tổng quan về thuế và các tác động của thuế - Pdf 13

Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 1

CHƯƠNG 5
TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ

5.1. TỔNG QUAN VÊ THUẾ
5.1.1. Khái niệm thuế
Thuế có lịch sử rất lâu đời. Thuế đã phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với
sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước. Từ khi có nhà nước là phải có thuế.
Tuy nhiên, môi trường tồn tại của thuế phải là nền kinh tế hàng hoá, tuỳ theo cách
tiếp cận có khái niệm thuế như sau:
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các cá nhân và doanh nghiệp cho một
hoạt động vì lợi ích chung nào đó. Khoản thu từ thuế sẽ được sử dụng để mua các
đầu vào cần thiết nhằm sản xuất các hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ hoặc để
phân phối lại sức mua giữa các cá nhân.
“thuế là gì?” không đơn thuần chỉ là một cầu hỏi mang tính học thuật, nó
còn mang những ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Thuế có hai đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, nó mang tính bắt buộc chứ không có tính chất tự nguyện
Thứ hai, thuế là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Những đặc điểm này cho thấy, thuế thường bị coi là tạo ra gánh nặng lớn
hơn so với giá cả. Vì thế, trong những trường hợp có thể được thì tài trợ cho các
khoản chi tiêu bằng giá cả sẽ có lợi thế hơn là bằng thuế. Nhưng có những loại
hàng hóa và dịch vụ không thể tài trợ được bằng cách đặt giá như nhiều loại hàng
hóa công cộng và ngoại ứng, vì thế bắt buộc phải sử dụng thuế như một công cụ
quan trọng để tạo dựng nguồn thu.
Thuế có một số vai trò như sau:
Thuế là nguồn thu chủ yếu và lâu dài của ngân sách quốc gia.
Thuế là một công cụ tác động vào sự phân bổ nguồn lực trong xã hội.
Thuế là công cụ để phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội.



Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 3

5.1.3. Các cách phân loại thuế
a./ Thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào các cá nhân hoặc các doanh
nghiệp. Ví dụ, về thuế trực thu là thuế thu nhập, thuế bảo hiểm xã hội, các loại thuế
đánh vào lương khác, thuế thừa kế và thuế quà tặng. Thuế thu nhập doanh nghiệp
cũng được coi là thuế trực thu vì mọi người nhận thu nhập từ doanh nghiệp.
Thuế gián thu là thuế đánh vào hàng hóa và dịch vụ, tức là chỉ đánh gián tiếp
vào các cá nhân. Chẳng hạn như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế tài sản,
thuế giá trị gia tăng là các loại thuế gián thu.
b./ Thuế phổ cập và thuế chọn lọc.
Để giải thích về cách phân loại này, cần bắt đầu với khái niệm về cơ sở tính
thuế. Cơ sở tính thuế là một khoản mục hay một hoạt động kinh tế mà dựa vào đó,
Chính phủ đánh thuế. Cơ sở tính thuế thường được chia làm ba loại chính là thu
nhập, tiêu dùng và của cải. Ba loại cơ sở tính thuế này có quan hệ mật thiết với
nhau. Thuế đánh vào các cơ sở này có thể là thuế phổ cập hay thuế chọn lọc.
Thuế phổ cập là loại thuế đánh vào tất cả các bộ phận cấu thành của một cơ
sở tính thuế, và không chấp nhận một trường hợp nào được loại trừ, được miễn
hoặc giảm thuế từ cơ sở tính thuế đó.
Thuế chọn lọc là loại thuế chỉ đánh vào một phần của cơ sở tính thuế, hoặc
nó cho phép có các trường hợp miễn giảm thuế khỏi cơ sở tính thuế chung.
c./ Thuế lũy tiến, lũy thoái và thuế tỷ lệ
Một cách phân loại thuế cũng rất phổ biến khác là phân loại thuế theo thuế
suất thành thuế lũy tiến, lũy thoái và thuế tỷ lệ. Tuy nhiên, một điều cần lưu ý ở đây
là thuế suất dùng làm căn cứ phân loại là thuế suất trung bình (Average tax rate –
ATR) là tỷ số giữa tổng số tiền thuế phải trả chia cho giá trị bằng tiền của cơ sở
tính thuế. Còn thuế suất biên (Marginal tax rate – MTR) là doanh thu thuế thu được

