao giá trị hàng hóa. Giá trị gia tăng của hàng
hóa xuất khẩu còn thấp do chủ yếu dựa vào khai thác các yếu tố sẵn có về điều
kiện tự nhiên và nguồn lao động rẻ. Chính sách phát triển xuất khẩu quá chú trọng
đến chỉ tiêu số lượng mà chưa thật sự quan tâm đúng mức đến chất lượng và hiệu
quả xuất khẩu. Không những thế, hàng hóa xuất khẩu của chúng ta vẫn phải phụ
thuộc nhiều vào việc nhập khẩu nguyên phụ liệu cho quá trình sản xuất như ngành
dệt may, da giầy ,nên khi giá cả thế giới biến động, nền sản xuất của chúng ta bị
ảnh hưởng rất lớn và gặp khó khăn khi xuất khẩu.
Việc xác định đúng cơ cấu xuất khẩu hàng hóa sẽ có tác dụng: Định hướng
rõ cho việc đầu tư sản xuất hàng hoá xuất khẩu tạo nên những mặt hàng chủ lực
xuất khẩu có giá trị cao và có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Tạo cơ sở để
hoạch định các chính sách phục vụ và khuyến khích xuất khẩu đúng địa chỉ, đúng
mặt hàng và đúng mức độ. Qua đó có thể khai thác các thế mạnh xuất khẩu của đất
nước.

phẩm thủ công mỹ nghệ có tỉ lệ giá trị nội địa và giá trị gia tăng xuất khẩu cao như
dệt may, điện tử, giày dép, sản phẩm gỗ. Các mặt hàng này có giá trị xuất khẩu
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
cao, được khách hàng quốc tế ưa chuộng. Nên việc chú trọng đầu tư vào xuất khẩu
các mặt hàng này rất được coi trọng.
Về lĩnh vực nông nghiệp, nước ta chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và theo hướng gia tăng mức độ
chế biến không đáng kể. Do hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp thấp, sản xuất và
tiêu thụ nông sản bấp bênh, thường xuyên bị đe dọa bởi sự biến động cả về thời tiết
lẫn thị trường. Khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của hàng nông sản thấp.
Việt Nam hiện nay mới tham gia những khâu tạo ra giá trị gia tăng ít nhất trong
chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Thực tế ở nước ta hiện nay tỷ trọng giá trị sản xuất,
xuất khẩu nông sản trong GDP và trong tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn còn ở mức
cao. Chẳng hạn, giá trị sản xuất nông sản (nông, lâm, thủy sản) năm 2009 còn
chiếm tới trên 35% GDP và tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu là 21,1%. Ở nhiều nước
tỷ trọng này thấp hơn rất nhiều. Điều đó sẽ chứa đựng các yếu tố tiêu cực tiềm ẩn
ảnh hưởng đến sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế cũng như xuất khẩu, bởi vì
nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào sự tăng trưởng của nông nghiệp luôn phải đối
mặt với rủi ro trước sự biến động của thiên tai và thị trường. Xu hướng chuyển
dịch cơ cấu phổ biến trên thế giới hiện nay là giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp,
đồng thời tăng dần tỷ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
Tóm lại, giai đọan 2011-2015, Việt Nam sẽ tập trung phát triển xuất khẩu
những mặt hàng có lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động rẻ như thủy sản, dệt
may, điện tử, các sản phẩm chế tác công nghệ trung bình. Giai đoạn 2016-2020,
tập trung phát triển các mặt hàng công nghệ mới có giá trị gia tăng cao, hàm lượng
công nghiệp và chất xám cao trên cơ sở thu hút mạnh đầu tư trong nước và nước
ngoài vào các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu. Đồng thời, chuyển dịch cơ
cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng giảm nhập khẩu hàng thô, tăng tỷ trọng hàng
Lớp 1

