Hoạt động của các công ty chứng khoán tại việt nam thực trạng và giải pháp - Pdf 13

Tr-ờng Đại Học Ngoại Th-ơng
Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành kinh tế ngoại th-ơng
o0o
Khóa luận tốt nghiệp

Đề tài:

Hoạt động của các công ty chứng khoán tại
việt nam: thực trạng và giảI pháp Họ và tên sinh viên : đặng thị minh châu
Lớp : Nhật 2
Khoá : K42 G
Giáo viên h-ớng dẫn : tS. Từ thúy anh Hà Nội, tháng 11/2007
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
1

cũng gặp phải không ít khó khăn. Để khắc phục những khó khăn thách thức,
tạo điều kiện cho công ty chứng khoán, Nhà nước và Uỷ ban chứng khoán
Nhà nước cần có những chính sách phù hợp để quản lý và thúc đẩy các công
ty chứng khoán phát triển lành mạnh, ổn định. Đồng thời, bản thân các công
ty chứng khoán cần phải không ngừng hoàn thiện, nỗ lực vượt qua được
những khó khăn, thách thức.
Là một sinh viên kinh tế chuyên ngành kinh tế ngoại thương, nhận thức
được tầm quan trọng của các công ty chứng khoán đối với thị trường chứng
khoán Việt Nam, em xin chọn viết đề tài : “Hoạt động của các công ty chứng
khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp “ với mong muốn được tìm hiểu
sâu hơn về thực trạng hoạt động của các công ty chứng khoán và xin đưa ra
một số giải pháp nhằm giúp các công ty chứng khoán hoạt động tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn Tiến sĩ Từ Thuý Anh và
các thầy cô trong khoa đã tạo điều kiện và giúp đỡ em rất nhiều trong quá
trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Do trình độ hiểu biết và kinh nghiệm
thực tiễn còn hạn chế, trong luận văn em tự thấy còn nhiều thiếu sót, kính
mong nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn của các thầy cô để luận văn tốt nghiệp
của em được hoàn thiện hơn. Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
3
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG

kinh tế quốc dân.
1.2.2 Cung cấp môi trƣờng đầu tƣ cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh
với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất
khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể
lựa chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của
mình. Chính vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc
gia.
1.2.3 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán.
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ
sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng
tạo tính thanh khoản ( khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong
những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư. Đây là yếu tố
cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng
động và hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các
chứng khoán giao dịch trên thị trường.
1.2.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của doanh nghiệp được phản ánh
một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động
của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra môi
trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích
áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản xuất.
1.2.5 Tạo môi trƣờng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách
nhạy bén và chính xác.Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở
rộng, nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại, giá chứng khoán giảm cho thấy
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
5
các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế.Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu

bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để
nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư. Một số
nhà đầu tư chuyên nghiệp chính trên thị trường chứng khoán là
các công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu và
các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư thông qua các tổ chức đầu
tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư và
các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh
nghiệm.
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài
chính. Các công ty tài chính được phép kinh doanh chứng khoán,
có thể sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư vào chứng khoán
nhằm mục đích thu lợi.
Bên cạnh đó, các CTCK, các NHTM cũng có thể trở thành nhà
đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho chính mình.
2.3 Các tổ chức kinh doanh trên TTCK
- Công ty chứng khoán : Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực
chứng khoán, có tể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là:
 Bảo lãnh phát hành
 .Môi giới
 Tự doanh
 Quản lý quỹ đầu tư
 Tư vấn đầu tư chứng khoán
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
7
Để có thể thực hiện mỗi nghiệp vụ, các CTCK phải đảm bảo được một
số vốn nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền.
Các ngân hàng thương mại: Tại một số nước, các NHTM có thể sử
dụng vốn tự có để tăng và đa dạng hoá lợi nhuận thông qua đầu tư vào chứng
khoán.Tuy nhiên các ngân hàng chỉ được đầu tư chứng khoán trong giới hạnh

- Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy
định pháp luật về CK.
- Điều tra và igải quyết các tranh chấp giữa các thành viên.
- Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành CK.
- Hợp tác với Chính phủ và các cơ quan khác để giải quyết các vấn đề
có tácđộng đến hoạt động kinh doanh CK.
 Tổ chức lƣu kí và thanh toán bù trừ CK
Là tổ chức nhận lưu giữ các CK và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán
bù trừ cho các giao dịch CK
Một số tổ chức khác như:
 Các công ty dịch vụ máy tính CK
 Các tổ chức tài trợ CK
 Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
3. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK
3.1 Nguyên tắc công khai
Theo luật định, các bên phát hành chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp
đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin có liên quan tới tổ chức phát
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
9
hành, tới đợt phát hành. Công bố thông tin được được tiến hành khi phát hành
lần đầu cũng như theo các chế độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các CTCK và các tổ chức có
liên quan.
3.2 Nguyên tắc trung gian
Nguyên tắc trung gian : trên thị trường chứng khoán, các giao dịch
được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên
thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát
hành mà mua từ nhà bảo lãnh phát hành.Trên thị trường thứ cấp, thông qua
các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh các CTCK mua và bán CK giúp khách

thức này không phản ánh kịp thời những thông tin về thị trường và hạn chế
tính cấp thời của các giao dịch. Do vậy, hình thức này chỉ thích hợp với
giai đoạn đầu của TTCK khi số lượng khách hàng và khối lượng giao dịch
nhỏ không sôi động.
- Đấu giá liên tục : Là hệ thống trong đó việc mua bán CK
được tiến hành liên tục bằng cách phối hợp các đơn đặt hàng của khách
hàng ngay khi có các đơn đặt hàng có thể phối hợp được.Đặc điểm của
đấu giá liên tục là giá cả được xác định qua sự phản ứng tức thời của
thông tin và các nhà đầu tư có thể nhanh chóng phản ứng lại trước những
thay đổi trên thị trường. Hình thức đấu giá này thích hợp với những thị
trường có khối lượng giao dịch lớn và nhiều đơn đặt hàng.
Khi thực hiện nguyên tắc đấu giá, bao giờ cũng tuân thủ theo các thứ tự
ưu tiên về giá (giá đặt mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất), về thời
gian, về khách hàng (ưu tiên các nhà đầu tư cá nhân trước ), về quy mô
lệnh ( cùng một mức giá, ưu tiên các lệnh có khối lượng lớn hơn).
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
11
II. Tổng quan về công ty chứng khoán
1. Khái niệm CTCK
CTCK là một chủ thể kinh doanh trên TTCK, với nhiệm vụ chuyên
môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, và bộ máy tổ chức thích hợp, thực hiện được
vai trò trung gian môi giới mua bán, phát hành CK, tư vấn đầu tư và thực hiện
một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư và người phát hành.
Các CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và của TTCK nói riêng. Nhờ các CTCK mà các CP và TP
được lưu thông, buôn bán tấp nập trên TTCK, qua đó, một lượng vốn khổng
lồ được đưa vào đầu tư từ việc tập hợp những nguồn vốn lẻ tẻ trong công
chúng.
2. Chức năng của CTCK

