Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam - Pdf 13

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân

Hà thị phơng dung Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính
trong các doanh nghiệp phi tài chính
tại việt nam


2. pgs.TS. nguyễn hữu ánh Hà nội, năm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận án là hoàn toàn trung thực. Những kết luận khoa học của Luận
án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 201
TÁC GIẢ LUẬN ÁN Hà Thị Phương Dung ii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến người hướng dẫn tác giả trong
suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án. Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến
các nhà khoa học trong và ngoài trường Đại học Kinh tế quốc dân đã góp ý
cho tác giả chỉnh sửa luận án.
Đồng thời, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các chuyên gia, nhà quản lý,
kế toán trong các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán TP HCM đã giúp đỡ tác giả trong quá trình phỏng vấn, thu thập Phiếu
điều tra.
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ, anh chị em, gia đình,


1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

1.2.1 Tình hình nghiên cứu kế toán công cụ tài chính trên thế giới 2

1.2.2. Tình hình nghiên cứu kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp
phi tài chính tại Việt Nam 9

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 10

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 12

1.6 Phương pháp nghiên cứu 12

1.7 Ý nghĩa của luận án 14

1.8 Kết cấu của luận án 14

CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TRONG DOANH
NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH 15

2.1 Nhận diện, phân loại công cụ tài chính 15

2.1.1 Nhận diện công cụ tài chính 15

2.1.2 Phân loại công cụ tài chính 18

2.2 Đo lường công cụ tài chính 29


3.1.1 Tổng quan về doanh nghiệp phi tài chính 59

3.1.2 Công cụ tài chính trong các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam 64

3.1.3 Tổng quan về khung pháp lý kế toán công cụ tài chính trong các doanh
nghiệp phi tài chính tại Việt Nam 70

3.1.4 Mối quan hệ giữa kế toán công cụ tài chính với quản trị rủi ro tài chính
trong các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam 74

3.2 Thực trạng kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp phi tài
chính tại Việt Nam 75

3.2.1 Thực trạng nhận diện và phân loại công cụ tài chính 76

3.2.2 Thực trạng đo lường công cụ tài chính 83

3.2.3 Thực trạng ghi nhận công cụ tài chính 90

3.2.4 Thực trạng trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính trong các
doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam 95

3.3 Đánh giá thực trạng kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp phi
tài chính tại Việt Nam 98

3.3.1 Nhận diện và phân loại công cụ tài chính 98

3.3.2 Đo lường công cụ tài chính 99



4.2.3 Về việc ghi nhận công cụ tài chính 129

4.2.4 Về việc trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính 141

4.3 Các điều kiện để thực hiện các giải pháp hoàn thiện kế toán công cụ tài
chính trong các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam 142
4.3.1 Về phía cơ quan Nhà nước 142

4.3.2 Về phía doanh nghiệp 144

4.3.3 Về phía các cơ sở đào tạo 145

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC
vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT NỘI DUNG
ASB Ủy ban chuẩn mực kế toán Anh quốc
ASBE Hệ thống chuẩn mực kế toán áp dụng cho các DN (Trung Quốc)
ASU Các thông tin nhằm cập nhật chuẩn mực kế toán
BCTC Báo cáo tài chính
CAS Chuẩn mực kế toán Trung Quốc

Bảng 2.5: Đo lường Nợ phải trả tài chính 31

Bảng 2.6: Ghi nhận sau ban đầu công cụ tài chính cơ sở 38

Bảng 3.1 Số lượng doanh nghiệp theo ngành kinh tế tính đến 31.12.2011 60

Bảng 3.2 So sánh HOSE và HNX 62

Bảng 3.3 Kết quả phát hành trái phiếu chính phủ giai đoạn 2008-2012 68

Bảng 3.4 Giá trị vốn hóa thị trường các Sở GDCK trong khu vực (8/2011) 68

Bảng 3.5 Thống kê mô tả 96

Bảng 3.6 Báo cáo ma trận tương quan Pearson 96

Bảng 3.7 Kết quả hồi quy tương quan 97

Bảng 3.8: So sánh chế độ kế toán công cụ tài chính tại Việt Nam với thông lệ quốc tế 105

Bảng 3.9: So sánh cơ sở đo lường Công cụ tài chính giữa thông lệ quốc tế và Việt Nam 106

