phân tích tác phẩm văn học 11 - Pdf 14

Đề: Phân tích nghệ thuật trào phúng độc đáo của VTP qua đoạn trích
“Hạnh phúc của một tang gia”- Số đỏ”.
I. Mở bài
- Giới thiệu kiệt tác “Số đỏ” của VTP.
- Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” thể hiện tài năng trào
phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phọng.
II. Thân bài
*). Nhận xét chung về tiếng cười trào phúng
- Tiếng cười trào phúng là tiếng cười tư tưởng. Tư tưởng chi phối tác
phẩm của VTP chính là niềm căm thù xã hội đương thời. Và phong
cách nghệ thuật của một cuốn tiểu thuyết phụ thuộc vào tài năng của
nhà văn khi dàn dựng những tình huống oái oăm, vô lí, khi xây dựng
được những bức chân dung quái thai, kì quặc bằng một biện pháp
phóng đại để tạo được tiếng cười hả hê. Và đằng sau tiếng cười hả
hê đó người đọc nhận thấy tất cả là sự thật.
*). Nghệ thuật trào phúng
1. Mâu thuẫn trào phúng
a). Nhan đề
- Tên của chương truyện hé mở một cảnh ngược đời quái gở: Xưa
nay nói đến tang ma tức là nói đến sự sinh li, tử biệt. Thế nhưng ở
đây gia đình có tang ma mà lại hạnh phúc, có người chết lại vui vẻ
huyên náo, sung sướng.
" Nhan đề vừa gây sự chú ý bởi tính hài hước, mỉa mai vừa cho
người đọc phải băn khoăn, suy nghĩ “tại sao tang gia lại hạnh phúc?”.
b). Tình huống truyện độc đáo
- Từ nhan đề oái oăm, VTP đưa người đọc đến một tình huống
truyện độc đáo. Tình huống mở ra ở ngay câu văn đầu tiên “Ba hôm
sau ông cụ già chết thật”. Hoá ra cái chết của cụ cố Tổ đã là niềm
mong đợi từ lâu của đám con cháu bất hiếu.
- Cái chết của cụ cố Tổ đáng lẽ phải để lại nỗi đau đớn thiêng tiếc
cho con cháu nhưng ngược đời thay nó lại mang đến cho gia đình

nhưng không phải vì cái chết của ông nội mà điều ông quan tâm là
làm thế nào để cái chức thư kia sớm đi vào thời kì thực hành và xửa
trí với XTĐ ra sao khi hắn có hai cái tội nhỏ (quyến rũ một em gái, tố
cáo tội hoang dâm của một em gái khác), nhưng lại có một cái ơn to
(gây ra cái chết của ông cụ già đáng phải chết).
" Cái đáng cười: thái độ vẻ mặt của Văn Minh vô tình lại “hợp thời
trang”, “đúng cái mặt một người lúc gia đình đương là tang gia bối
rối. Nhưng đằng sau tiếng cười tác giả muốn vạch trần bộ mặt bất
nhân, giả dối của Văn Minh.
- Cậu Tú Tân “điên người lên vì cậu đã sẵn sàng mấy cái máy ảnh
mà mãi không được dùng đến”. Khi được dùng thì cậu lấy làm sung
sướng.
" Cái chết của ông nội là một dịp để thoả mãn thú vui chơi.
- Bà Văn Minh: “sốt cả ruột vì mãi không được mặc đồ xô gai tân
thời, cái mũ mấn trắng viền đen”.
" Đám tang ông nội là cơ hội để bà Văn Minh trình diễn thời trang,
đám tang trở thành sàn diễn.
- Ông Typn “rất bực mình vì mãi không thấy sự chế tạo của mình ra
mắt công chúng”.
" Đám tang cụ cố tổ trở thành một dịp quảng cáo lăngxe cho dịp làm
ăn mới.
- Cô Tuyết: “thành thử tang gia ai cũng vui vẻ cả trừ một Tuyết”. Câu
văn như một bản lề khép mở đưa người đọc đến bất ngờ: Tuyết đâu
khổ đến mức muốn tự tử nhưng không phải vì người chết mà vì “tìm
khắp… lòng”
" Cuộc đời như một màn kịch mà con người cố tình hay vô tình vào
vai rất đạt.
8 Đại tang trở thành đại hỉ. Buồn trong lúc vui là bất nhã. Vui trong
khi đám ma dáng ra phải buồn là sự bất nhân. Cả gia đình cụ cố
Hồng trở thành đại bất hiếu, đại bất nhân.

" Một sự hổ lốn, hỗn tạp, phô trương hợm hĩnh của một gia đình thừa
của, thiếu học.
+. Đám có đủ mọi thành phần từ giai thanh, gái lịch cho đến những vị
tai to mặt lớn, họ đến để hoà vào đám tang tạo ra cái nhịp đều đều
của cảnh đưa đám “đám cứ đi”. Nhìn bề ngoài thì tưởng như họ đang
nghiêm trang đa người chết xuống huyệt nhưng kì thực khi đưa ông
kính cận cảnh thì hoá ra mỗi thành viên trong đám tang này đều là
một nhân tố biến đám tang thành một đám hội, đám rước.
8 “Thật là một đám ma to tát…cái đầu”. VTP đã bình như thế về cái
đám ma ấy.
Với giọng điệu mỉa mai và thủ pháp cường điệu, VTP đang mỉa mai
những kẻ tổ chức đám tang và tham dự đám tang. VTP kết hợp lối
nói phản ngữ. Có lẽ cái mỉm cười sung sướng của cụ cố tổ là cái
cười khi không phải sống với đám con cháu khốn nạn, là cái cười ra
nước mắt của cụ cố tổ. Cái “gật gù” phải chăng cụ cố tổ đã ngộ ra và
thấu hiểu sự tha hoá vô lương tâm của những kẻ đi đưa mình.
: Một đám tang không thiếu thứ gì nhưng kì thuỷ sự đầy đủ lại nói lên
cái thiếu duy nhất: tình cảm chân thành dành cho người quá cố.
- Cảnh hạ màn: VTP với ống kính nhạy cảm của mình đã chộp được
những pha trào phúng, những khoảnh khắc trào phúng xuất thần để
cho vở bi hài kịch kết thúc một cách hoàn hảo: chính là thời điểm hạ
huyệt. Thật là một cảnh huống bi hài:
Đầu tiên là cậu Tú Tân: “bắt bẻ từng người…như thế nọ”. Đối với cậu
Tú Tân đây là cơ hội để làm nghệ thuật. Việc cậu làm không phải là
bỏ nắm đất xuống huyệt để vĩnh biệt, cũng không phải là nhỏ những
giọt nước mắt tiễn đưa người đã khuất mà cậu chỉ làm một việc “bắt
bẻ…nọ”.
FCậu đang trong vai trò của một đạo diễn, lập sân khấu ngay trên
miệng huyệt. Biến bãi tha ma thành một sân khấu diễn tấn trò đời.
Diễn viên siêu hạng nhất là ông Phán mọc sừng. Ông ta cứ “oặt

