Nghiên cứu công nghệ GSM/GPRS, công nghệ nhúng (Embedded Systems) và ứng dụng để thiết kế chế tạo thiết bị đo lường thu thập số liệu từ xa qua đường GSM/GPRS - Pdf 13


BỘ CÔNG THƯƠNG
VIELINA
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA
o O o
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI NCKH&PTCN CẤP BỘ NĂM 2011

Tên đề tài:
Nghiên cứu công nghệ GSM/GPRS, công nghệ nhúng (Embedded
Systems) và ứng dụng để thiết kế chế tạo thiết bị đo lường thu thập số
liệu từ xa qua đường GSM/GPRS.


BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI NCKH&PTCN CẤP BỘ NĂM 2011

Tên đề tài:
Nghiên cứu công nghệ GSM/GPRS, công nghệ nhúng (Embedded
Systems) và ứng dụng để thiết kế chế tạo thiết bị đo lường thu thập số
liệu từ xa qua đường GSM/GPRS. CƠ QUAN CHỦ TRÌ
VIỆN TRƯỞNG CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

4
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

ADC = Analog to Digital Converter, bộ biến đổi tương tự sang số
ANT = Antenna, ăng ten truyền sóng
AT = Attention Commands
BCD = Binary Code Decimal
BTS = Base Transceiver Station, trạm thu phát sóng
BSC = Base Station Controller
CC = Trung tâm Điều khiển
CPU = Central Processing Unit, bộ vi xử lý trung tâm
CR = Carriage Return
CRC = Cyclical Redundancy Checking
CSD = Circuit Switch Data
CTS = Clear To Send
DI/DO = Digital Input / Digital Output

5
khiển, giám sát và thu thập số liệu
SIM = Subscriber Identity Module
SMS = Dịch vụ nhắn tin ngắn
TCP/IP = Transmission Control Protocol / Internet Protocol
UWL = Up-stream Water Level, mực nước thượng lưu
WS = Work Station, trạm làm việc

CÁC THUẬT NGỮ

ADCP = Acoustic Doppler Current Profiler, thiết bị ứng dụng hiệu
ứng sóng âm Doppler để đo vận tốc dòng chảy tại nhiều
mặt cắt khác nhau và tính toán lưu lượng.
AUTOMATIC
CONTROL
= Một tính năng của hệ thống SCADA trong tưới tiêu (và cả
ở các lĩnh vực khác), nó cho phép điều khiển bất kỳ thành
phần nào ví dụ như mực nước (thượng/ hạ lưu), lưu
lượng… của một công trình thậm chí là cả hệ
thống một
cách tự động.
CONTROL
CENTRE
= Trung tâm điều khiển SCADA thực hiện nhiệm vụ giám
sát và điều khiển các thiết bị và công trình từ khoảng cách
xa thông qua hệ thống truyền tin, bao gồm việc theo dõi
các cảnh báo và xử lý các dữ liệu hiện trạng. Dựa trên
thông tin nhận được từ các trạm, các lệnh được lập trình
sẵn hoặc do người điều khiển ra lệnh có thể được chuy
ển