CTCK còn có một chức năng quan trọng là can thiệp trên thị trường,
góp phần điều tiết giá CK. Theo quy định của các nước, CTCK bắt buộc phải
dành ra 1 tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua CK vào khi giá CK trên
thị trường đang giảm và bán ra khi giá CK cao.
3.3 Vai trò cung cấp một cơ chế chuyển ra tiền mặt
Các nhà ĐT luôn muốn có khả năng chuyển tiền mặt thành CK có giá
và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định. Các CTCK đảm nhận được
chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà ĐT phải chịu ít thiệt hại nhất khi tiến
hành đầu tư. Chẳng hạn, trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở sở GDCK và thị
trường OTC ngày nay, một nhà ĐT có thể hàng ngày chuyển đổi tiền mặt
thành CK và ngược lại mà không phải chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
13
khoản ĐT của mình ( ít nhất thì cũng không phải chịu thiệt hại do cơ chế
GDCK gây nên ). Nói cách khác,có thể có một số nhân tố bên ngoài ảnh
hưởng đến giá trị ĐT, chẳng hạn như tin đồn về một vấn đề nào đó trong nền
kinh tế, nhưng giá trị khoản đầu tư nói chung không giảm đi do cơ chế mua
bán.
3.4 Thực hiện tƣ vấn đầu tƣ:
Các CTCK với đầy đủ các dịch vụ không chỉ thực hiện mệnh lệnh của
khách hàng, mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua
việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công ty và cá
nhân ĐT.
3.5 Giảm chi phí giao dịch
TTCK là thị trường của những sản phẩm tài chính bậc cao, để thẩm
định chất lượng và xác định giá cả của chúng thường phải chi phí rất lớn để
phục vụ cho việc thu thập, xử lý thông tin, đào tạo cho nhân viên kỹ năng
phân tích và thực hiện quy trình giao dịch trên một thị trường tập trung.
Những chi phí đó chỉ có CTCK hoạt động chuyên nghiệp mới có khả năng

- Loại đa năng 1 phần : Các NH muốn kinh doanh CK, kinh doanh
bảo hiểm, phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời. Mô hình này được áp
dụng tại 1 số nước : Anh, Canada, úc …
 Đặc điểm: của mô hình này là kinh doanh CK và kinh doanh tín
dụng được tách ra độc lập trong hạch toán kinh doanh. Nghĩa là các
CTCK có tư cách pháp nhân riêng và chịu trách nhiệm bằng vốn sở hữu
riêng của CTCK.
 Ƣu điểm : - Hoạt động của CTCK không ảnh hưởng gì tới hoạt
động ngân hàng hay tổ chức tài chính là công ty mẹ, do đó, nó không gây
ra rủi ro cho các ngân hàng hay tổ chức tài chính là công ty mẹ.
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
15
Thích hợp với các nền kinh tế đang phát triển. Do trình độ quản lý của
các nền kinh tế đang phát triển còn thấp nên sử dụng mô hình này an toàn hơn
và có điều kiện thực hiện hơn. Nếu thành lập một CTCK mới sẽ có ít nhà đầu
tư mạo hiểm nào muốn đứng ra bỏ vốn kinh doanh vì có thể họ không am
hiểu gì về kinh doanh trong lĩnh vực tài chính. Vì vậy, nếu để cho các tổ chức
tài chính đang hoạt động, có vốn lớn, có thị trường lớn, đứng ra thành lập
công ty con thì tính khả thi sẽ cao hơn nhiều. Ví dụ như ở Việt Nam, các
CTCK thành lập từ những ngày đầu là các công ty con của các NHTM, am
hiểu sâu sắc các công ty phát hành và niêm yết trên TTCK nhờ vào sự hoạt
động lâu năm của các công ty mẹ trên TTCK.
 Nhƣợc điểm : - Quy mô thường nhỏ, lệ thuộc vào vốn của công
ty mẹ cấp cho. Hội đồng quản trị của CTCK thường là người của công ty
mẹ nên nó càng bị lệ thuộc vào chiến lược kinh doanh của công ty mẹ. Ví
dụ : Khi công ty mẹ muốn mở rộng thị trường tín dụng thì thị trường phát
hành CK bị thu hẹp lại, do các doanh nghiệp thay vì phát hành CK để vay
nợ trên thị trường tài chính thì họ lại đi vay ngân hàng để thoả mãn nhu
cầu vốn. Khi Ngân hàng mẹ ra sức thu hút tiền gửi tiết kiệm thì tiền được