5.1.4. Phạm vi ảnh hưởng của thuế
Phạm vi ảnh hưởng của thuế là một khái niệm chung để chỉ tác động của
thuế đến sự thay đổi thu nhập của các đối tượng có liên quan. Người ta thường đề
Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 5

cập đến hai loại phạm vi ảnh hưởng của thuế. Phạm vi ảnh hưởng luật định của
thuế là khái niệm để chỉ ai là đối tượng phải có nghĩa vụ trả thuế theo luật định.
Sự thay đổi trong thu nhập thực tế của các cá nhân do thuế gây ra gọi là
phạm vi ảnh hưởng kinh tế của thuế. Như vậy, chỉ có phạm vi ảnh hưởng kinh tế,
chứ không phải phạm vi ảnh hưởng luật định, mới cho chúng ta biết thực chất gánh
nặng thuế đã được phân chia như thế nào giữa các cá nhân trong xã hội. Từ đây, khi
nói đến phạm vi ảnh hưởng của thuế nghĩa là chúng ta ngầm định về phạm vi ảnh
hưởng kinh tế.
5.1.5. Sự chuyển thuế
Sự khác nhau giữa phạm vi ảnh hưởng luật định và phạm vi ảnh hưởng kinh
tế của thuế được gọi là chuyển thuế. Có thể có hai dạng chuyển thuế.
Chuyển thuế thuận chiều: là sự chuyển thuế từ người sản xuất, khi họ là
người chịu thuế theo luật định, sang cho người tiêu dùng dưới dạng nâng cao giá
hàng.
Chuyển thuế nghịch chiều: là sự chuyển thuế từ người tiêu dùng, khi họ là
đối tượng chịu thuế luật định, sang cho người sản xuất hay người bán hàng bằng
cách làm giảm giá hàng hóa chịu thuế.
5.1.6. Thuế đơn vị và thuế theo giá trị
Thuế đánh vào các hàng hóa được trao đổi trên thị trường có thể thuộc về
một trong hai loại: Thuế đơn vị và thuế theo giá trị.
Thuế đơn vị là thuế đánh vào một lượng cố định trên từng đơn vị sản phẩm
được bán.
Thuế theo giá trị là thuế đánh theo một tỷ lệ phần trăm nhất định của giá bán.
Như khái niệm của loại thuế này cho thấy, thuế theo giá trị phụ thuộc vào giá bán.

đồng và lượng rượu trao đổi là Q
0
chai.
Chú ý rằng, đường cầu D của người tiêu dùng là đường thể hiện mức tối đa
mà các cá nhân sẵn sàng trả cho mỗi chai rượu, không cần biết số tiền phải trả đó là
cho ai, người bán hay Chính phủ. Vì thế, dù có thuế hay không thì tổng mức sẵn
sàng trả của người tiêu dùng vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, nếu trước thuế, họ chỉ
có nghĩa vụ trả tiền cho người bán thì đường cầu D chính là đường cầu thể hiện
mức độ sẵn sàng trả của người tiêu dùng cho người bán. Nhưng khi có thuế, người
P(đ)
P
m
P
0
Q
1
P
b
Q
0
H
G

E

F

S

D

Như vậy, thuế đã tạo ra một sự chênh lệch giữa giá người mua phải trả và giá
người bán được nhận. Khoảng chênh lệch đó chính là thuế Chính phủ thu (T = P
m

P
b
). So với trước thuế, người mua đã phải trả một mức giá cao hơn, nhưng người
bán cũng chỉ nhận được một mức giá thấp hơn. Nói cách khác, tuy về danh nghĩa,
người tiêu dùng trả thuế nhưng thực chất, gánh nặng thuế đã được chia sẻ giữa hai
người. Tổng doanh thu thuế mà Chính phủ thu được bằng T nhân với số chai rượu
bán ra (Q
1
) hay chính là diện tích hình chữ nhật P
b
P
m
HF. Hình chữ nhật này được
chia làm hai phần: Diện tích P
0
P
m
HG là gánh nặng thuế mà người tiêu dùng phải
trả, còn diện tích P
b
P
0
GF là gánh nặng thuế mà người sản xuất phải trả.
Đến đây người ta sẽ hỏi nếu người trả thuế luật định là người sản xuất thì
phân tích trên có thay đổi gì không? Giả sử Chính phủ vẫn đánh thuế T trên mỗi
chai rượu sản xuất ra, nhưng không thu thuế này tại khâu tiêu thụ mà ngay từ khi

