Chuyên đề hóa học Một số phương pháp giải nhanh bài tập hóa học trung học cơ sở - Pdf 13


Phßng gd & ®t huyÖn Hoµi ®øc
Tr êng thcs song ph ¬ng
Ng êi thùc hiÖn : NguyÔn Hång Ph
îng

.
Ng êi thùc hiÖn : NguyÔn Hång Ph
îng

A- PHẦN MỞ ĐẦU
I. lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
IV -Nhiệm vụ nghiên cứu
V. Phạm vi nghiên cứu
VI- Phương pháp nghiên cứu
B- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
I. Cơ sở lý luận về các phương pháp giải nhanh một số bài toán
hoá học
II. Phân tích thực trạng
CHUYÊN ĐỀ HOÁ HỌCIII- MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Chủ đề 1: Phương pháp tự do chọn lượng chất
Chủ đề 2 : Phương pháp khối lượng mol trung bình
Chủ đề 3 : Phương pháp tăng giảm khối lượng
Chủ đề 4: Phương pháp tính theo lượng của nguyên tử hoặc
nhóm nguyên tử ( bảo toàn nguyên tố )
Chủ đề 5: Phương pháp hợp thức

chỗ khuyết; giáo viên chưa đủ các tư liệu hoặc thiếu kinh nghiệm
để đảm nhiệm công việc dạy học sinh giỏi …

Đối với tôi một giáo viên thường xuyên tham gia công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi, tôi đã có dịp trao đổi kinh nghiệm với nhiều
đồng nghiệp tiếp xúc với nhiều thế hệ học trò tôi nhận thấy kinh
nghiệm giải toán hoá học của các em khi vào đội tuyển còn nhiều
hạn chế, trình bày lời giải còn nhiều lúng túng, dài dòng gây mất
nhiều thời gian. Điều đó làm cho các em khó đạt kết quả cao trong
các kỳ thi học sinh giỏi. Từ những khó khăn vướng mắc, vì mong
muốn đạt kết quả cao, tôi đã sưu tầm các tài liệu ;tìm tòi; nghiên cứu
và đã tích luỹ được một số kinh nghiệm giúp học sinh giải các bài
toán hoá học một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Với những lý do trên tôi đã chọn và áp dụng đề tài “ MỘT SỐ
PHƯƠNG PHÁP GIẢI NHANH BÀI TẬP HOÁ HỌC THCS ” nhằm giúp
cho các em HS giỏi có kinh nghiệm giải các bài tập một cách tự tin,
nhanh chóng và hiệu quả.

II-MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1- Nghiên cứu một số phương pháp giải các bài toán hoá học.
2-Nêu ra phương pháp giải theo từng chủ đề nhằm giúp học sinh
giỏi rèn luyện kỹ năng, giải tốt nhiều bài toán hoá học nhằm nâng
cao chất lượng đội tuyển học sinh giỏi.
III-ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
1- Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu 5 phương pháp giải bài toán hoá học, nguyên
tắc áp dụng của mỗi phương pháp, cách tổ chức bồi dưỡng học sinh
giỏi theo nguyên tắc “ Kế thừa - phát triển - sáng tạo”
2- Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là học sinh lớp 9 dự thi học sinh giỏi các cấp (

đề tài để đúc rút, tổng kết kinh nghiệm.


Phát triển đề tài và đúc kết kinh nghiệm :
Một số năm học trước đây, trong các đề thi học sinh giỏi huyện
cũng như tỉnh đều có các bài tập thuộc nội dung của đề tài tôi đang
nghiên cứu. Lúc đó đã có nhiều em bế tắc vì không tìm ra hướng
giải, hoặc thực hiện bài giải quá dài dòng dẫn đến việc không còn
đủ thời gian để giải các phần khác trong đề thi. Trước thực trạng
đó, tôi đã mạnh dạn áp dụng đề tài này.
Trong quá trình vận dụng đề tài, tôi đã suy nghĩ tìm tòi, học hỏi
và áp dụng nhiều biện pháp. Ví dụ như : tổ chức trao đổi trong tổ
bồi dưỡng, trò chuyện cùng HS, thể nghiệm đề tài, kiểm tra và đánh
giá kết quả dạy và học những nội dung trong đề tài. Đến nay, trình
độ kỹ năng giải các bài tập hoá học của các lớp học sinh giỏi được
nâng cao đáng kể.

2-Các phương pháp hỗ trợ
Ngoài các phương pháp chủ yếu, tôi còn dùng một số
phương pháp hỗ trợ khác như phương pháp nghiên cứu tài
liệu và điều tra nghiên cứu:
Đối tượng điều tra: Các HS giỏi đã được phòng giáo dục gọi
vào đội tuyển, đội ngũ giáo viên tham gia bồi dưỡng HS giỏi,
và một số giáo viên có kinh nghiệm khác.
Câu hỏi điều tra: chủ yếu tập trung các nội dung xoay quanh
việc dạy và học về các phương pháp giải bài toán hoá học;
điều tra tình cảm thái độ của HS khi tiếp xúc với các bài tập
phức tạp mà chỉ có một số phương pháp đặc biệt mới có thể
giải nhanh chóng.


nghiệm bồi dưỡng một số phương pháp giải nhanh các bài tập hoá
học cho học sinh giỏi.