lý diễn ra, và do đó kết quả trả về giúp hệ thống có thể trợ
giúp các tiến trình vật lý đó.
ROUTER = Router là thiết bị mạng máy tính dùng để chuyển tiếp các
gói dữ liệu đến các đích khác nhau gi
ữa các mạng riêng
biệt thông qua sự định tuyến. Việc định tuyến xảy ra tại
lớp thứ 3 trong mô hình OSI.
RTU = Thiết bị đầu cuối từ xa, là một thiết bị kết nối giữa các đối
tượng vật lý với hệ thống DCS hoặc SCADA bằng cách
truyền dữ liệu đo lường đến hệ thống và/ hoặc thay đổi
trạng thái của các thiết bị kết nố
i đến nó dựa trên các
mệnh lệnh nhận được từ hệ thống.
SCADA = Hệ thống Giám sát, Điều khiển và Thu thập số liệu -
SCADA là một hệ thống điện-điện tử được xây dựng cho
việc thu thập và xử lý số liệu theo thời gian thực. Hệ
thống SCADA được ứng dụng cho việc giám sát và điều
khiển một trạm các thiết bị trong công nghi
ệp như viễn
thông, phân phối nước, năng lượng, dầu khí và vận tải.
SENSOR = Là một thiết bị phát sinh dòng điện ở đầu ra tương ứng
với những tham số vật lý cần đo đạc (mực nước, nhiệt độ,
lưu lượng, vv)
SERVER = Máy chủ là một máy tính hoặc thiết bị trong mạng lưới
mà quản lý các tài nguyên trong mạng. Ví dụ, một máy
chủ file là một máy tính với các thiết b
ị lưu trữ để lưu trữ
các file, máy chủ web để truy cập đến nội dung web, máy
chủ DNS để phân giải tên miền, máy chủ dữ liệu để truy
cập các bảng tính quan hệ, máy chủ email để truy cập


I-5. Kết luận
21

CHƯƠNG II: CHỌN GIẢI PHÁP, PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ CHẾ TẠO
THIẾT BỊ
23
II-1. Phân tích thiết kế: 23

II-2. Xây dựng sơ đồ nguyên lý

28

II-3. Thiết kế mạch in, thiết kế vỏ RTU

31
CHƯƠNG III: XÂY DỰNG PHẦN MỀM CHO CHÍP NHÚNG 33
III-1> Phương thức giao tiếp với GSM module: 33
III-2> Thiết kế giao diện HMI, tổ chức bộ nhớ cho RTU và giao tiếp
GPRS
42
CHƯƠNG IV: PHẦN MỀM MÁY TÍNH TRUNG TÂM 46
IV-1> Các thành phần của hệ thống đo lường và thu thâp số liệu sử dụng
GSM/GPRS
46
IV-2> Giao thức 48
IV-3> Xây dựng phần mềm hệ điều hành 49
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 1: BẢNG KÊ VẬT TƯ LINH KIỆN 61

(call sign) mà trong SCADA người ta thường gọi là địa chỉ. Trung tâm
điều hành sẽ lấy số liệu theo phương pháp hỏi vòng (polling)). Để tăng
tốc độ lên có thể sử
dụng 2 tần số up-link và down-link. Tuy nhiên vì là
sóng radio (RF) để tiết kiệm chi phí nhất thì cũng phải sử dụng dải tần
VHF hoặc UHF cho nên các trạm phải có có ăng ten + cột cao từ 10m đến
20m tùy địa hình. Và như vậy phải có hệ thống chống sét. Việc phủ sóng
trên một diện tích rộng lớn như vậy cần phải có thêm trạm lặp (repeater)
tùy vào việc khảo sát. Việc sử dụng tần số sóng radio VHF hoặc UHF
(415 - 425 MHz) sẽ phải mất chi phí đăng ký chiếm dụng tần số vô tuyến.
- Truyền tin sử dụng sóng điện thoại di động GSM/GPRS: Với phương
pháp GSM/GPRS thì các trạm làm việc và trạm trung tâm sẽ được trang
bị GSM/GPRS modem với ang-ten tích hợp tại tủ, vì vậy không cần
chống sét cho ăng-ten, không cần dựng cột ăng ten. Việc phủ sóng là do
nhà cung cấp dịch vụ GSM, vì vậy không phải lo đường truyền, không
phải trang b
ị trạm khuếch đại tín hiệu. Tần số liên lạc do nhà mạng cung
cấp, nên không phải xin phép cấp tần số. Đơn vị sử dụng chỉ phải thanh
toán khoản cước phí hàng tháng rất nhỏ vì số liệu sử dụng SCADA là rất
nhỏ.