b
tương ứng với điểm F. So
sánh hình 5.2 và hình 5.1 có thể thấy, cho dù thuế đánh vào người sản xuất hay người
tiêu dùng thì phạm vi ảnh hưởng kinh tế của thuế cũng hoàn toàn tương tự như nhau.
b./ Tác động của thuế theo giá trị.
Tác động của thuế theo giá trị rất giống với thuế đơn vị. Nguyên tắc cơ bản
vẫn là xác định xem thuế làm đường cung và cầu dịch chuyển thế nào, rồi sau đó
tính toán điểm cân bằng mới của thị trường. Chỉ có điều cần nhớ rằng, vì thuế theo
giá trị phụ thuộc vào giá bán, nên khi đường cầu (hoặc cung) dịch chuyển, nó
không thể dịch chuyển song song như trường hợp thuế đơn vị, mà trái lại, các điểm
trên đường cầu (hoặc cung) đó sẽ dịch chuyển cùng một tỷ lệ với mức giá tương
ứng. Có nghĩa là, điểm nào trên đường cầu (hoặc cung) ứng với mức giá càng thấp
thì mức dịch chuyển tuyệt đối của điểm đó xuống dưới (hoặc lên trên) càng ít, cho
đến khi đường cầu (hoặc cung) đó cắt trục hoành thì mức giá tương ứng bằng 0,
P(đ)
P
m
P
0
Q
1
P
b
Q
0
H
G

E


thuế đó là thuế đơn vị hay thuế theo giá trị, và nó được đánh vào người sản xuất
hay người tiêu dùng.
Nhưng nếu phạm vi ảnh hưởng của thuế không phụ thuộc vào những yếu tố
trên thì yếu tố nào sẽ quyết định gánh nặng thuế phần lớn sẽ rơi vào ai? Như phần
sau sẽ thấy, chỉ có độ co giãn của cung và cầu mới thực sự là yếu tố quyết định.
c./ Độ co giãn của cung và cầu quyết định sự phân chia gánh nặng thuế.
Quy luật chung: Thuế làm lượng hàng hóa được mua bán trên thị trường
giảm xuống, đồng thời làm giá người mua phải trả tăng, giá người bán nhận được
giảm so với trước khi có thuế. Tuy nhiên, giá người mua phải trả tăng bao nhiêu tùy
thuộc vào độ co giãn của cầu. Nếu cầu co giãn nhiều thì với một mức độ tăng giá
cho trước, lượng cầu sẽ giảm nhiều hơn. Nói cách khác, tương ứng với cùng một độ
giảm xuống của lượng cầu thì giá mà người tiêu dùng thực sự phải trả sẽ tăng ít
hơn, và người tiêu dùng sẽ phải chịu thiệt ít hơn. Tương tự, nếu cung càng ít co
D

P(đ)
P
m
P
0
Q
1
P
b
Q
0
H
G

E


S

(Chai rượu)

O

S’

Hình 5.3 (a): Ph

m vi

nh hư

ng c

a thu
ế

giá
trị đánh vào người tiêu dùng

Hình 5.3 (b): Ph

m vi

nh hư

ng c
5.2.1.2. Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường cạnh tranh không
hoàn hảo.
Tác động của việc đánh thuế phụ thuộc rất nhiều vào cơ cấu của thị trường.
Trong phần trước, chúng ta đã nghiên cứu tác động của thuế trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo. Tuy nhiên, nếu thị trường là độc quyền hay độc quyền nhóm thì tác
động của thuế lại có nhiều điểm khác biệt. Trong phần này, chúng ta sẽ tiếp tục
xem xét hai cơ cấu thị trường này.
a./ Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong độc quyền.
P(đ)
P
m
P
0
Q
1
P
b
Q
0
H
G


F

S

(Chai rượu)

O

D’