Bảng 3.10: So sánh VAS10; TT201/2009/TT-BTC; TT179/2012/TT-BTC 107

Bảng 4.1: Đo lường giá trị tài sản tài chính 124

Bảng 4.2: Đo lường giá trị nợ phải trả tài chính 125Biểu đồ:


Biểu đồ 3.17: Đo lường ban đầu Công cụ vốn chủ sở hữu 89

Biểu đồ 3.18 Thời điểm ghi nhận công cụ tài chính cơ sở 90

Biểu đồ 3.19 Thực trạng ghi nhận Trái phiếu chuyển đổi 91

Biểu đồ 3.20 Thực trạng ghi nhận Cổ phiếu ưu đãi 92

Biểu đồ 3.21 Thực trạng ghi nhận tài sản tài chính 93

Biểu đồ 3.22 Độ phức tạp của nghiệp vụ kế toán công cụ tài chính cơ sở 109

Biểu đồ 3.23 Độ phức tạp của nghiệp vụ kế toán công cụ tài chính phái sinh 109

Biểu đồ 3.24 Nguyên nhân gây nên những hạn chế trong kế toán công cụ tài chính 110
Biểu đồ 3.25 Mức độ hài lòng với kế toán công cụ tài chính 111

Biểu đồ 4.1 Thông tin chủ đạo giúp kế toán công cụ tài chính. 143Sơ đồ:

Sơ đồ 2.1: Trình tự xác định giá hợp lý 30

Sơ đồ 2.2 Ghi nhận công cụ tài chính phái sinh 43

Sơ đồ 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ trình bày và công bố thông tin về
công cụ tài chính 51


toán: Đối với nhà đầu tư- công cụ tài chính nằm trong khoản mục tiền, phải thu, đầu
tư ; Đối với người phát hành- công cụ tài chính nằm trong khoản mục vay, trái phiếu
2
phát hành, phải trả, vốn cổ phần. Sự thay đổi giá trị của khoản mục này ảnh hưởng
lớn đến các chỉ tiêu về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Với
thực trạng kế toán công cụ tài chính hiện nay dẫn đến số liệu trên Báo cáo tài chính
không đáp ứng được yêu cầu hữu ích và có thể so sánh được của thông tin kế toán.
Đặc biệt hiện nay trong nền kinh tế có nhiều nghiệp vụ về công cụ tài chính phái
sinh như: Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng tương lai, Hợp đồng hoán đổi, Hợp đồng quyền
chọn. Trong khi đó Chế độ Kế toán doanh nghiệp phi tài chính chưa đề cập đến đã gây
lúng túng, thiếu nhất quán trong việc phản ánh, báo cáo tình hình tài chính, ảnh hưởng
đến độ tin cậy và tính so sánh của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính.
Đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính đã có văn bản: Quyết định
29/2006/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN ban hành chế độ kế toán nghiệp vụ phái
sinh tiền tệ áp dụng cho các tổ chức tín dụng; Quyết định 16/2007/QĐ-NHNN của
Thống đốc NHNN quy định chế độ Báo cáo tài chính về việc công bố thông tin về
công cụ tài chính phái sinh. Tuy nhiên các doanh nghiệp phi tài chính khi ký các hợp
đồng phái sinh với ngân hàng, tổ chức tài chính thì kế toán theo các cách khác nhau vì
chưa có văn bản hướng dẫn kế toán từ Bộ Tài chính. Do đó cần khảo sát thực trạng kế
toán công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính để giúp cho việc
xây dựng, ban hành chế độ, hướng dẫn khuôn mẫu kế toán cho doanh nghiệp.
Xuất phát từ thực tiễn của doanh nghiệp, yêu cầu cung cấp thông tin hữu ích
của nhà đầu tư, từ thực tế hội nhập nghề kế toán, sau một thời gian nghiên cứu tác
giả lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp
phi tài chính tại Việt Nam ” để làm luận án tiến sĩ của mình.
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu kế toán công cụ tài chính trên thế giới
1.2.1.1. Về nhận diện công cụ tài chính
Có nhiều công trình nghiên cứu về bản chất, đặc điểm cũng như các quy định
kế toán của từng loại công cụ tài chính nhưng hiếm khi đưa ra định nghĩa chung :