Khi HĐQT có khuynh hướng gì sẽ ảnh hưởng lớn đến chiến lược
chung của tổ chức tài chính. Do đó, nếu HĐQT có khuynh hướng xem cho
vay là nghiệp vụ kinh doanh có tính chiến lược thì hoạt động KDCK sẽ yếu
đi. Ngược lại thì hoạt dộng KDCK sẽ bành trương mau lẹ và có thể bị rủi ro.
Sự không tách bạch giữa các nghiệp vụ kinh doanh CK với nghiệp vụ
cho vay còn làm cho quá trình quản lý khá phức tạp, nhất là sự quản lý của bộ
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
17
phận quản lý cao nhất như HĐQT và ban điều hành. Và điều này có thể
không kiểm soát được hết mọi hoạt động của tài chính tín dụng và có thể bị
các nhân viên bên dưới lợi dụng hoặc kinh doanh sai lệch định hướng chung
của tổ chức tín dụng, hoặc kinh doanh thiếu hiệu quả mà không thể được chấn
chỉnh kịp thời.
4.1.2 Mô hình chuyên doanh chứng khoán
Hoạt động chuyên doanh CK sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn
hoá trong lĩnh vực CK đảm nhận, các NH, tổ chức tài chính, công ty bảo hiểm
không được tham gia kinh doanh CK. Mô hình này được áp dụng ở nhiều
nước, trong đó đáng chú ý là Mỹ, Nhật, Hàn…
Sở dĩ người ta không cho phép các tổ chức tài chính khác kinh doanh
CK vì sợ rằng những hoạt động của CTCK khi được thực hiện đồng thời với
các hoạt động như cho vay, thanh toán, sẽ làm hoạt động kinh doanh CK và
hoạt động cho vay gặp nhiều rủi ro hơn.
 Ưu điểm:
Hạn chế rủi ro cho hệ thống NH và các tổ chức tài chính khác
Tạo điều kiện cho TTCK phát triển mang tính chuyên môn hoá cao

 Nhược điểm:
Không thích hợp với thị trường các nước đã phát triển và trong thời
gian gần đây, các nước này đã có xu hướng giảm dần các hạn chế về kinh

 Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư : cung cấp
cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.
 Nối liền những người bán và những người mua : đem đến cho
khác hàngtất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
19
 Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết :
Trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra
những lời động viện kịp thời.
 Khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức ( điển hình là sợ hãi và
tham lam).
 Để giúp khách hàng có những quyết định tỉnh táo.
5.1.2 Những đặc trƣng của nghề MGCK
 Lao động cật lực, thù lao xứng đáng.
 Những phẩm chất cần có : kiên nhẫn, giỏi phân tích tâm lý và
ứng xử.
 Nỗ lực cá nhân là quyết định, đồng thời không thể thiếu sự hỗ
trợ của công ty trong việc cung cấp thông tin và kết quả phân
tích cũng như việc thực hiện các lệnh của khách hàng.
5.2 Nghiệp vụ tự doanh CK
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán các CK cho
chính mình.
Hoạt đông tự doanh của CTCK có thể được thực hiện trên các thị
trường giao dịch tập trung ( thị trường giao dịch CK, SGDCK ) hoặc trên thị
trường OTC…Trên thị trường giao dịch tập trung, lệnh giao dịch của các
CTCK được đưa vào hệ thống và thực hiện tương tự như lệnh giao dịch của
khách hàng. Trên thị trường OTC, các hoạt động này có thể được thực hiện
trực tiếp giữa công ty với các đối tác hoặc thông qua một hệ thống mạng
thông tin. Tại một số nước, hoạt động tự doanh của CTCK còn được thực hiện