đám tang thì thưa vắng chỉ có người lạ; một đám tang thì đông vui
nhộn nhịp đầy đủ con cháu, bạn bè. Một đám tang của kẻ tứ cố vô
thân; một đám tang của kẻ đại phúc. Một đám tang được làm từ số
tiền ít ỏi của chàng sinh viên nghèo; một đám tang của một gia đình
giàu có phô trương. Một đám tang có hai chiếc xe tang chỉ có gia huy
nhưng không có người ngồi; một đám tang có xe tang, có người ngồi
thậm chí ngồi “vênh váo”. Một đám tang có những giọt nước mắt của
chàng sinh viên- giọt nước mắt tình người; một đám tang có những
giọt nước mắt giả dối của cụ cố Hồng, ông Phán. Thế nhưng hai đám
tang lại rất giốnn nhau: tất cả những người đi đưa đều vì tiền hoặc vì
những mục đích riêng của mình, đều là nơi biểu hiện của sự giả dối
và cả hai đám tang đều thiếu tình người. Một đám đưa tiễn hai linh
hồn (chàng sinh viên sau đám tang đã thách thức với cả xã hội
thượng lưu); một đám tang đưa tiễn cả xã hội xuống mồ.
III. Kết bài
- Khẳng định giá trị tác phẩm, đoạn trích.
______________________________________________________
- Tài năng của VTP.Đọc tên chương- Nguyên văn trong tác phẩm là :
Hạnh phúc của một tang gia - một cái đám ma gương mẫu… chúng
ta không khỏi bật cừơi bởi cách thông báo hóm hỉnh của nhà văn.
Nội dung sự việc là một việc đau đớn, bất hạnh. Vậy mà “tang gia” lại
có ”hạnh phúc”! việc tang là nghi lễ thiêng liêng, cần trang trọng, vậy
mà, ngôn từ dành cho cái việc đại hiếu của một gia đình như gia đình
cụ cố Hồng lại hỗn độn, pha trộn tuỳ tiện chữ Hán, chữ Nôm, nào
hạnh phúc, nào tang gia, nào văn minh, gương mẫu. cứ như chuyện
đùa, chuyện vui vậy! Cái sự đùa vui ấy mở màn cho vở hài kịch mà
trên sân khấu hiện thật rõ hai trạng huống nực cuời: đám tang nhưng
không phải là đám tang, nó là một đám…. rước. Con người nhiưng
không phải là con người mà là…. những hình nhân dị dạng, những
quái vật.

hoặc những tiếng nói “thì thào” của bọn đàn ông bình phẩm sắc đẹp của các cô gái, “than
thở” việc “vợ béo, chồng gầy”. Vậy đấy, trên cái sân khấu hài hước, người đọc thấy được
một khung cảnh pha tạp, hỗn độn, đồ vật và con người hỗn độn, âm thanh và màu sắc hỗn
độn, việc vĩnh biệt một con người là việc đùa vui, tiếng khóc của nhiều người cũng hỗn
độn, việc vĩnh biệt một con người và việc đùa vui, tiếng khóc của nhiều người cũng hỗn
độn. Đám rước mà như “ở hội chợ”. Đám tang hay đám rước? Bởi vì, như tác giả kể:
“Đám cứ đi” rồi lại “Đám cứ đi”. Những lời văn bỡn cợt, lơ lửng, hóm hỉnh, chua chát.
Và ông nhận xét: “ Thật đúng là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong
quan tài cũng phải mỉm cuời sung sướng, nếu không gật gù cái đầu”.

………………………………….

Chương 15 – HP của một tang gia là một trong những màn hài kịch đặc sắc nhất của tiểu
thuyết “Số đỏ” của VTP.

Để dàn dựng một màn hài kịch cười, trước hết phải phát hiện ra một mâu thuẫn trào
phúng. Tiếng cười có muôn hình vạn trạng, tuy nhiên bao giờ nó cũng bật ra trước một
mâu thuẫn trào phúng được phóng đại lên.

Mâu thuẫn trào phúng trong chương 15 được gợi lên ngay từ cái nhan đề của nó. Tang
gia mà lại hạnh phúc! Nhà có người chết mà lại vui! Tang gia quả có bối rối nhưng đó là
cái bối rối sung sướng, bối rối không phải để tổ chức một đám rước, một ngày hội.