đều ủng hộ đo lường công cụ tài chính theo giá trị hợp lý đồng thời chỉ ra điểm yếu
của cơ sở đo lường này là độ tin cậy của dữ liệu sử dụng trong các ước tính giá trị
hợp lý trên thực tiễn.
4
Theo Bradbury(2003) có 3 vấn đề liên quan đến sử dụng giá trị hợp lý: các
thuộc tính để đo lường giá trị, ý nghĩa của giá trị hợp lý, phương pháp kế toán các
chi phí giao dịch mua tài sản[14].
Hague(2004) và Bradbury(2003) cho rằng đo lường công cụ tài chính theo
giá trị hợp lý là thích hợp nhất, đặc biệt với công cụ tài chính phái sinh. Hague và
Bradbury lý giải, công cụ tài chính phái sinh có giá gốc rất nhỏ hoặc không có
nhưng lợi ích và tổn thất chúng gây ra cũng như giá trị thanh toán các công cụ này
phụ thuộc vào giá trị hợp lý của chúng. Do vậy, không đo lường giá trị hợp lý của
công cụ tài chính này đồng nghĩa với việc không trình bày chúng trên Bảng cân đối
kế toán trong khi chúng có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng tài chính của tổ chức.
Ngoài ra, thông tin về giá trị hợp lý của công cụ phái sinh giúp cho người sử dụng
báo cáo tài chính hiểu được bản chất rủi ro và cách thức doanh nghiệp quản trị rủi
ro có thể phát sinh từ công cụ này[42].
Giá trị hợp lý là cơ sở phù hợp nhất của việc ghi nhận các công cụ tài chính
phái sinh. Theo kết luận của nhóm nghiên cứu các vấn đề về kế toán công cụ tài
chính phái sinh (JWG, 2000), giá trị hợp lý là cơ sở ghi nhận và đo lường các tài sản
và khoản nợ tài chính, bao gồm các công cụ tài chính phái sinh. Lý do của sự lựa
chọn này là do giá trị hợp lý đem lại sự đánh giá trung thực, khách quan về các công
cụ tài chính trên cơ sở các yếu tố thị trường và không bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ
quan của tổ chức áp đặt lên cách tính toán giá trị tài sản.
Theo Jemarkowicz và Gornik Tomaszewski(2006) một vấn đề liên quan đến
phương pháp giá trị hợp lý là tính thiếu ổn định trong nguyên tắc của kế toán. Trong
khi các công cụ tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý, các tài sản tài chính
được ghi theo giá vốn. Mặt khác, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi trình bày
thông tin do IAS32, IAS 39 yêu cầu cập nhật thường xuyên sự thay đổi về giá trị
hợp lý trên Báo cáo tài chính. Phương pháp giá trị hợp lý cũng khó áp dụng trong