động không đòi hỏi trình độ làng nghề cao và có thể đi ngay vào sản suất trong thời
gian gắn dưới hình thức chuyển giao công nghệ, gia công xuất khẩu. Theo đó, cần
thay đổi định hướng cơ cấu đầu tư công nghiệp, đối với khu vực kinh doanh nhà
nước đầu tư trực để phát triển các ngành xuất khẩu thay vì đầu tư cho thay thế nhập
khẩu. Đối với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài cần ưu tiên sự lựa chọn các dự
án có triển vọng công nghệ vào thị trường quốc tế. chuyển hướng đầu tư tập trung
cho các ngành sử dụng nhiều lao động và những ngành có hàm lượng công nghệ kỹ
thuật cao.
Xác định có trọng tâm và đầu tư đúng mức vào những ngành kinh tế mũi
nhọn, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất theo nhóm các ngành : nhóm ngành có lợi thế
cạnh tranh, nhóm ngành nền tảng và nhóm ngành tiềm năng. Trước mắt, dựa trên
cơ sở lợi thế so sánh động, cần xác định ưu tiên và xây dựng kế hoạch ngắn hạn,
trung và dài hạn đối với các ngành công nghiệp trọng điểm. Chẳng hạn, các ngành
công nghiệp khai thác và chế biến tìa nguyên thiên nhiên có chọn lọc phù hợp với
điều kiện vốn, công nghệ thị trường giúp cho quá trình tích lũy vốn nhanh hơn, tạo
ra cơ sở ổn định lâu dài cho việc cung cấp những nguyên liệu cơ bản của toàn bộ
sự phát triển công nghiệp, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, bao gồm
các ngành công nghiệp sản xuất sản xuất tư liệu sản xuất, kỹ thuật công nghệ, vật
liệu xây dựng… các ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn kỹ thuật công nghệ như
các ngành chế tạo đóng tàu, sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp… có ý nghĩa chiến
lược xét về trung và dài hạn. Hiện đại hóa một số ngành cơ khí có đủ khả năng
cung cấp công cụ và thiết bị cho một số ngành nông, lâm, ngư nghiệp và công nghệ
chế biến. Chú trọng đầu tư phát triển cơ cấu hạ tầng kỹ thuật cần thiết cho một số
ngành dựa vào công nghệ - kỹ thuật cao của nền kinh tế công nghiệp hiên đại như:
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, tự động hóa và xây dựng cơ sở tiền đề
cho việc chuyển bược sang kinh tế dựa trên tri thức. Tập trung phát triển công
nghiệp sản xuất phần mềm tin học thành một nghành kinh tế mũi nhọn.
Thứ ba, nâng cao chất lượng sức mạnh cạnh tranh, hàm lượng khoa học

tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm. Vì vậy, cần xem xét giả quyết những khó khăn
vướng mắc trong xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ ở nước ta
hiện nay. Đồng thời, để nâng cao khả năng cung ứng nguyên, phụ liệu một cách
kịp thời và hiệu quả hơn, cần xây dựng ngay một cơ sở đầu mối ( có thể tập trung
tại các khu công nghiệp…) đóng vai trò trung tâm tổ chức nhập khẩu và cung ứng
nguyên, phụ liệu trong một số lĩnh vực sản xuất như hàng dệt may, giầy dép, sản
phẩm gỗ, nhựa cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trong nước. Từng
bước xây dựng và tiếp tới chuyên nghiệp hóa các dịch vụ hỗ trợ cho doanh nghiệp
như thiết kế tạo mẫu hoạt động quản trị sản xuất, marketing… để cung ứng đầu
vào và phát triển đầu ra.
3.2 Một số giải pháp cụ thể đối với một số ngành hàng trọng điểm

Đối với các nhóm hàng dệt may, da giày
Ngành công nghiệp dệt may, da giày cần từng bước chuyển hướng từ sản xuất
phục vụ xuất khẩu sang tập trung xây dựng các trung tâm xuất, nhập khẩu và cung
cấp nguyên phụ liệu cũng như các dịch vụ phát triển ngành; đặc biệt khuyến khích
phát triển ngành thiết kế tạo mẫu, thời trang; tăng cường đầu tư chiều sâu để sản
xuất các sản phẩm dệt may - da giày cao cấp có hàm lượng sáng tạo và giá trị gia
tăng cao; thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư kinh doanh các ngành công
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
nghiệp phụ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, góp phần giảm tỉ lệ gia công và tăng tỉ lệ
hàng xuất FOB.
Các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm bạn hàng và ký kết hợp đồng xuất
khẩu trực tiếp trên cơ sở tăng cường năng lực thiết kế mẫu mã sản phẩm và gia
tăng tỉ lệ nguyên phụ liệu trong nước tự đáp ứng được; có kế hoạch chuyển dần các
cơ sở sản xuất, công đoạn sản xuất ra sản phẩm không yêu cầu kỹ thuật cao, mẫu
mã đơn giản về các địa phương dồi dào về nguồn lao động phổ thông nhằm giảm
bớt áp lực về lao động và môi trường.
Đẩy mạnh khai thác những thị trường ngách, thị trường nhỏ nhưng chấp nhận