Người chết là cụ cố tổ. Cụ mất đi để lại một gia tài lớn. Nhưng ông già quái ác này lại ghi
trong di chúc: chỉ chia gia tài cho con cháu khi cụ đã qua đời. Thật là sốt ruột, vì cụ cứ
sống mãi. Con cái, dâu rể đều chờ đợi cái chết của cụ như chờ đợi một hạnh phúc vậy.


cáo ngay trước mặt cụ tội ngoại tình của cô Hoàng Hôn, cháu gái của cụ, và cắm sừng
vào đầu ông Phán, cháu rể cụ)

Là cố vấn của báo Gõ Mõ, Xuân còn đem lại danh giá bất ngờ cho đám tang vì đã bổ
sung vào sự long trọng sáu chiếc xe chở sư cụ chùa bà Banh, đại diện hội Phật Giáo, báo
Gõ Mõ cùng với những vòng hoa đồ sộ…

Hạnh phúc còn lan ra cả ngoài gia đình người chết. Cảnh sát Min Đơ, Min Toa được thuê
giữ trật tự cho đám tang. Những bạn bè tai to mặt lớn của cụ cố Hồng được dịp khoe
khoang sự oai vệ và danh giá của mình, những bội tinh và râu ria…

Hàng phố thì vui quá vì mấy khi được xem đám ma to như thể là hội chợ.

Một trong những nét đặc sắc của chương truyện là tả đám đông ồn ào. Láo nháo, nhặng
xị. Dường như có ý thức khi vận dụng kĩ thuật điện ảnh, tác giả lùi xa quay toàn cảnh
đám tang đang nghiêm chỉnh đi theo quan tài người chết đến tận huyệt với cái điệp khúc
đám cứ đi…. Có khi lại dí sát ống kính quay cận cảnh để thấy đây không phải là một đám
ma mà là một đám rước, đám hội hết sức vui vẻ. Đám cứ đi nhưng không ai nghĩ đến việc
đưa đám. Đến đây không phải để khoe những bộ ngực đầy huân, huy chương và những
bộ râu ria oai vệ thì cũng để thì thầm với nhau về những chuyện vợ con, chuyện sắm một
cái áo, cái tủ…. Còn bọn thanh niên thì chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm, ghen
tuông nhau, hẹn hò nhau bằng vẻ mặt buồn rầu của người đi đưa đám ma.

Màn kịch kết thúc bằng chi tiết hài hước chó đểu. Ông Phán mọc sừng dúi vào tay Xuân
5 đồng thanh toán tiền thuê Xuân tố cáo cái nhục mọc sừng của ông ta.

Số Đỏ là một cuốn tiểu thuyết dùng hình thức giễu nhại, lật tẩy tính chất bịp bợm của
những tầng lớp gọi là thượng lưu, trí thức của Hà Nội xưa. Tất cả là một cuộc diễn trò
lớn: MỘT CUỘC BÁO HIẾU LINH ĐÌNH NHẤT CỦA MỘT GIA ĐÌNH ĐẠI BẤT
HIẾU

làm cho cụ bà sung sướng thốt lên: “Ông Đốc Xuân đã không giận mà lại giúp đáp phúng
viếng đến thế, và đám ma như kể đã là danh giá nhất tất cả”. Và Xuân sao không sung
sướng, chỉ một câu nói: “Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng!” mà được ông
phán-mọc-sừng trả công đến một tờ giấy bạc 5 đồng gấp tư “dúi vào tay”…

Đúng là “hạnh phúc của một tang gia”, mặc dù lúc hạ huyệt có cụ cố Hồng mếu, ông
phán-mọc-sừng khóc to “Hứt! Hứt! Hứt!”.

2. Nghệ thuật trào phúng bậc thầy:

- Một đám ma được kể và tả như một đám rước xách với nhiều vai hề già có, trả có, đàn
ông, đàn bà… của tầng lớp tư sản “Âu hóa” rởm. Tác giả biểu lộ sự khinh bỉ, châm biếm
sâu cay.

- Các thủ pháp nghệ thuật trào phúng vận dụng sắc sảo tài tình:

+ Phóng đại: cụ cố Hồng sung sướng quá vì chuyện bố chết mà hút liền một chặp 60 điếu
thuốc phiện, gắt 1872 lần câu: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.

+ Đặc tả những bộ râu của các ông bạn của cụ cố Hồng rất hài hước!

+ Phục bút: Xuân đến đưa đám muộn, lúc đầu làm cho Tuyết đau khổ “có thể muốn tự tử
được”, lúc hắn đến, Tuyết liếc mắt đưa tình cho hắn để tỏ ý cảm ơn. Và cụ bà thì thốt lên
sung sướng “đám ma kể đã là danh giá nhất tất cả!”.

+ Những vai hề: cậu tú Tân luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng bắt bẻ từng người
“hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc cong lưng…” để chụp ảnh. Ông phán-mọc-sừng
khóc to “Hứt! Hứt! Hứt!” nhưng lại bí mật giúi vào tay Xuân tờ giấy bạc 5 đồng gấp tư…
- Rất sòng phẳng trong việc mua bán “danh lợi”!