đầu tư nước ngoài, thì đây sẽ là một mốc đánh dấu một sự chuyển dịch toàn diện
của các doanh nghiệp Trung Quốc nói riêng, nền kinh tế cũng như Chính phủ
Trung Quốc nói chung.
6
Như vậy hầu hết giới khoa học nhấn mạnh ưu điểm của phương pháp kế toán
giá trị hợp lý- điều này còn là mới mẻ nghiên cứu khoa học tại Việt Nam, đặc biệt là
trong kế toán công cụ tài chính. Chính vì vậy tác giả luận án muốn nghiên cứu kế
toán giá trị hợp lý nhằm tìm ra giải pháp để hoàn thiện kế toán công cụ tài chính
trong các doanh nghệp phi tài chính tại Việt Nam.
1.2.1.3. Về ghi nhận công cụ tài chính
Ghi nhận công cụ tài chính phụ thuộc vào việc phân nhóm công cụ tài chính
Công cụ tài chính không chỉ giúp doanh nghiệp tạo lập vốn, sử dụng vốn, đem
lại cơ hội kinh doanh mà còn tiềm ẩn nhiều loại rủi ro, từ rủi ro tín dụng, rủi ro
thanh khoản đến rủi ro thị trường. Vai trò của công cụ tài chính phái sinh trong
phòng ngừa rủi ro là rất cần thiết, bên cạnh đó còn có mục tiêu đầu cơ của doanh
nghiệp nhằm tìm kiếm lợi nhuận. L.EC.Wilson & Bryan(1997) cho rằng cần thiết
xây dựng các quy định kế toán cho công cụ tài chính phái sinh theo mục đích sử
dụng thay vì theo từng loại để có thể vận dụng các công cụ phái sinh mới để đảm
bảo nguyên tắc tính hữu ích của thông tin đồng thời giảm thiểu chi phí xây dựng
nguyên tắc cho công cụ tài chính phái sinh mới[69].
Chính vì vậy kế toán công cụ tài chính phái sinh theo US.GAAP và IAS/ IFRS
đều xây dựng trên cơ sở mục đích sử dụng các công cụ này bao gồm:
Nguyên tắc kế toán công cụ tài chính phái sinh sử dụng cho mục đích kinh doanh
Nguyên tắc kế toán công cụ tài chính phái sinh sử dụng cho mục đích phòng
ngừa rủi ro.
Các nghiên cứu về kế toán phòng ngừa rủi ro và công cụ tài chính phái sinh
của Wilson và Bryan (1997); Heranandez (2003): các nhà nghiên cứu cho rằng kế
toán phòng ngừa rủi ro và công cụ tài chính phái sinh là cần thiết, nhưng điều kiện
áp dụng trên thực tế không dễ dàng vì có những lựa chọn khác nhau dẫn đến kết quả
xử lý khác nhau của cùng một loại công cụ phái sinh[44].

Bản chất, quy mô rủi ro phát sinh từ công cụ tài chính tác động đến doanh
nghiệp trong kỳ kinh doanh và vào ngày lập báo cáo cùng với cách thức quản trị rủi
ro của doanh nghiệp.
8
Các nghiên cứu về mức độ trình bày và công bố thông tin liên quan đến các
công cụ tài chính phái sinh được tiến hành bởi các học giả người Úc như Hassan,
Percy and Goodwin-Stewart(2006-2007), Chalmers và Godfrey(2000 and 2004) và
Chalmers(2001). Tuy nhiên, phần lớn chỉ đánh giá được mức độ trình bày và công
bố thông tin (DQ) trong quá trình công bố tự nguyện. Chalmers and Godfrey(2000)
đã chỉ ra sự khác biệt giữa kế toán kế toán các công cụ phái sinh (theo tiêu chuẩn
AASB 1033: Trình bày và công bố về công cụ tài chính phát hành năm 1996) và
thực tại công tác kế toán tại các DN dựa vào BCTC ngày 30/6/1998 của 500 DN lớn
nhất nước Úc. Nghiên cứu của Chalmers and Godfrey(2000) đã cho thấy mức độ
trình bày và công bố thông tin không như mong đợi[24,27,41].
Riêng Hassan, Percy and Goodwin-Stewart (2006-2007) lại tập trung vào tính
minh bạch của các công bố về công cụ tài chính phái sinh giữa các DN trong ngành
công nghiệp khai khoáng trước khi áp dụng Các chuẩn mực kế toán quốc tế tại Úc.
Ông đánh giá tính minh bạch dựa vào Bộ tiêu chuẩn AASB 1033. Các DN lớn và có
tỷ lệ giá trên lợi nhuận cao và tỷ lệ Tổng nợ trên vốn CSH sẽ công bố rõ ràng hơn
về các công cụ tài chính phái sinh.
Một nghiên cứu gần đây về công cụ tài chính của Lopes và Rodrigues(2007)
cũng tập trung xác định các tiêu chuẩn công bố tự nguyện về công cụ tài chính ở các
DN Bồ Đào Nha, Bảng Hạng mục Công bố được phát triển dựa vào các quy định ở
IAS 32: Công bố và trình bày và IAS 39: Ghi nhận và Đo lường. Quy mô của DN,
lĩnh vực kinh doanh và DN kiểm toán có quan hệ mật thiết với mức độ trình bày và
công bố thông tin về công cụ tài chính[53]
Ở Malaysia, Norkhairul Hafiz(2003) đã chứng minh được sự liên kết giữa các
công bố tự nguyện về công cụ tài chính phái sinh với 2 đặc điểm của DN là quy mô
và mức độ hoạt động ở nước ngoài. MASB ED 24 Các công cụ tài chính: Công bố
và trình bày được sử dụng để kiểm tra chất lượng của việc công bố tự nguyện[60].

kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp và tìm các giải pháp nhằm hoàn
10
thiện việc kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp phục vụ nhu cầu cung
cấp thông tin cho nhà đầu tư, trên quan điểm hoàn thiện phải phù hợp với thông lệ
kế toán quốc tế [5].
ThS. Hà Thị Tường Vy trong đề tài cấp ủy ban chứng khoán NN “Kế toán
công cụ tài chính của thị trường chứng khoán Việt Nam”(năm 2008) đã trình bày
khá đầy đủ các nguyên tắc, quy định về định giá, ghi nhận và trình bày công cụ tài
chính theo thông lệ quốc tế IAS30, IAS32, IFRS7. Đồng thời tác giả đã đưa ra các
giải pháp để hoàn thiện kế toán công cụ tài chính cho thị trường chứng khoán Việt
Nam. Tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu kế toán các công cụ tài chính phục vụ cho
thị trường chứng khoán, bỏ qua các công cụ tài chính khác trong doanh nghiệp[6].
Tác giả Đào Y (2003; 2005) đã có những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán
công cụ tài chính trong các ngân hàng thương mại Việt Nam phù hợp với bối cảnh
thực trạng phát triển của các ngân hàng thương mại hiện nay, đồng thời chú trọng
đến việc hài hòa với chuẩn mực kế toán quốc tế [8], [9].
Như vậy, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu khoa học tại Việt Nam
tập trung khai thác việc vận dụng thông lệ kế toán quốc tế về kế toán công cụ tài
chính cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong ngành ngân hàng. Tuy nhiên
chưa có công trình nghiên cứu riêng cho các doanh nghiệp phi tài chính, chưa có
công trình nào nghiên cứu các nguyên tắc chung của kế toán công cụ tài chính một
cách hoàn chỉnh từ: nhận diện, đo lường, ghi nhận, trình bày, công bố thông tin về
công cụ tài chính. Đặc biệt, chưa có công trình nào đánh giá mức độ trình bày và
công bố thông tinvề công cụ tài chính trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp và
tìm ra mối liên hệ giữa mức độ trình bày và công bố thông tinvới các đặc điểm riêng
của doanh nghiệp.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận án là hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các
doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu chung đó, luận án đề
ra các mục tiêu cụ thể sau:

12
Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian là năm 2010, 2011, 2012
Về không gian nghiên cứu là 82 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở
giao dịch chứng khoán TP HCM.
1.5 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở đã xác lập mục tiêu nghiên cứu trên, luận án tập trung trả lời các
câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Những giải pháp nào để hoàn thiện việc nhận diện, phân loại công
cụ tài chính cơ sở, công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính
tại Việt Nam ?
Câu hỏi 2: Hoàn thiện việc đo lường công cụ tài chính cơ sở, công cụ tài
chính trong các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam như thế nào?
Câu hỏi 3: Những giải pháp gì để hoàn thiện việc ghi nhận công cụ tài chính cơ
sở, công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam?
Câu hỏi 4: Hoàn thiện việc trình bày và công bố thông tin về công cụ tài
chính cơ sở , công cụ tài chính phái sinh trong các doanh nghiệp phi tài chính tại
Việt Nam ?
Câu hỏi 5: Xác định mức độ trình bày và công bố thông tin về công cụ tài
chính trong các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam giai đoạn 2010-2012, các
yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ trình bày và công bố thông tin về công cụ tài
chính trên Báo cáo tài chính năm của các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam ?
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệt chứng và
duy vật lịch sử, luận án đã vận dụng các phương pháp điều tra, khảo sát, phân nhóm,
lấy ý kiến chuyên gia Từ đó luận án đã tổng hợp, phân tích, đánh giá những thành
công và tồn tại trong thực trạng kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp phi
tài chính tại Việt Nam và đề ra các giải pháp cùng với các điều kiện thực hiện giải pháp
hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam.
Các phương pháp nghiên cứu được cụ thể thành các bước công việc như sau:
Bước 1: Gửi Phiếu điều tra doanh nghiệp.