Hình 5.4

(a): Ph
ân chia gánh n

ng thu
ế

khi c

u
co giãn nhiều, cung co giãn ít

Hình 5.4

(b
): Ph
ân chia
gánh n


. Nếu đây là thị trường cạnh tranh thì thị trường
sẽ cân bằng tại F với giá cân bằng là P
0
và sản lượng cung cấp là Q
0
.
Nếu Chính phủ quyết định đánh thuế T vào từng đơn vị hàng hóa do hãng
độc quyền sản xuất thì đường chi phí biên sẽ tăng lên bằng MC + T. Nếu là thị
trường cạnh tranh thì điểm cân bằng mới sẽ là F’. Sản lượng cân bằng giảm xuống
Q
0
’ và giá cân bằng tăng lên đến P
0
’. Nhưng nếu đây là thị trường độc quyền thì
điểm cân bằng mới là E’ đạt tại mức giá P
1
’ và sản lượng Q
1
’.
Nhưng, như có thể nhận thấy qua hình 5.6, thuế trong thị trường độc quyền
sẽ làm giá tăng ít hơn và sản lượng giảm ít hơn so với trong thị trường cạnh tranh.
Sở dĩ như vậy là vì đường doanh thu biên dốc hơn đường cầu, khiến cho cùng một
mức thuế sẽ làm giảm sản lượng trong thị trường độc quyền giảm ít hơn so với thị
trường cạnh tranh. Điều này có nghĩa là, người tiêu dùng trong thị trường độc
quyền sẽ chịu gánh nặng thuế thấp hơn so với trong thị trường cạnh tranh.
Nói cách khác, sự chuyển thuế thuận chiều trong môi trường độc quyền ít
hơn trong môi trường cạnh tranh. Tuy nhiên, điều này chưa hẳn đã là điều tốt đối
P(đ)
P
0

Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 12

với người tiêu dùng, vì ngay khi chưa có thuế, họ đã phải trả mức giá độc quyền
cao hơn nhiều so với giá cạnh tranh. Nếu như trong thị trường cạnh tranh, phạm vi
ảnh hưởng của thuế phụ thuộc vào độ co giãn của đường cung và cầu, thì trong thị
trường độc quyền, nó cũng sẽ phụ thuộc vào độ dốc của đường chi phí biên và
đường cầu.
Mọi yếu tố khác không đổi, nếu đường chi phí biên càng dốc, tức là tốc độ
tăng chi phí biên khi sản lượng tăng càng cao, thì khả năng chuyển thuế thuận
chiều của hãng độc quyền càng nhỏ. Điều này có thể thấy rõ khi chúng ta so sánh
ảnh hưởng của thuế đơn vị tương ứng với hai đường MC có độ dốc khác nhau.
Trong hình 5.7 minh họa hai hãng độc quyền có đường chi phí biên khác nhau, lần
lượt là MC
1
và MC
2
. Để dễ dàng cho việc so sánh, giả sử cả hai hãng này đều đứng
trước một đường cầu thị trường như nhau, và đều tối đa hóa lợi nhuận độc quyền
tại một mức giá và lượng ban đầu, khi chưa có thuế, như nhau.
Hình 5.7: Phạm vi ảnh hưởng của thuế phụ thuộc vào độ dốc của MC

E
0
E
2
Q
MC
1
+ T
O
D
MC
2
MC
2
+ T
A

B

Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 13

độc quyền thứ nhất ít có khả năng chuyển thuế thuận chiều hơn so với hãng độc
quyền thứ hai. Như vậy, khi đường chi phí biên thẳng đứng thì không có sự thay
đổi giá và sản lượng do thuế, và hãng độc quyền sẽ phải chịu toàn bộ thuế. Trái lại,
khi đường chi phí biên nằm ngang, giống như trong nhiều trường hợp các nhà kinh
tế hay giả định để đơn giản hóa sự phân tích, thì khả năng hãng độc quyền có thể
tăng giá hàng hóa sau thuế là cao nhất. Nhưng khi đó có phải người tiêu dùng sẽ
phải gánh chịu phần lớn gánh nặng thuế hay không? Câu trả lời còn phụ thuộc vào
hình dáng của đường cầu.


Q
0

D

Q

O

P
(đ)