mà lại vui khi mình bị vợ cắm sừng mà lại được thêm tiền vì “đôi sừng” ấy chứ! Đúng là
1 kẻ vô liêm sỉ. Vì món tiền được chia mà ông bàn việc làm ăn với Xuân tóc đỏ để thu
thêm lợi cho mình. Bằng cách nói dí dởm và nghệ thuật đối lập tác giả đã chỉ ra họ là
những đứa con cháu hám danh, bất hiếu, vô đạo đức đã chà đạp lên đạo lí làm người cũng
như truyền thống văn hóa của dân tộc. Những người trong gia đình đã thế thì những
người ngoài gia đình càng vui hơn khi họ được những phần lợi nhuận từ cái chết ấy như
hai viên cảnh sát Min-đơ & Min-toa đang lúc thất nghiệp lại có việc làm và dỉ nhiên là có
tiền, các bạn của cụ cố Hồng thì có dịp để khoe khoang nào là những huy chương: Bắc
Đẩu bội tinh, Long bội tinh… đến những bộ râu trên mép trên cằm, hoặc đen hoặc hung
hung, hoặc dài hoặc ngắn, còn các trai thanh gái lịch thì có dịp hẹn hò nhau, tđán tỉnh
nhau, chim nhau, cười tình với nhau đủ mọi thứ chuyện. Thật là một cảnh dở khóc dở
cười của những kẻ trai thanh, gái lịch. Đám ma ở đây chúng ta thấy không có sự thương
tiếc, đau xót mà ngược lại còn làm nơi để hẹn hò tán tỉnh.
Ở đây Vũ Trọng Phụng đã dựng lên một bức tranh trào phúng, phê phán thực trạng và
mang đậm tính hài hước. Ở trên tác giả đã dựng 1 bức tranh chân thực về sự giả dối vui
sướng của những người trong và ngoài gia đình thì ở đây tác giả lại miêu tả cảnh 1 đám
tang thật gương mẫu với cảnh “1 đám ma theo cả lối ta, tàu, tây, lợn quay đi lọng” 1 đám
ma thật to tát như đám rước “có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa”. Bằng
giọng văn hóm hỉnh, châm biếm tác giả viết “Thật là 1 đám ma to tát có thể làm cho
người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái
đầu…!” một đám ma chậm chạp như đám rước với câu “đám cứ đi” tác giả đã miêu tả
bao quát cảnh đưa đám nhưng ở đây làm cho chúng ta liên tưởng dường như tác giả
không phải là người thuật lại sự việc nữa mà là người chứng kiến và tham gia vào đám
tang dđó bằng iệc miêu tả cận cảnh: người ta thấy những câu như con bé nhà ai kháu thế?
– con bé bên cạnh đẹp hơn nữa! – Ừ, ừ cái thằng ấy bạc tình bỏ mẹ! và với điệp từ “Đám
cứ đi” làm rõ sự chậm chạp của đám ma hơn nữa!.
Cứ như thế đến cảnh hạ huyệt mở đầu là cậu Tú Tân với “chiếc áo thụng trắng” trách
móc từng người và dàng dựng những cảnh để khoe tài năng chụp ảnh của mình 1 cách giả
dối, cùng với đó là những người bạn của cậu “rầm rộ nhảy lên những ngôi mộ khác mà
chụp để cho ảnh khỏi giống nhau “thật là vô văn hóa, bát nháu, làm mất đi vẻ trang

s  ng “m màng   n cái lúc mc   xô gai, l kh chng gy, va ho khc va
khóc mu”      c ng  i ta ngi khen “mt cái ám ma nh th, mt cái gy
nh th…” . Còn ông Vn Minh, cháu ích tôn, nhà ci cách xã hi? Ông ta
sung s  ng tt  nh, bi vì, vi cái cht ca ông ni, ông ta thy rng cái t di
chúc ã    c thc hin, ngha là cái ao   c cho ông ni mình cht i,   chia
ca, ã tr thành s tht. Bà Vn Minh sung s  ng theo úng cách ca mt ph
n tân thi, bà ta nhn ra t cái cht ca ông ni chng mt dp may him có  
có th mc “tang phc tân thi”,   xô gai tân thi, “dernìeres créations” ca
tim may Âu Hóa!
Tâm  a cái l ng i kia t ng   n th ã là tm. Nhng cha ht.   n ây, V
Trng Phng còn   y mâu thun lên mt tng na. Bi bn con cháu bt hiu
bt mc nht trn   i ó còn mun t ra mình là nhng k có hiu có tho cng
nht trn   i na kia. Th là d  i ngòi bút ca nhà vn trào phúng, s bp bm
cao nht, áng ph nh nht cng bc l ra. Nhng k mong cho ông già mau
cht ã t chc mt ám ma tht to   bày t lòng hiu tho, ngha tic th  ng
  i vi ng i ã cht! Chính vì th, ngòi bút ca V Trng Phng ã tp trung
sc mnh, nh có thn, trong phn th hai ca ch  ng sách, ngha là phn t
cnh ám ma.
Tr  c ht, nhà vn t cô Tuyt, mt cô gái h hng nh ch “h hng mt na”,
mt th thiu n ang rt tiêu biu trong xã hi “tân thi ngày y” . Tuyt mc
b tang phc “ngây th” na kín na h, vi nét mt có “v bun lãng mn” (vì
nh nhân tình ch không phi vì th ng ng i cht) ã gây mt hiu qu l
lùng: các v tai to mt ln i   a ám ch nhìn vào v khêu gi ca Tuyt   mà
cm   ng, c nh thc s cm   ng tr c ni bun tang tóc vy.
 ám ma tht to, to   n n  c “có th làm cho ng  i cht nm trong quan tài
cng phimm c  i sung s  ng” . Ng i ta ã li dng ám ma   n mc cao
nht   khoe giàu khoe sang và khoe lòng hiu tho gi v ca mình! Nu nh
mong mun ca tt c ám con cháu ca ng  i cht kia là, trong ám ma này,
  a s gi di, bp bm   ng thi cng là s tàn nhn, bt nhân,  u gi ca
mình lên   n mc hoàn toàn, thì qu tht chúng ã   t    c mt cách trn vn,