Nội dung đề tài được sắp xếp theo 5 chủ đề, mỗi chủ đề có nêu
nguyên tắc áp dụng và các ví dụ minh hoạ. Sau đây là tên một số
phương pháp giải bài tập hoá học được thể hiện trong đề tài:
1) Phương pháp tự do chọn lượng chất.
2) Phương pháp khối lượng mol trung bình.
3) Phương pháp tăng giảm khối lượng.
4) Phương pháp tính theo lượng của nguyên tử hoặc nhóm nguyên
tử.
5) Phương pháp hợp thức.

II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
1-Thực trạng chung
Khi chuẩn bị thực hiện đề tài, năng lực giải các bài toán hoá học
của học sinh nói chung là rất yếu. Đa số học sinh thường tỏ ra rất
mệt mỏi khi phải gặp các bài tập phức tạp như : các dạng có dữ kiện
không cơ bản (tổng quát), hoặc các bài tập quá nhiều phản ứng,
hoặc các bài tập dữ kiện đề cho không rõ… Vì thế họ rất thụ động
trong các buổi học bồi dưỡng và không có hứng thú học tập. Học
sinh không có sách tham khảo viết về các phương pháp nêu trong
đề tài. Một số em có sách tham khảo nhưng cũng mới chỉ là các sách
“ Học tốt “ hoặc “ Bài tập nâng cao “ chưa phù hợp với đối tượng
học sinh giỏi. Lý do chủ yếu là do HS chưa biết tìm mua các loại
sách hay hoặc điều kiện kinh tế gia đình còn quá khó khăn(Đa số các
em học sinh giỏi trong huyện là con của nông dân)

2- Chuẩn bị thực hiện đề tài
Để áp dụng đề tài vào trong công tác bồi dưỡng HS giỏi tôi đã


-Bước 2: Đặt ẩn cho số mol, hoá trị, nguyên tử khối … ( Nếu cần )
-Bước 3: Viết đúng tất cả các phương trình hoá học xảy ra.
-Bước 4: Thực hiện các kỹ năng tính toán theo CTHH, theo PTHH,
biện luận
-Bước 5: Kiểm tra.
Tiếp theo, tôi tiến hành bồi dưỡng kỹ năng theo dạng. Mức độ rèn
luyện từ minh họa đến khó, nhằm bồi dưỡng học sinh phát triển kỹ
năng từ biết làm đến đạt mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo. Để bồi
dưỡng mỗi dạng tôi thường thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Giới thiệu bài tập mẫu và hướng dẫn giải.
- Bước 2: Rút ra nguyên tắc và phương pháp áp dụng.
- Bước 3: HS tự luyện và nâng cao.
- Bước 4: Kiểm tra đánh giá theo chủ đề.
Tuỳ theo độ khó mỗi chủ đề tôi có thể đổi thứ tự của bước 1 và 2.

Sau đây là một số phương pháp giải bài tập hoá học, cách nhận
dạng, kinh nghiệm giải quyết đã được tôi thực hiện và đúc kết từ
thực tế. Trong giới hạn của đề tài, tôi chỉ nêu 5 chủ đề giới thiệu 5
phương pháp thường gặp có tác dụng giúp học sinh giải được
nhiều bài toán với độ chính xác cao và tiết được nhiều thời gian.

CHỦ ĐỀ 1: PHƯƠNG PHÁP TỰ DO CHỌN LƯỢNG CHẤT
1) Nguyên tắc áp dụng:
GV cần cho HS nắm được một số nguyên tắc áp dụng của phương
pháp này nhằm tránh hiện tượng HS tuỳ tiện chọn lượng chất vì chưa
hiểu rõ phạm vi sử dụng của nó:
- Khi gặp các bài toán có các lượng chất đề cho dưới dạng tổng quát
( dạng tỉ lệ mol, tỉ lệ % theo thể tích, khối lượng , hoặc các lượng chất
đề cho đều có chứa chung một tham số : m (g), V(l), x(mol)…) thì các

2
O
x

R
2
O
x
+ xH
2
SO
4
→ R
2
(SO
4
)
x
+ xH
2
O
1mol x(mol) 1mol
(2M
R
+ 16x) g 98x (g) (2M
R
+ 96x)g
Theo định luật bảo toàn khối lượng ta có :

Phương trình nồng độ % của dung dịch muối là :

Ví dụ 2:
Cho a gam dung dịch H
2
SO
4
loãng nồng độ C% tác dụng
hoàn toàn với hỗn hợp 2 kim loại K và Fe ( Lấy dư so với
lượng phản ứng ). Sau phản ứng, khối lượng khí sinh ra là
0,04694 a (g). Tìm giá trị C%
* Gợi ý HS :
- GV : gợi ý cho HS phát hiện ra vì kim loại lấy dư nên toàn bộ
lượng axit và nước trong dung dịch đều phản ứng. Các lượng
chất đều cho dưới dạng tổng quát ( chứa chung tham số a ), vì
vậy bài toán sẽ không phụ thuộc vào lượng a (gam ).
- HS : Nêu cách chọn lượng chất : chọn a = 100 gam.

* Giải :
Giả sử a = 100 g


Vì hỗn hợp kim loại Fe, Na lấy dư nên xảy ra các phản ứng sau :
2K + H
2
SO
4
K
2
SO
4
+ H


H H SO H O
c
n n n

= + × ⇔ × =
∑ ∑
2 4
2
2
( )
100 ( )
4,694( )
H SO
H O
H
m c gam
m c gam
m gam

=

= −


=

→
→
→


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status