Q

O

Hình 5.8

(
a
):
Thu
ế

đánh vào h
ãng
đ

c quy


Q
1

P
0

Q
0

P
1

Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 14

phân chia gánh nặng thuế phụ thuộc chủ yếu vào mức độ thay đổi giá trên thị
trường, mà điều này còn tùy thuộc vào hành vi của những người bán, xem họ sẽ
cạnh tranh hay cấu kết với nhau.
Tuy nhiên, ta vẫn có thể rút ra kết luận nhất định khi xem xét các khả năng
ứng xử của các hãng trong thị trường độc quyền nhóm. Lý tưởng nhất đối với các
hãng là cấu kết lại với nhau để sản xuất ra mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận cho
cả ngành. Giải pháp này được gọi là cấu kết theo kiểu Các – ten. Để có được giải
pháp theo kiểu các – ten, tất cả các hãng sản xuất phải tự nguyện cắt giảm sản
lượng của mình để đẩy giá thị trường lên. Tuy nhiên, giải pháp kiểu các – ten này
rất dễ bị phá vỡ trong thực tế, vì tất cả các hãng cấu kết đều có động cơ gian lận,
muốn bán nhiều hơn mức sản lượng đã thỏa thuận với các hãng khác để tranh thủ
mức giá cao thủ lợi cho mình. Vì thế, mức sản lượng của nhóm độc quyền cần thiết
để tối đa hóa lợi nhuận cả ngành. Các hãng nói chung sẽ được lợi hơn nếu có một
cơ chế nào đó buộc họ phải giảm sản lượng xuống gần với mức sản lượng kiểu cac

việc. Kết quả, cung về lao động tăng lên.
Bên cạnh đó, công nhân còn chịu tác động của hiệu ứng thứ hai là hiệu ứng
thu nhập. Với số tiền lương cao hơn, thu nhập nhiều hơn thì cá nhân muốn “mua”
nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, trong đó có “hàng hóa” nghỉ ngơi. Hiệu ứng này
còn được tăng cường thêm vì một lẽ số giờ làm việc của mỗi cá nhân chịu giới hạn
về mặt sinh lý. Tức là, không ai có thể làm việc quá một số giờ nhất định trong
ngày. Vì thế, khi số giờ làm việc đạt gần đến giới hạn sinh lý đó thì cầu về nghỉ
ngơi của cá nhân càng tăng.
Kết hợp hai tác động này cho thấy khi giờ công tăng, cá nhân có xu hướng
giảm thời gian làm việc. Câu trả lời cuối cùng về việc giờ công tăng lên thì cung
lao động tăng hay giảm còn tùy thuộc vào tương quan độ lớn giữa hiệu ứng thay
thế và hiệu ứng thu nhập. Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế tin rằng, khi giờ công
thấp hơn một mức nhất định thì cung lao động sẽ tăng theo tiền lương như mọi
đường cung thông thường khác. Nhưng khi tiền lương vượt quá điểm giới hạn đó
Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 16

thì hiệu ứng thay thế sẽ lấn át hiệu ứng thu nhập và tiền lương tăng sẽ làm cung lao
động giảm. Kết quả, cung về lao động có dạng quay vòng như biểu diễn trong hình
5.9.

Đến đây, tác động của thuế đến thị trường lao động sẽ phụ thuộc vào giao
điểm cung cầu về lao động trước và sau thuế. Nếu đường cầu về lao động D
L


w
1
+ t

L
1

w
0

L
0

D
L

L

O

L

O

S
L

w
1

C

(a)

(b)

Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 17

người lao động chịu toàn bộ. Đồng thời, thuế còn làm cung về lao động. Sự thay đổi
hành vi của cá nhân để phản ứng lại với thuế sẽ được bàn đến kỹ hơn trong bài sau.
b./ Thị trường vốn.
Tương tự, phân tích tác động của thuế trong thị trường vốn cũng cần bắt đầu
bằng việc phân tích lại đặc điểm của thị trường vốn. Nếu nền kinh tế đóng, không
có quan hệ ngoại thương với các nước khác thì cung về vốn hoàn toàn do tiết kiệm
trong nước đáp ứng. Khi đó, sẽ hợp lý nếu giả định đường cầu về vốn đi xuống và
đường cung đi lên (lãi suất tăng lên các hãng sẽ có ít cầu về vốn hơn và cá nhân
muốn tiết kiệm nhiều hơn). Khi đó, tác động của thuế giống như với các hàng hóa
khác.
Nhưng nếu nền kinh tế mở và vốn lưu động hoàn toàn giữa các nước thì sẽ
chỉ có một thị trường về vốn, đó là thị trường vốn thế giới. Bất kể khi nào lãi suất
trong nước cao hơn hoặc thấp hơn lãi suất thế giới thì đều xuất hiện một luồng vốn
vào hoặc ra khỏi nước đó để cân bằng lãi suất trong nước với lãi suất quốc tế.
Đường cung về vốn với mỗi nước là đường nằm ngang – doanh nghiệp trong nước
có thể vay bất kỳ một lượng vốn nào tại lãi suất quốc tế. Kết quả, thuế vốn sẽ hoàn
toàn do người vay vốn trong nước gánh chịu (hình 5.5 (c) )