y còn tr tráo  n mc nào. Và nhà vn ã   a ra mt s li y.
“ám c i…” ngha là s vô liêm s y không h khép li, nó còn kéo dài.
  n lúc ám không “c i” na mà dng li   h huyt. V Trng Phng còn
hin cho ng i   c hai chi tit  c sc,   y cnh   a ám này lên   n  nh
i  m. Chi tit th nht là cnh cu Tú Tân bt b tng ng i mt làm nhng
  ng tác, gi nhng t th au bun   cho cu ta chp nh. Chi tit th hai là
ông phán mc sng, cái k gi di và vô liêm s nht trong gia ình này, ã
khóc  n t  ng chng ngt i. Tuy vy, gia lúc on ng  i khóc lóc, chính ông
ta ã giúi vào tay Xuân Tóc   món tin nm   ng vì ã có công gi ông ta
là“ng i chng mc sng” (chính là cái công gián tip khin cho ông già ã
cht). Tht là nhng kch s th  ng hng ca nhng tn trò   i. Hai chi tit y
óng li mt cách trn vn và sc so ch  ng sách nói v s gi di ca ng i
  i.
Nhng i  u V Trng Phng vit trong ch  ng sách là chuyn tht ? L
nào… Nhng diu y toàn là h cu ? Nhng nhng i u y   u hp lí lm
mà, và hình nh   u có tht c. Ngòi bút V Trng Phng úng là sc nh dao.
  ng sau nhng li nói nh ùa, s tht ca   i sng c hin ra l l trên ó
ni lên hai i  u ln nht: s tàn nhn và s di trá.
Cách đặt nhan đề chương sách của Vũ Trọng Phụng đã lạ lùng, đầy mâu thuẫn: Hạnh
phúc của một tang gia. Tang gia mà cũng hạnh phúc à? Tang gia mà cũng có thể hạnh
phúc được ư? Cái chết, cái chết của người thân gia đình có thể đem lại cho người ta hạnh
phúc được sao? Nếu chỉ đọc nhan đề, người ta có thể nghĩ là nhà văn đã bịa ra, bịa ra một
cách ác ý sự kết hợp của hai khái niệm hoàn toàn đối lập ấy. Nhưng không, đó không
phải là ác ý của nhà văn, đó là sự thật của đời sống, sự thật của một xã hội mà nhà văn
muốn mổ xẻ ra để mọi người nhìn thấy nó tận mặt.
Mọi sự bắt đầu từ cái chết của một ông già. Ông già ấy là cha, là ông của một gia đình
đông đảo và “đáng kính” của một xã hội “thượng lưu”. Cả gia đình ấy đã nhao lên, “nhao
lên mỗi người một cách”. Nhưng nhao lên vì đau khổ, vì đau đớn, vì lo lắng… trước cái
chết của người thân chăng? Không phải, chúng đã nhao lên vì … hạnh phúc!
“Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Câu văn tưởng chừng ngược đời

con cháu của người chết kia là, trong đám ma này, đưa sự giả dối, bịp bợm đồng thời
cũng là sự tàn nhẫn, bất nhân, đểu giả của mình lên đến mức hoàn toàn, thì quả thật
chúng đã đạt được một cách trọn vẹn, xuất sắc.
Nhưng chưa hết đâu, dưới mắt Vũ Trọng Phụng, cái lũ người giả dối không chỉ bao gồm
một nhóm nhỏ ấy đâu. Chúng đông đảo lắm. Chúng là toàn xã hội.
Bắt đầu là đại diện bộ máy cảnh sát, nghĩa là đại diện của Nhà nước: thầy Min Đơ và
thầy Min Toa. Tác giả đã nói đến vẻ mừng rỡ hí hửng của hai thầy khi được nhà chủ đám
ma thuê làm người giữ trật tự. Lí do của sự mừng rỡ duy nhất chỉ là vì họ đang không có
việc gì để làm, và đang “buồn rầu như nhà buôn sắp vỡ nơ”. Thứ đến là các vị tai to mặt
lớn, lớp “tinh hoa” của giới thượng lưu xã hội, mặt mũi long trọng, ngực đeo đầy đủ thứ
“bội tinh”. Trong đám ma này, sự cảm động của họ không phải vì tưởng nhớ đến người
đã khuất, cũng không vì tiếng kèn đưa ma não ruột bi ai, mà chỉ vì… được ngắm không
mất tiền làn da trắng thập thò trong làn áo mỏng của cô Tuyết.
Sự xuất hiện của hai tên đại bịp trong dịp này lại khiến người ta “cảm động” đến cực
điểm: Xuân Tóc Đỏ và sư cụ Tăng Phú. Vì sao? Vì với sáu chiếc xe kéo và những vòng
hoa đồ sộ, hai kẻ này đã làm cho đám ma thêm long trọng, to tát. Đến bà cụ cố Hồng, có
lẽ người lương thiện nhất trong cái gia đình vừa hư hỏng vừa đại bịp ấy, cũng cảm động
đến hớt hãi lên.
Những người đi đưa đám thật đông đảo. Bằng điệp khúc “Đám cứ đi…” được nhắc lại
đến mấy lần, tác giả như muốn nói: đám ma thật là to, thật là đông, thiên hạ tha hồ
màchiêm ngưỡng để thấy rõ sự to tát của nó. Nhưng cứ tìm thử xem trong đám người
đông đảo ấy có ai là người đang thực sự “đi đưa đám”, nghĩa là thực sự có chút tiếc
thương đối với người chết mà họ đang đưa tiễn? Không có ai cả. Tất cả mọi người đàn
ông cũng như đàn bà, già cũng như trẻ, tuy đang giữ một vẻ nghiêm chỉnh, nhưng đều
đang nói một điều gì đó, làm một điều gì đó, nghĩ một điều gì đó không dính dáng đến
người chết và đám ma cả. Trai thanh gái lịch thì chim nhau, bình phẩm, chê bai nhau,
ghen tuông nhau, hẹn hò nhau… nhưng tất cả đều “bằng vẻ mặt buồn rầu của những
người đi đưa ma”.
Thật là nhẫn tâm, thật là vô liêm sỉ. Ta sẽ nghĩ thế. Nhưng với Vũ Trọng Phụng, có nghe
được những lời mà bọn họ nói với nhau mới thấy sự vô liêm sỉ ấy còn trơ tráo đến mức