theo đó tổ chứcbảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ
Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
21
chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số CK mà cam kết sẽ cố gắng hết
sức để bán CK ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết thì sẽ trả lại
cho tổ chức phát hành số CK còn lại.
 Bảo lãnh theo phƣơng thức bán tất cả hoặc không: theo
phương thức này, tổ chức phát hành sẽ yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số
CK nhất định, nếu không phân phốiđược hết sẽ huỷ toàn bộ đợt PH
 Bảo lãnh theo phƣơng thức tối thiểu- tối đa: là phương thức
trung gian giữa bảo lãnh với cố gắng cao nhất và bảo lãnh theo phương thức
bán tất cả hoặc không. theo phương thức này tổ chức phát hành yêu cầu tổ
chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ CK nhất định (mức sàn). Vượt trên
mức ấy tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán CK đến mức tối đa quy định
(mức trần). Nếu lượng CK bán được đạt tỷ lệ thấp hơn yêu cầu (mức sàn) thì
toàn bộ đợt phát hành bị huỷ.
5.4 Nghiệp vụ tƣ vấn đầu tƣ:
Nội dung của hoạt động tư vấn là đưa ra những lời khuyên, phân tích
các tình huống hay thực hiện một số công việc có tính chất dịch vụ cho khách
hàng.
Do giá cả CK thường luôn biến động nên việc tư vấn về giá trị CK rất
khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về lợi ích. Đặc biệt là với
hoạt động này, các nhà tư vấn có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc về giá
trị và xu hướng giá cả của các loại chứng khoán-việc này có thể do khả năng
của họ hoặc họ cố tình gây hiểu lầm để kiếm lợi. Do vâỵ, đây là một hoạt
động nghiệp vụ cần được quản lý chặt chẽ và đòi hỏi phải có những giới hạn
nhất định trong khi thực hiện công việc.
Nghiệp vụ tư vấn đầu tư được phân loại theo 3 tiêu chí:
 Theo hình thức của hoạt động tƣ vấn

Bản chất của quản lý danh mục đầu tư CK là định lượng mối quan hệ
qiữa rủi ro và lợi tức thu được.
Đặc điểm của hoạt động này:
 Theo hình thứ quản lý, hoạt động quan lý danh mục đầu tư có hai
hình thức: tự mình ra quyết định đầu tư cho chính danh mục đầu tư của
mình và nhờ người khác quản lý cho mình trên nguyên tắc thoả thuận
trước.
 Việc thuê người khác quản lý danh mục đầu tư: đây là nguyên
tắc quản lý dựa trên cơ sở pháp lí tách bạch quyền sở hữu thành ba quyền
là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt và thực hiện dựa
trên quan hệ uỷ thác, quản lý tài sản. quản lý đầu tư bằng việc tài sản uỷ
thác đầu tư được giao cho một bên thứ ba, độc lập về lợi ích, chịu trách
nhiệm giám sát, quản lý tài sản uỷ thác.
 Có nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý quỹ, quản lý
danh mục đầu tư và quan hệ giữa các chủ thể này rất phức tạp nhưng tạo
thành một tổng thể thống nhất, mỗi chủ thể có quyền và nghĩa vụ riêng và
luôn luôn tồn tại xung đột lợi ích giữa các chủ thể.
 Các nhà đầu tư tham gia thị trường bằng cách mua các loại
chứng khoán do các tổ chức phát hành. Do vậy, nhà đầu tư là người gánh
chịu những rủi ro, chấp nhận lãi, lỗ dựa trên sự tăng giá hay giảm giá của
các loại CK đó và khoản thu nhập do tổ chức phát hành chia. Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp
Đặng Thị Minh Châu – N2-KTNT K42
24
6. Quy định về vốn điều lệ của CTCK
Nếu như năm 2006, để thành lập một CTCK, người ta cần mức vốn
pháp định là 43 tỷ đồng , thì từ ngày 1/1/2007 con số này sẽ là 300 tỷ nếu
thực hiện cả 4 nghiệp vụ môi giới, bảo lãnh, tư vắn và tự doanh CK. Căn cứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status