(
Chai rư

u)

D’

O

Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 18

Mặc dù trong một thế giới đang có xu hướng tự do hóa và toàn cầu hóa
thương mại như ngày nay, vốn vẫn chưa thể lưu chuyển tự do hoàn toàn giữa các
nước, tức là đường cung về vốn không hoàn toàn nằm ngang, nhưng từ phân tích
trên, có thể rút ra những bài học thực tiễn nhất định. Chính phủ nào bỏ qua tác động
của thương mại quốc tế sẽ thổi phồng khả năng đánh thuế vốn của mình. Nền kinh
tế càng mở thì thuế vốn càng tạo thêm gánh nặng cho những người sản xuất trong
nước đang rất cần vay vốn để phát triển sản xuất.
c./ Thị trường đất đai.
Một đặc điểm phổ biến đối với thị trường đất đai, nhất là đối với đất đai các
vùng đô thị hoặc những nơi đã phát triển lâu đời, là lượng cung về đất thường cố
định. Nói cách khác, đường cung về đất là đường thẳng đứng. Một yếu tố có đường
cung thẳng đứng là người bán sẽ phải chịu toàn bộ thuế đánh vào yếu tố đó (xem
hình 5.5 (d)). Theo hình vẽ này, giá thuê đất ban đầu cân bằng tại P
0
. Sau khi có
thuế, đường cầu dịch chuyển xuống dưới làm giá thuê đất giảm xuống còn P
b
.



Q
0
S

(Chai rư

u)

O

P
0



P
m

D

D’

Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 19

họ cũng “mua” luôn một dòng trách nhiệm thuế hàng năm trên mảnh đất đó. Điều
này sẽ làm giảm mức độ sẵn sàng trả giá cho mảnh đất. Vì thế, người chịu toàn bộ
gánh nặng thuế này là chủ đất tại thời điểm ban hành thuế. Hiện tượng này được

a ăn

(P)
P
1
= 20$
Q
2

S
1

Q
1

D

S


su

t ăn/ngày (Q)

O

S
2

T

= 1000
giờ/năm. Khi Chính phủ đánh thuế vào nhà hàng, nhà hàng phải gánh chịu thuế
hoàn toàn và họ giảm nhu cầu thuê mướn lao động. Điều này làm cho đường cầu
dịch chuyển từ D
1
xuống D
2
. Vì cung lao động co giãn hoàn toàn (do các nhân viên
dễ dàng tìm kiếm ở chỗ khác/địa phương khác), nên tiền lương không giảm và
người lao động không gánh chịu thuế. Nói tóm lại, thuế đánh vào đầu ra – suất ăn,
sẽ làm giảm nhu cầu lao động, tức là giảm số người lao động ở đây.
Như hình 5.11(b) minh họa thị trường vốn – cung cấp vốn cho nhà hàng.
Trong ngắn hạn, các chủ nhà hàng bị “kẹt vốn” do đã đầu tư vào các tài sản như
nhà cửa, dụng cụ phục vụ cho kinh doanh nhà hàng, trong khi cung vốn trên thị
Ti

n lương

(w)

w
1
= 8$
H
2

B

H
1


su

t sinh l

i (r)

Đ

u tư (I)