thức rác nằm trên đường điều có thể là những thứ còn dùng được, chúng thật tội nghiệp
và bất hạnh. sỡ dĩ chúng làm như thế là bởi vì chúng quá nghèo khổ.
Mẹ con chị Tí sống như một con thoi và hoàn toàn trong bong tối và không có lối thoát.
Hằng ngày, mẹ con chị mưu sinh bằng việc kiếm sống nhờ bán hang, những hình ảnh
trong truyện nhằm cho ta hấy được là “ Trời nhá nhem tối, thằng cu bé xách điếu đóm
và khiêng hai cái ghế từ trong ngõ đi ra. Chị tí, mẹ nó, theo sau, đội cái chõng trên đầu
và tay xách rất nhiều đồ đạc”. thông qua hình ảnh miêu tả công việc mưu sinh của mẹ
con chị Tí, thì phần nào thể hiện rõ mẹ con chị rất vất vả từng ngày, từng tháng. Không
những thế, mẹ con chị xem công việc này như là cái cớ để mong thời gian trôi qua mau
hơn, muốn có một cuộc sống ổn định, một công việc ổn định để làm, nhưng cho dù đây
chỉ là một điều ước không thể nào thực hiện được. [phân tích từng nhân vật: bác Xẩm,
bá Siêu,…]….
Chúng ta cũng không thể nhắc đến với bà cụ Thi Điên suốt ngày đắm chìm trong cái thứ
men ấy chính là rượu. Bản thân của cụ thì bị điên và mất ý thức tự chu của bản thân.
Một khi đắm chìm trong thứ men ấy thì cụ đã tồn tại nhưng tồn tại ở dạng thân thể chứ
không tồn tại ở dạng có linh hồn, giống như một khói thịt khổng lồ vô tri vô giác.
Những người nơi phố Huyện, họ sống, sinh ra và lớn lên ở nơi đây. Đối với họ thì không
khí im lặng, sự cô đơn và buồn chán. Nhưng đối với chị em Liên và An thì nơi đây cũng
chưa quen thuộc lắm bởi lẽ hai đứa trẻ này không phải là người dân nơi đây. Hai đứa
trước kia là người Hà Nội chốn phồn vinh, kể từ khi cha của hai đứa thất nghiệp và
chuyễn về phố Huyện, thì chị em Liên và An phải nhận thức và làm quen nơi đây.
Hằng ngày chị em Liên và An, không những ai đứa trẻ này mà hầu hết tất cà những kiếp
người nơi phố huyện điều trông chờ một thứ rất quan trọng vào môi buổi tối. Không gì
khác, đó chính là thứ ánh sáng và âm thanh của đoàn tàu hạy ngang từ Hà Nội.
Thứ ánh sáng ấy cũng một phần soi đến phố Huyện và giúp cho khu phố trở nên có ánh
sáng thêm một chút, không những thế còn có những thứ âm thanh cười nói của những
người hành khách trên tàu làm cho không khí im lặng của khi phố bị ảnh hưởng một tí.
Những âm thanh trên đoàn tàu giúp cho chị em Liên và An gợi nhớ đến những tháng
ngày ở Hà Nội. sống một cuộc sống tươi đẹp ở chốn thành thị, ngươi đi qua lại tấp nập
và được uống với những cốc nước xanh đỏ.

quá xa xỉ, nhiều tiền, không phải ai cũng mua được.
+ Gia đình bác xẩm với tiếng đàn ế ẩm không có người nghe.
+ Nổi bật lên giữa những mảnh đời ấy là hình ảnh hai chị em Liên. Mặc dù họ có một gian hàng để bán
nhưng gia tài chẳng đáng bao nhiêu. Với gia tài như thế, họ cũng không hi vọng có một cuộc sống khá giả
hơn.
>>> NX chung: Có thể nói mỗi con người xuất hiện trong câu truyện đều có một cảnh ngộ riêng nhưng đều
mang một đặc điểm chung là tất cả đều sống trong mòn mỏi, buồn chán, bế tắc, không một chút hi vọng gì
về cuộc sống hạnh phúc, tươi sáng hơn nhưng điều quan trọng nhất là tất cả những mảnh đời ấy, cảnh ngộ
ấy đã hiện lên qua cái nhìn bùi ngùi, thương cảm của nhà văn. Tất cả được thể hiện rất rõ qua cách hành
văn, qua những chi tiết tưởng như ngẫu nhiên: mùi vị của đất, cảnh chợ tàn, hai đứa trẻ nghĩ đến bát phở…
đặc biệt là chi tiết ánh đèn leo lét nơi ngọn đèn hàng nước của chị Tí cứ láy đi láy lại (xuất hiện 7 lần trong
tác phẩm) tạo ra ở người đọc nỗi thương cảm trong khi đó hiện tại là một màn đêm dày đặc đầy bóng tối.
Kết thúc tác phẩm, hình ảnh ngọn đèn ấy gây một ấn tượng day dứt cuối cùng đi vào giấc ngủ của chị em
Liên: “Liên thấy mình sống giữa bao sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một
vùng đất nhỏ”.
2. Nhịp sống ở phố huyện nghèo trong câu truyện cứ lặp đi lặp lại một cách quẩn quanh đơn điệu, tẻ
nhạt và tù túng:
- Chị em Liên chiều nào cũng ngồi đếm tiền dù họ chẳng bán được bao nhiêu, ngày nào cũng ngồi trên
chiếc chõng sắp tàn và đêm nào cũng kiên nhẫn thức chờ đợi để được nhìn tàu từ Hà Nội về.
- Mẹ con chị Tí dù chẳng kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào cũng dọn hàng
- Gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách
nghe thì thỉnh thoảng góp chuyện bằng tiếng đàn bầu bật trong yên lặng.
+ Cảnh sống của họ thật bấp bênh, bế tắc. Chừng ấy người trong bóng tối ngày này qua ngày khác cứ sống
trong sự quẩn quanh, tẻ nhạt ấy. Đó là lối sống mà Xuân Diệu từng viết: “Hết cơm mai rồi lại cơm chiều”.
+ Đó là cuộc sống của những con người trong ao đời bế tắc, tù túng nhưng cũng chính đó lại là lí do thức
đợi tàu của bằng ấy mảnh đời nơi phố huyện nghèo bởi chuyến tàu đêm từ Hà Nội về như đem đến cho họ
một thế giới khác hẳn. Đó là hình ảnh của một cuộc sống có ánh sáng, hạnh phúc hơn mà bằng ấy con
người trong đêm tối mong ước, hi vọng và hướng tới. Qua đó ta thấy được cái nhìn đầy cảm thông, trân
trọng với những khát vọng, ước mơ đổi đời của những mảnh đời nghèo khổ, lam lũ trong phố huyện nghèo
mặc dù hi vọng đó chỉ mong manh mơ hồ như chuyến tàu vụt qua. Nó quá xa vời, vô vọng như ánh sao trên

khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”.
- Dù sống trong nghèo khổ, lam lũ, hai đứa trẻ vẫn thiết tha ngắm sao và tìm sông Ngân Hà và con vịt theo
sau ông thần Nông, ngắm những đợt hoa bàng khẽ rơi khe khẽ, vệt sáng của những con đom đóm bay là là
trên mặt đất hay len vào những cành cây.
>>> Đó là những hình ảnh của quê hương, đất nước rất thân thuộc quanh ta nhưng qua cách hành văn nhẹ
nhàng, dịu dàng đầy chất thơ đã trở nên gợi cảm biết bao. Từ đó nhà văn bồi đắp cho người đọc tình yêu
quê hương đất nước.
- Đặc điểm của truyện: “Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn đơn giản hầu như không có chuyện.
+ Rất khó tìm được ở đây những sự kiện mang tính chất kịch, bi hài như sáng tác của Nguyễn Công
Hoan, những cuộc vật lộn, đau đớn, giằng xé về mặt nội tâm như những trang văn của Nam Cao.
+ Đọc truyện Thạch Lam, người ta chỉ cảm nhận bằng tâm hồn, bằng tất cả các giác quan, chứ ít khi
có thể tóm tắt mạch lạc toàn bộ diễn biến của cốt chuyện.
+ Truyện chỉ kể lại hình ảnh hai đứa trẻ ngồi trên chiếc chõng nát ngắm nhìn phố xá chìm dần vào
đêm tối, tuy “đã buồn ngủ ríu cả mắt” nhưng vẫn cố thức để đợi chuyến tàu đêm đấy ánh sáng vụt
qua rồi mới khép cửa hàng đi ngủ.
+ Câu chuyện đơn sơ như vậy sẽ làm thất vọng cho những ai muốn đi tìm cốt chuyện giàu kịch tính
với những chi tiết li kì, lắt léo. Tuy nhiên, dưới ngòi bút Thạch Lam, “Hai đứa trẻ” không hề nhạt nhẽo,
trái lại rất ám ảnh, thấm thía, đầy dư vị với cảm xúc buồn thương và giọng thủ thỉ trầm lắng, thiết
tha.
- Tác phẩm mở đầu bằng một bức tranh chiều quê phố huyện sinh động như một bài thơ về quê
hương quen thuộc mà rất thi vị:
+ “Chiều, chiều rồi! Một chiều êm ả như ru”. Lời văn rất nhẹ nhàng, nhịp văn êm ái đã đưa con người
vào thế giới thanh bình của cảnh vật.
+ Ngòi bút tinh tế và tạo hình của Thạch Lam chỉ chấm phá vài nét mà đã vẽ được một bức tranh rất
sinh động với đủ đường nét, màu sắc, âm thanh, hương vị:
. “phương Tây đỏ rực…và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mắt
đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”.
. Giữa những hình ảnh sinh động của cảnh vật vang lên âm thanh “tiếng trống thu không” gọi buổi
chiều xen lẫn với tiếng “ếch nhái kêu ran ngoài đồng theo làn gió nhẹ đưa vào”, “muỗi bắt đầu vo
ve”.

bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía…”.
+ Không khí náo nhiệt, nhộn nhịp người mua kẻ bán đã lắng xuống, chỉ còn lại sự trống vắng quạnh
hiu. Có gì vui hơn là cảnh chợ đông, có gì buồn hơn là cảnh chợ tàn: Khung cảnh “Chợ tết” trong thơ
Đoàn Văn Cừ náo nhiệt là thế mà cũng không cứu vãn được cảnh tàn tạ, hiu hắt, khi “Những người
quê lũ lượt trở ra về":
"Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ”
- Giữa khung cảnh chợ tàn ấy, tâm hồn nhạy cảm của Liên đã nhận ra thứ mùi vị rất riêng của xứ sở.
“Cái mùi cát bụi quen thuộc quá” mà Liên tưởng “là mùi riêng của đất, của quê hương này” chính là
mùi vị quen thuộc của nghèo khổ, lầm than, bế tắc.
Hiện thực cuộc sống trong tác phẩm của Thạch Lam không phải là sự cày xới ngổn ngang những
mảnh đời đau thương, bi đát, quằn quại như cuộc đời nhân vật của Nam Cao, Ngô Tất Tố… Hiện thực
trong tác phẩm của Thạch Lam được thể hiện qua những chi tiết bình thường, giản dị như trên nhưng
lại có sức ám ảnh đặc biệt cho tâm hồn người đọc.
c. Bức tranh về kiếp người tàn.
Đi liền với hình ảnh chiều tàn, chợ tàn là hình ảnh những kiếp người tàn như là linh hồn, là đỉnh cao
cảnh quan bức tranh chân thực về đời sống ở phố huyện nghèo. Trong khung cảnh chiều tàn, phố
huyện tiêu điều sau phiên chợ vãn người, cuộc sống sinh hoạt vất vả, đơn điệu của những người dân
nghèo khổ lam lũ hiện lên đáng thương biết bao.
- Đó là mấy đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi “chúng nhặt
nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ thứ gì có thể dùng được của người bán hàng để lại”.
Hình ảnh những đứa trẻ con ngây thơ cúi đầu tìm kiếm những vật dụng nhỏ nhoi vô nghĩa lý đem lại
cho người đọc cảm nhận: dường như gánh nặng cuộc đời cũng đang đè nặng lên đôi vai chúng. Cái
vô tư, hồn nhiên, tinh nghịch vốn có ở những đứa trẻ đã sớm mất đi bởi đời sống khốn khổ, tàn tạ nơi
phố huyện.
- Đó là chị Tý: “Ban ngày chị đi mò cua bắt tép, tối đến chị mới dọn cái hàng nước”.
Cái cửa hàng của chị cũng nghèo nàn như cuộc đời của chị. Nó chỉ là một cái chõng tre, một ít đồ đạc
điếu đóm, tất thảy vừa đủ một chuyến đội đầu, xách tay của chị và thằng cu bé “chả kiếm được bao
nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng từ chập tối cho đến đêm”.
- Cùng với số phận của chị Tý là số phận của bác phở Siêu với gánh hàng phở leo lét ánh lửa.