Tại các trạm làm việc, việc đo lường các thông số tại trạm, việc thu thập số liệu
lưu trữ tại chỗ, việc nh
ận lệnh từ trung tâm điều hành, việc giao tiếp với mạng
truyền tin đều do 1 thiết bị gọi là thiết bị đầu cuối từ xa (RTU) đảm nhận. Thiết

2
bị RTU này đã được nhiều hãng sản xuất thiết bị trên thế giới chuẩn hóa dựa
trên cấu trúc của máy tính PC (gọi là PC-based), PC nhúng, PLC hay công nghệ
nhúng hoặc hệ thống nhúng (Embedded Systems).


Thiết bị AutoLog® GSM-16 của FF-Automation

4
Trong đó có những đặc điểm sau:
- Build-in GSM/GPRS modem
- Nguồn cấp đa dạng 12~30VDC / 12~24VAC / 230VAC
- Serial port: RS-232; (Optional RS-485, Modbus, TCP Ethernet or Wireles
sensors)
- Programming tool: PC-based AutoLog® GSM Programmer
- Connection: GSM SMS / data / GPRS / FTP / Modbus RTU
- PLC functionns: logical, arithmetic comparíion, timer/counter, sequence
program, reporting, queue, FIFO, PID, HMI (touchscreen), application
program memory,
- Clock and calendar

Những tính năng chính:
- Analog inputs: 8 AI 12-bit (0~20mA; 4~20mA; 0~5V and 0~10V)
- Digital input: 4 DI 24VDC, max 8mA, opto-isolated
- Digital outputs: 4-relay 5A /250VAC 1A/30VDC

Các ứng dụng của thiết bị AutoLog® GSM-6 GSM-8 GSM-16 và GSM-20
của FF-Automation rất nhiều: lĩnh vực dầu khí và gas, cung cấp điện năng, cấp
nước và x
ử lý nước, điện tòa nhà, các nhà máy công nghiệp, xử lý môi trường
và định vị trong giao thông vận tải.

Về thủy lợi và xử lý nước thải. FF-Automation đã cung cấp một số dự án
AutoLog ® cho thủy lợi, nhà máy xử lý nước, các trạm bơm và bể chứa nước.


8 Sử dụng đồng hồ thời gian thực Y
9 Giao diện người máy (HMI) màn hình /bàn
phím
4 x 20 characters / 16-
keypad
10 Nguồn cấp AC / DC - / 1.5V
11 Nguồn pin bên trong / số giờ back up 1.5V

Thiết bị SymphoniePLUS hiện đã được công ty cổ phần Tân Trần Phương
và công ty cổ phần Thiết Bị KTTV & MT (HYMETCO) lắp đặt rất nhiều ở Việt
nam từ năm 2005 đến nay. Các trạm thủy văn được lắp đặt phải kể đến là: Quan
Lạn Quảng Ninh 2005, Nghi Sơn Quảng Ngãi 2006, Tuy Phong Bình Thuận và
cửa khẩu Điện Biên 2009, Phước Minh Ninh Thuận và Đá Chông Ba Vì 2010. 7
Ngoài ra còn có những sản phẩm của các hãng khác như Vaisala Phần Lan
xem http://www.vaisala.com (Finland)
Các thiết bị kể trên chưa kèm theo sensors, các công ty trong nước thường
nhập sensors của Young xem http://www.youngusa.com/Kết luận:
- Thiết bị AutoLog® GSM-16 của FF-Automation tích hợp nhiều tính
năng, hoạt động trên cở sở PLC tiện lợi cho người sử dụng, thiết kế
chuyên cho thủy văn thủy lợi. Phần mềm PC-based AutoLog® hoạt động
hiệu quả, với nhiều tính năng. Thiết bị được thiết kế với tính mở rất cao
(PLC-based) tuy nhiên giá thành cũng rất cao.
- Thiết bị SymphoniePLUS 15-channel data logger - No. 4289 c
ủa NRG