O

Hình
5.11 (
b
): Thu
ế

đánh vào nhà hàng: Xét
theo yếu tố vốn
r
2
=8%

I
1

= 50tr$


sang D
2
. Tại điểm cân bằng vốn mới là điểm B, lãi suất
giảm xuống còn r
2
= 8%. Vì cung vốn không co giãn trong ngắn hạn, các chủ sở
hữu vốn phải gánh chịu gánh nặng thuế vào nhà hàng dưới hình thức tiền lãi đầu tư
vào nhà hàng giảm xuống từ r
1
xuống r
2
.
5.2.2.2. Các vấn đề cần xem xét trong mô hình phân tích cân bằng tổng
thể
a./ Yếu tố thời gian đối với phạm vi ảnh hưởng của thuế: Ngắn hạn so với
dài hạn.
Sự phân tích tác động của thuế đến hoạt động kinh doanh của nhà hàng như
trên được giả định diễn ra trong thời gian ngắn hạn (chẳng hạn là 1 năm). Tuy
nhiên, trong dài hạn, giả định trên không hợp lý (chẳng hạn 10 năm trở lên). Theo
thời gian, đầu tư vốn vào nhà hàng co giãn. Các nhà đầu tư có thể đóng cửa hoặc
bán nhà hàng và đầu tư vào nơi khác. Như vậy, người chủ sở hữu vốn sẽ không
chịu bất kỳ gánh nặng thuế. Trong dài hạn, vốn có thể co giãn hoàn toàn như là có
sự thay thế trong đầu tư: di chuyển từ địa phương này đến địa phương khác. Cung
lao động hoàn toàn co giãn trong ngắn hạn và sẽ co giãn hơn trong dài hạn khi mà
người lao động có tay nghề cao di chuyển sang địa phương khác, ở nơi không bị
đánh thuế và được trả lương cao.
Có một yếu tố trong tiến trình sản xuất của nhà hàng là đất. Do cung yếu tố
đất cố định, nếu như cả yếu tố lao động và vốn có thể di chuyển để tránh thuế, thì
cách duy nhất để nhà hàng có thể duy trì kinh doanh nếu như họ nộp thuế đất với
thuế suất thấp hơn.

tìm cách thích ứng thế nào đi chăng nữa thì suy cho cùng họ cũng vẫn phải chịu
thiệt. Phần lợi ích mà cá nhân bị mất đi do thuế sẽ được chuyển sang cho Chính
phủ dưới dạng doanh thu thuế để Chính phủ trang trải cho các khoản chi tiêu công
cộng. Tuy nhiên, thường là tổng độ thỏa dụng mất đi của tất cả những người bị ảnh
Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 23

hưởng bởi thuế lớn hơn phần lợi ích Chính phủ thu lại dưới dạng thu thuế. Như
vậy, thuế đã gây ra sự phi hiệu quả, mà người ta thường gọi bằng cái tên là tổn thất
vô ích hay gánh nặng quá mức hay mất trắng của thuế. Tổn thất vô ích (gánh nặng
quá mức, mất trắng) của thuế là phần mất mát trong phúc lợi của xã hội do thuế
gây ra mà không thể bù đắp được bằng doanh thu thuế.
5.3.1.1. Gánh nặng quá mức của thuế từ góc độ lợi ích người tiêu dùng
a./ Xác định gánh nặng quá mức của thuế.
Để thấy rõ thuế đánh vào hàng hóa có thể gây ra gánh nặng quá mức như thế
nào, hãy xét một cá nhân có mức thu nhập cố định được dùng để mua hai loại hàng
hóa gạo và vải. Giá một kg gạo ban đầu là P
x
và một mét vải là P
y
.

1
X
b
X
1
Y
b
Y
1
O

U
i
F
Y
c

Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 24

đảm bảo toàn bộ thuế đánh vào một trong hai loại hàng hóa trên đều sẽ chuyển hết
sang cho người tiêu dùng. Bây giờ, giả sử Chính phủ đánh thuế với thuế suất là t
vào gạo. Vì đường cung về gạo nằm ngang nên thuế này sẽ làm giá gạo mà người
tiêu dùng phải trả tăng lên đến P
x
(1+t). Điều này làm đường ngân sách của cá nhân
xoay vào trong thành đường AF với độ dốc bằng – P
x
(1+t) / P
y

2
mét vải. Doanh thu thuế mà
Chính phủ thu được lúc này là GE
2
. Tuy nhiên, cần phải đặt ra câu hỏi là nếu Chính
phủ muốn có GE
2
thuế thì liệu có cách đánh thuế nào khác để cá nhân ít bị thiệt
thòi hơn, tức là có thể ở trên một đường bàng quan cao hơn U
ii
hay không? Nói một
cách khác, nếu cùng buộc độ thỏa dụng của cá nhân phải giảm từ mức tương ứng
với đường bàng quan U
i
xuống đường bàng quan U
ii
thì có loại thuế nào mang lại
doanh thu thuế lớn hơn hay không? Lưu hành nội bộ Biên soan: Ths Nguyễn Việt Dũng
Chương 5: Tổng quan về thuế và tác động của thuế 25
2
. Vì thế, chênh lệch giữa hai đoạn thẳng này là
đoạn NE
2
, chính là gánh nặng quá mức hay tổn thất vô ích do thuế gạo gây ra.
Y
2

F
Vải (m)
Gạo (kg)
A
G
E
2
D
E
1
X
2
X
1
H

Y
1
O

U
i


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status