đêm sáng ra, mà trái lại càng khiến cho đêm tối thêm mịt mùng dày đặc.
b. Một nhịp sống quẩn quanh, đơn điệu, bế tắc:
- Trong bóng tối ấy là những cuộc đời bóng tối quẩn quanh, bế tắc.
- Hình ảnh ngọn đèn con của chị Tý chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần
là một hình ảnh có sức gợi tả đặc biệt.
Hình ảnh ấy có ý nghĩa như một biểu tượng về kiếp người nhỏ bé, vô danh, vô nghĩa, sống leo lắt
trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ không có hạnh phúc, không có tương lai.
Hình ảnh ấy cũng gợi về nhịp sống lặp đi lặp lại một cách uể oải, đơn điệu, buồn chán, bế tắc ngày
này sang ngày khác không có gì thay đổi.
Đúng như Tố Hữu đã viết:
“Giữa dòng ngày tháng âm u đó
Không đổi nhưng mà trôi cứ trôi”
- Những người dân nghèo khổ trong cảnh ấy vẫn mơ hồ bâng quơ “mong đợi cái gì đó tươi sáng cho
sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”.
“Một cái gì đó” là cái gì vậy? Rất mông lung, mơ hồ, điều đó càng nói lên tình cảnh tội nghiệp của
những người sống mà không biết cuộc sống của mình ra sao
=> Thạch Lam là một nhà văn lãng mạn nhưng có nhiều trang rất hiện thực. Bức tranh đời sống
nghèo nói trên là một trong những trang tiêu biểu nhất. Nó đã nói lên được một cách thấm thía và ám
ảnh tình trạng cuộc sống âm u, mòn mỏi, bế tắc của người dân nghèo, đồng thời bày tỏ tấm lòng xót
thương bao la của tác giả đối với những kiếp người sống “tù mù” ấy (chữ dùng của Nguyễn Tuân)
4. Đó là nguyên nhân nảy sinh tâm trạng của Liên, đặc biệt là tâm trạng chờ đợi tàu:
Chính số phận quẩn quanh, bế tắc của những kiếp người tàn, bức tranh của ngày tàn đã như thấm
thía vào tâm hồn ngây thơ của Liên, gây cho Liên một nỗi buồn man mác.
a. Liên hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ tươi sáng trước đây ở Hà Nội .
- Liên và An ngửi thấy mùi phở thơm và nhớ lại khi ở Hà Nội “chị được hưởng những thứ quà ngon lạ
như thế… được đi chơi Bờ Hồ, uống những cốc nước lạnh xanh đỏ”.
- Liên bâng khuâng nhớ về “Hà Nội nhiều đèn quá, tạo nên một vùng sáng rực và lấp lánh”. Nhưng
giờ đây, ánh sáng ấy chỉ là bóng mờ kí ức trong đêm.
b. Liên chờ đợi tàu - hướng về tương lai , khao khát sự đổi thay.
- Và trong bối cảnh của bức tranh phố huyện tối tăm, tù túng, vốn là người có trái tim rất nhạy cảm

khao khát được thoát ra khỏi cuộc sống tăm tối, tù đọng, mòn mỏi đang muốn chôn vùi họ.
Phải có sự thức tỉnh của “cái tôi” cá nhân mới có được niềm xót thương và sự lay tỉnh đáng quý ấy.
- Ở truyện này, Thạch Lam đã đặt tất cả trong một cái nhìn già dặn trước tuổi trong đôi mắt trẻ thơ.
Điều ấy dường như từ tác phẩm đã vút lên tiếng kêu hãy cứu lấy những đứa trẻ; trả lại cho chúng sự
hồn nhiên, vô tư vốn có, đừng biến chúng trở thành những kiếp người tàn.
III. Kết bài:
- Nhà văn Nguyễn Tuân đã có một lời nhận xét rất độc đáo “Hai đứa trẻ” có một hương vị thật man
mác. Nó gợi một nỗi niềm thuộc về quá vãng, đồng thời cũng dóng lên một cái gì còn ở trong tương
lai
- Nơi cái thế giới của đôi trẻ ở một phố quê, hình ảnh đoàn tàu và cái tiếng còi tàu đã trở thành thói
quen của cảm xúc và ước vọng.
- “Đọc “Hai đứa trẻ”, thấy bận bịu vô hạn, về một tấm lòng quê hương êm mát và sâu kín”. Nói theo
lời Nguyễn Tuân, ta có thể thêm: đọc tác phẩm Thạch Lam, thấy bận bịu vô hạn về một ước mơ, một
khát vọng tràn đầy tinh thần nhân văn, nhân bản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status