điện vệ tinh năm 2004 do KS. Tạ Ngọc Hà làm chủ nhiệm 8
Đề tài đề cập đến hệ thống giám sát các thông số môi trường và điều kiện làm
việc của các trạm BTS sử dụng các PLC phân tán tại các trạm BTS để đo các
thông số: nhiệt độ, độ ẩm, ngập nước, khói, cháy, điện cấp, cửa mở và điều
khiển 2 điều hòa, ảnh báo đèn, còi. Truyền về máy tính trung tâm sử dụng phần
mềm WINCC thông qua mạng điện thoạ
i có sẵn, sử dụng modem EM241 với
giao thức MODBUS. Mục đích lưu trữ số liệu và cảnh báo khi có sự cố xảy ra
tại trạm BTS.

Đề tài đã đề cập đến hệ giám sát tập trung, nhưng chưa sử dụng liên kết không
dây, và tại trạm làm việc sử dụng PLC cùng với các module của Siemens tương
đối đắt tiền.

- Thiết kế chế tạo hệ thống thu thậ
p dữ liệu nhiều kênh dùng mạng không
dây năm 2005 của ThS. Mai Văn Tuệ

Đề tài sử dụng chip nhúng họ ARM7 của Philips để xây dựng các RTU do
lường & điều khiển. Các RTU liên kết về trung tâm thông qua RF (140MHz ~
2.4GHz) sử dụng các module thu phát sóng X-STREAM của MAXSTREAM
với cự ly liên lạc 5km (với ANT vô hướng) và 16km (với ANT định hướng).
Với cự ly xa hơn đề tài đề cập đến các trạm lặp RPT, tất nhiên chấp nhận độ trễ
tín hiệu. T
ại trung tâm sử dụng máy tính PC với phần mềm tự xây dựng quản lý
toàn mạng theo kiểu Master-multislaver lấy dữ liệu về theo kiểu hỏi vòng
(polling) sử dụng protocol là Modbus.

phòng chống úng hạn nhằm ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu“ năm
2009, chủ nhiệm dự án: ThS. Nguyễn Quốc Hiệp thuộc TT Công nghệ
Phần mềm Thủy lợi - Viện KH Thủy lợi Việt Nam

Dự án đã chế
tạo 08 thiết bị RTU có tích hợp SMS và GPRS với 8AI, 8DI, 2PI,
8DO truyền số liệu về trung tâm theo ngưỡng thay đổi hoặc theochu kỳ thời
gian định sẵn. Thiết bị có nguồn nuôi là điện lưới hoặc pin mặt trời. Dự án xây
dựng bộ phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu nhành thủy lợi.

Dự án có thiết kế phần cứng RTU phức tạp, nhiều linh kiện tiêu thụ nhiều n
ăng
lượng và có giá thành khá đắt (khoảng 90 triệu đồng cho 1 thiết bị RTU).

Về các công trình triển khai thực tế:

- Với hệ thống quản lý thuỷ nông sử dụng PLC và module GSM của
Siemens: công trình hồ chứa nước Định Bình (Bình Định) với giá trị đầu tư hơn
3 tỷ đồng, hồ chứa nước Cửa Đạt (Thanh Hoá) với giá trị đầu tư 4.6 tỷ riêng cho
hồ đập và với giá trị đầu tư trên kênh khoảng 4 tỷ chưa triển khai.
- Với hệ thống quản lý sử dụng công nghệ nhúng: công trình thủ
y lơi sông
Quao (Bình Thuận), sông Chu (Thanh Hoá), Đô lương (Nghệ An) do Công ty
Điện Tử Hà Nội (HANEL) thi công. Công trình sử dụng công nghệ nhúng họ
8051 sử dụng mạng VHF + radio modem để truyền tin.
- Các công trình khác chỉ đo, thu thậpvà quản lý số liệu tại chỗ như: công
trình thủy lợi sông Sào (Nghệ An), Phú Xuyên (Hà Tây) do Công ty Cơ điện
Nông nghiệp Thủy lợi 4 thi công. Công trình cũng sử dụng chip nhúng họ 8051
nhưng không có liên kết không dây (radio)
- Các công trình thủy lợi do Viện Điệ

trên thị trường, đánh giá các tiêu chí để tìm ra hướng thiết kế một hệ tương đối
tổng quát, dễ dàng phát triển nâng cấp phục vụ nhiều đối tượng khách hàng
khác nhau.