14
1.7 Ý nghĩa của luận án
Về mặt học thuật, lý luận
Hoàn thiện khung lý thuyết về kế toán công cụ tài chính trong các doanh
nghiệp phi tài chính tại Việt Nam bao gồm các công việc:
Hoàn thiện việc nhận diện, đo lường công cụ tài chính cơ sở, công cụ tài
chính phái sinh.
Hoàn thiện việc đo lường công cụ tài chính cơ sở, công cụ tài chính phái sinh
Hoàn thiện việc ghi nhận công cụ tài chính cơ sở, công cụ tài chính phái sinh
Hoàn thiện việc trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính cơ sở,
công cụ tài chính phái sinh.
Về mặt thực tiễn
Xác định mức độ trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính của các
doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam giai đoạn 2010-2012 (chỉ số DQ). Thông
qua chỉ số DQ nhà hoạch định chính sách đánh giá được độ ảnh hưởng của Thông
tư 210/2009/TT-BTC (quy định trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính)
đến chất lượng Báo cáo tài chính được công bố.
Tìm ra mối liên hệ giữa mức độ trình bày và công bố thông tin về công cụ tài
chính với quy mô của doanh nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh và quy mô
doanh nghiệp kiểm toán, từ đó giúp người sử dụng thông tin kế toán chủ động hơn
trong việc sử dụng Báo cáo tài chính, đưa ra quyết định đầu tư.
1.8 Kết cấu của luận án
Luận án có kết cấu 4 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu kế toán công cụ tài chính trong các doanh
nghiệp phi tài chính tại Việt Nam
Chương 2: Lý luận kế toán công cụ tài chính trong các doanh nghiệp phi tài chính.
Chương 3: Phân tích thực trạng kế toán công cụ tài chính trong các doanh
nghiệp phi tài chính tại Việt Nam
Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các
doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam.
16
nghiệp, hoặc được phân loại thành nợ- đại diện cho một khoản nhà đầu tư cho vay
tiền hoặc tài sản.
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy công cụ tài chính có thể là công cụ vốn chủ
sở hữu hoặc nợ phải trả tài chính đứng trên góc độ người phát hành công cụ tài
chính. Đồng thời công cụ tài chính có thể không có kết cấu vật chất, đó chỉ là tài
liệu ảo hoặc bút toán ghi sổ.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 32, CCTC được định nghĩa: Công cụ
tài chính là bất kì một hợp đồng nào mang lại tài sản tài chính cho một doanh
nghiệp và nợ tài chính hoặc công cụ vốn chủ sở hữu cho một doanh nghiệp khác.
Theo Điều 3, Thông tư 210/2009/TT – BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày
6/11/2009 ban hành thì: “CCTC là hợp đồng làm tăng tài sản tài chính của đơn vị và
nợ phải trả tài chính hoặc công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị khác.”
Như vậy, dấu hiệu để nhận biết công cụ tài chính đó là một hợp đồng giữa 2
bên, theo đó hợp đồng mang lại tài sản tài chính cho 1 bên, đồng thời mang đến cho
bên kia 1 khoản nợ phải trả tài chính hoặc công cụ vốn chủ sở hữu.
Tài sản tài chính là tiền, công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị khác hoặc quyền
theo hợp đồng được nhận tiền, tài sản tài chính khác hoặc có thể trao đổi tài sản tài
chính, nợ phải trả tài chính trong điều kiện có lợi cho đơn vị mình.
Tài sản tài chính là những chứng chỉ bằng giấy hoặc có thể chỉ là những dữ
liệu trong máy tính, sổ sách. Tài sản tài chính có đặc điểm không tham gia trực tiếp
vào quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ nhưng tài sản tài chính thể hiện quyền đối
với thu nhập tạo ra từ tài sản thực. Giá trị của tài sản tài chính phụ thuộc vào khả
năng sinh lời của tài sản thực. Điều đó cũng có nghĩa là giá trị tài sản tài chính
không dựa vào nội dung vật chất mà dựa vào các quan hệ trên thị trường, chính vì
vậy cần sử dụng giá trị hợp lý để đo lường tài sản tài chính.
Nợ phải trả tài chính là nghĩa vụ theo hợp đồng phải trả tiền, tài sản tài chính
hoặc trao đổi tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính trong điều kiện bất lợi cho đơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status