xay xát trên địa bàn mà chuyển dần công đoạn xay xát thô về các tỉnh Đồng bằng
sông Cửu Long, ở thành phố chủ yếu chỉ duy trì công đoạn lau bóng phục vụ cho
xuất khẩu. Ngoài ra, để nâng cao kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này, trong thời
gian tới cần chú trọng khai thác các giống lúa đặc sản được thị trường nhập khẩu
ưa thích và mở rộng xuất khẩu sang các thị trường mới: Nhật Bản, Trung Quốc,
Australia và New Zealand.
3.3. Tổ chức thực hiện
1. Tiếp tục đổi mới tư duy và nhận thức về phát triển nhanh và bền vững:
Trước hết, chuyển từ tư duy phát triển kinh tế theo chiều rộng sang tư duy phát
triển theo chiều sâu, tư duy theo số lượng sang tư duy chất lượng, hiệu quả. Thứ
hai, chuyển từ tư duy và nhận thức ngắn hạn, cục bộ, nhiệm kỳ trong phát triển
kinh tế sang tư duy và nhận thức một cách tổng thể, dài hạn. Thứ ba, cần có tư duy
toàn cầu về phát triển kinh tế, chuyển từ tư duy quốc gia sang tư duy toàn cầu. Thứ
tư, chuyển từ tư duy hành chính, mệnh lệnh sang tư duy kinh tế - kỹ thuật. Thứ
năm, chuyển từ tư duy phòng thủ, bảo hộ, đối phó sang tư duy tấn công, mở cửa,
chủ động chiếm lĩnh thị trường. Thứ sáu, đổi mới tư duy về quản lý nhà nước. Thứ
bảy, nhận thức về việc phát huy nội lực và ngoại lực.
2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa:
Tiếp tục hoàn thiện một số chính sách vĩ mô nhằm tạo ra môi trường kinh doanh
bình đẳng, có hiệu quả, thúc đẩy cạnh tranh và tạo lòng tin để các doanh nghiệp và
nhân dân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất. Khuyến khích kinh tế tập thể và tư
nhân phát triển lâu dài. Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất
của doanh nghiệp nhà nước. Tích cực thu hút đầu tư nước ngoài. Hình thành đồng
bộ các loại hình thị trường, các công cụ điều tiết thị trường như cơ chế giá, thuế,
tiền lương, tỷ giá Duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô bằng cách
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
hoàn thiện các chính sách tài chính, cân đối ngân sách, ổn định tiền tệ, kiểm soát
lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế. Đẩy mạnh cải cách hành chính.
3. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Chuyển nền kinh tế từ tăng trưởng chủ

theo tiêu chí công bằng và theo năng lực, chất lượng và hiệu quả làm việc; đồng
thời, thiết lập một hệ thống bảo hiểm xã hội.
Lớp 1
Kinh tế thương mại Việt Nam Nhóm 6
7. Phát triển kết cấu hạ tầng: Ưu tiên thu hút đầu tư trong và ngoài nước để
cải thiện cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ: giao thông, cung cấp điện, bến cảng, kho
tàng, văn phòng…
8. Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế: Thực hiện tốt các cam kết Việt Nam đã
ký kết, nhất là các cam kết gia nhập WTO và các FTA. Tổ chức tham gia một cách
hiệu quả vào các vòng đàm phán thương mại thế giới. Đổi mới cơ chế và tổ chức
điều phối liên ngành trong việc đàm phán và thực hiện các cam kết hội nhập kinh
tế quốc tế. Trước hết là kiện toàn bộ máy của Ửy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế
quốc tế. Tăng cường năng lực và hoạt động của các cơ quan ngoại giao, thương vụ
để dự báo và xử lý các trường hợp biến cố đối với thị trường xuất khẩu. Đào tạo
đội ngũ cán bộ trong đàm phán vững vàng về chính trị, thành thạo nghiệp vụ, giỏi
ngoại ngữ.
9. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội: Chiến lược phát triển bền vững của
Việt Nam nêu rõ mối quan hệ giữa phát triển bền vững với bảo đảm ổn định chính
trị, xã hội. Một trong những nguyên tắc phát triển bền vững là kết hợp chặt chẽ
giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc
phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Môi trường chính trị, xã hội ổn định của
Việt Nam trong những năm qua là nhân tố quan trọng đảm bảo tăng trưởng kinh tế
cao và ổn định. Môi trường chính trị ổn định là một trong những yếu tố hấp dẫn
đầu tư nước ngoài vào nước ta trong những năm qua. Chính trị, xã hội ổn định
cũng là yếu tố làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư trong nước.
Lớp 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status