Thiết bị RTU phục vụ khí tượng thủy v
ăn

T
T
Kênh đo
Dạng
t/hiệu
Số
kênh
Đơn
vị đo
Dải đo
Độ chính
xác
1 Nhiệt độ AI 5
O
C -60~60 ±0.2
2 Hướng gió AI 1
O
0~360 ±3
3 Tốc độ gió PI 1 m/s 0.4~75 ±0.2
4 Lượng mưa PI 1 mm ±0.1
5 Áp suất khí quyển AI 1 mmHg 375~825 ±0.075
6 Độ ẩm AI 1 % 0~100 ±1.7%
7 Bức xạ AI 1

đầu vào (cấu hình tối thiểu và cấu hình mở rộng ). Phần giao tiếp với trung tâm
để trao đổi dữ liệu được thưc hiện qua đường truyền điện thoại, radio link hoặc
công nghệ ngày nay là GSM/GPRS. Một số thiết bị RTU đưa ra giải pháp lưu
thẻ nhớ theo định dạng FAT32 để cán bộ vận hành mang về trung tâm đọc vào
máy tính.

Với phân tich ở trên thì nhiệm vụ là phải đi tìm một bài toán thu th
ập số liệu,
một nhu cầu thực tế rất cần thiết, một nhu cầu thu thập dữ liệu môi trường trên
diện rộng trải dài qua nhiều tỉnh thành hoặc khắp cả nước để xây dựng các trạm
thu thập số liệu có kết nối về trung tâm nhằm xây dựng một hệ đo lường và
giám sát tập trung tại trung tâm vận hành.

Để giải quyết bài toán trên cũng là thực hi
ện nhiệm vụ của đề tài, nhóm nghiên
cứu đã tập trung chọn mô hình đo lường và giám sát các cụm đầu mối thủy nông
trong việc phân phối nước trong cả một vùng rộng lớn, góp một phần tích cực
vào công việc quản lý nước một cách hiệu quả cũng như trợ giúp cán bộ vận
hành dự báo được lũ trên thượng lưu cũng như dự báo ngập úng vùng hạ du.
Sau đây sẽ phân tích m
ột số công trình thủy lợi trọng điểm nằm ở khu vực miền
bắc nước ta.

I-2. Các vấn đề tồn tại trong các công tác quản lý và vận hành công trình
thủy nông

Công tác vận hành hệ thống thủy nông được chia thành 3 vấn đề chính: vận
hành công trình đầu mối, vận hành các công trình trên kênh và điều hành lấy
nước vào ruộng.


điều hành hồ chứa an toàn về công trình, an toàn
cho hạ du hồ nhưng vẫn đảm bảo nhiệm vụ tích nước phục vụ phát điện, sản
xuất nông nghiệp đang là vấn đề bức xúc của thực tế hiện nay

2. Công trình đầu mối là trạm bơm
Cả nước có khoảng 2000 trạm bơm điện lớn và vừa có công suất 450MW. Các
trạm bơm điện là giải pháp cung c
ấp nước chủ yếu cho các hệ thống thủy nông
vùng đồng bằng, nơi không thể làm hồ chứa. Công tác quản lý, điều hành trạm
bơm có một số hạn chế như:
- Công tác giám sát mực nước bể xả, bể hút, thời gian vận hành của các tổ
máy thường ghi chép vào sổ sách (thủ công). Cán bộ kỹ thuật không có số
liệu tức thời nên không biết được lưu lượng mà trạm b
ơm đang cung cấp
nên không thể điều hành đóng mở cống lấy nước kịp thời để đảm bảo giữ
được mực nước trên kênh.
- Không có công cụ giám sát các thông số vận hành của máy bơm như lỗi
quá nhiệt, lỗi độ ẩm, lỗi khởi động nên việc vận hành máy bơm đảm
bảo an toàn gặp nhiều khó khăn.

3. Đối với công trình đầu mối là cống l
ấy nước vùng triều

13
Biến đổi khí hậu làm nhiệt độ tăng cao và nước biển dâng, dẫn đến: suy giảm tài
nguyên nước, dòng chảy ăm giảm, dòng chảy kiệt suy giảm lớn hơn (giảm từ -
2% đến -24%) độ mặn xâm nhập sâu vào cửa sông.
Việc mặn xâm nhập sâu vào các cửa sông đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất
nông nghiệp. Do đó, vấn đề đặt ra là cần phải giám sát độ mặn ch
ặt chẽ để lấy

để xác định được khối lượng nước cung cấp tại các điểm giao nhận nước.

I-2.3.Vận hành lấy nước vào ruộng
Hiện nay, nông dân tự lấy nước vào ruộng bằng các ống sành, ống nhựa PVC
hoặc đục lỗ trực tiếp bờ kênh. Khi không cần lấy nước thì dùng rơm hoặc đất bịt
lỗ lại. Việc lấy nước theo cách này tồn tại mộ
t số vấn đề sau:
- Đối với mỗi một giống lúa, các nhà khoa học đều nghiên cứu xác định
chế độ tưới cho từng thời kỳ sinh trưởng (gọi là công thức tưới tăng sản)
để đảm bảo cây trồng có năng suất cao nhất. Tuy nhiên nếu lấy nước theo

14
cách này thì nông dân không thể thực hiện được, thường lấy nước chảy
tràn lan gây lãng phí nước và cây trônhf không đạt năng suất cao nhất.
- Trong trường hợp cây trồng là cây màu thì rất hay xẩy ra hiện tượng lấy
nước nhiều quá gây ngập úng.

I-3. Giải pháp hiện đại hóa công tác quản lý, điều hành hệ thống thủy nông.I-3.1 Hiện đại hóa công tác vận hành công trình đầu mối hồ chứa
Xây dựng hệ SCADA quan trắc các thông số từ xa thời gian thực:
- Đo lượng mưa lưu vực, hạ du hồ
- Đo mức nước hồ
- Độ mở cửa tràn, cửa cống
- Điều khiển đóng mở các cửa tràn, cửa cống
- Xây dựng phần mềm điều hành h
ồ chứa thời gian thực, dự báo lũ, dự báo
ngập lũ phía hạ du hồ
I-3.2 Hiện đại hóa công tác quản lý vận hành công trình đầu mối là trạm bơm

15
- Máy vi tính trung tâm + phần mềm giám sát điều khiển hệ thống tưới
- Phần mềm tính toán hỗ trợ điều hành hệ thống thủy nông

Kết luận:
- Hệ thống thông tin giám sát tập trung hay điều độ tập trung các công trình
từ hồ chứa, trạm bơm, trênh kênh chính. kênh nhánh đến tận mặt ruộng sẽ
giúp công ty KTCTTL giám sát được mọi thông tin thời gian thực, giám
sát hình ảnh thời gian thực. Các thông tin tại công ty KTCTTL c
ũng sẽ
được kết nối Internet để các cấp lãnh đạo có quyền có thể giám sát và
điều khiển được nhằm phòng chống lũ, thiên tai kịp thời.
- Dựa trên cơ sở dữ liệu thời gian thực của hệ thống vận hành thủy nông,
các phần mềm giá trị gia tăng sẽ được tích hợp vào hệ thống như: dự báo
lũ, dự báo dòng chảy đến hồ, dự báo ng
ập lụt phía hạ du hồ
- Cũng dựa trên cơ sở dữ liệu thời gian thực kể trên, công ty KTCTTL có
thể quản lý nước rất chặt chẽ, tránh lẵng phí nguồn nước, cấp nước đúng
đủ theo yêu cầu của từng loại giống cây trồng.

Nhiệm vụ đặt ra là khảo sát các nhu cầu thực tế của khách hàng, nhóm thực hiện
đề tài đã thực hiện công việc khảo sát
ở hai công trình trọng điểm của Việt nam
ở các tỉnh phía bắc là: công trình thủy nông sông Chu và công trình thủy nông
Bắc-Hưng-Hải. Sau đây là số liệu cụ thể của 2 công trình:

I-4. Khảo sát nhu cầu thực tế một số công trình thủy lợi trọng điểm ở miền
Bắc nước ta

I-4.1. Công trình thủy nông sông Chu

- Cụm Phương Khê có cống lấy nước 2 cửa (1.2x1.0)m.
- Cống Cổ Định có cống lấy nước 1 cửa (1.2x1.0)m cho lưu lượng lớn
nhất 2.45m3/s

Bảng kê thiết bị cần thiết cho công trình thủy nông sông Chu
T
T
Danh mục
thiết bị
Trung tâm
Bái Thượng
Bàn Thạch
Phong Lạc
Qui Xá
Lộc Giang
Quán Am
Chợ Nhàng
Phúc Như
Phương Khê
Cổ Định
Tổng
1 RTU+GSM 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 10
2 Thiết bị đo
mức
2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 20
3 Thiết bị đo độ
mở
7 6 6 3 4 4 3 3 2 1 39
4 Thiết bị đo
mưa

thác tối ưu nguồn nước và đảm bảo an toàn cho công trình.
- Thời gian làm việc 24/24 có khả năng hoạt động tiếp tục khi nguồn điện
lưới bị cắt, thời gian làm việc có thể đến 12h
- Tại phòng điều hành TT có màn hình LCD lớn mô tả toàn bộ hoạt động
thời gian thực của hệ thống thủy nông sông Chu tại 10 cụm đầu mối với
các thông số như UWT, DWT, GP và TF. Có thể ước lượng việc tính lưu
lượng Q, tuy nhiên việc này phụ thuộc nhiều vào kết cấu cống điều tiết,
cần đến thuật toán và giải thuật thủy lực phức tạp hơn.
- Có khả năng phát triển mở rộng hệ thống trong tương lai

I-4.2. Công trình thủy nông Bắc Hưng Hải

Hệ thống thủy lợi BHH bao gồm toàn bộ hoặ
c một phần của bốn tỉnh, gồm hai
quận Đông Nam Hà Nội, toàn bộ tỉnh Hưng Yên, 7 huyện thuộc tỉnh Hải Dương
và 3 huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh. Tổng diện tích tự nhiên trong đê là 192,045ha,
trong đó 142,479 ha được sử dụng cho mục đich nông nghiệp. Với khoảng 2.2
triệu người làm nghề nông.

BHH được chia làm 10 tiểu vùng: Gia Lâm, Gia Thuận Châu Giang, Bắc Kim
Sơn, Cẩm Giàng – thành phố Hải Dương, An Thi, Bình Giang – Bắ
c Thanh
Miện, Tứ Lộc (Gia Lộc – Tứ Kỳ), Tây Nam Cửu An, Đông Nam Cửu An. Tổng
diện tích khống chế nằm trong hệ thống đê chính có xu hướng dốc xuống theo
hướng Tây Nam – Đông Nam.

Hệ thống thủy lợi BHH rất phức tạp, cả về cơ sở hạ tầng và công tác quản lý
vận hành và bảo dưỡng. Hệ thống thủy lợi BHH là một hệ thống kết hợ
p, bao
gồm hệ thống sông/kênh được sử dụng cho cả mục đích tưới và tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status