Trọng tài phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế giữa các doanh nghiệp thực trạng và giải pháp ở việt nam - Pdf 14


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Tên đề tài:

TRỌNG TÀI – PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Ở VIỆT NAM


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi chúng ta thực hiện mở cửa nền kinh tế đến nay, Việt Nam đã
đạt đƣợc những thành tựu to lớn mang tính chất bƣớc ngoặt. Trong xu thế
toàn cầu hóa hiện nay, bất cứ một quốc gia nào đứng riêng lẻ cũng không thể
tồn tại đƣợc. Chính từ nhận định này mà Đảng và nƣớc ta đang hết sức nỗ lực
xây dựng nền kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế mở, hội nhập với các
nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ
chức kinh tế khu vực, đã tham gia ký kết nhiều hiệp định hợp tác phát triển
kinh tế song phƣơng và đa phƣơng. Trong quá trình hội nhập, thành tích lớn
nhất mà Việt Nam đạt đƣợc là việc trở thành thành viên của WTO vào ngày
07/11/2006 vừa qua.
Trong quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại, tranh chấp là điều khó tránh
khỏi. Có thể dễ dàng giải thích điều này do các bên có sự khác biệt nhau về
ngôn ngữ, văn hóa, tập quán, trình độ, quyền và lợi ích; đó là còn chƣa nói

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận giới hạn chỉ ở việc giải quyết các
tranh chấp phát sinh trong kinh doanh quốc tế giữa các thƣơng nhân với nhau,
không nghiên cứu việc giải quyết tranh chấp giữa các nhà nƣớc. Thực tiễn
giải quyết tranh chấp ở Việt Nam bằng trọng tài chủ yếu là xem xét thực tiễn
giải quyết tranh chấp của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh
Phòng thƣơng mại và Công nghiệp Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu của khóa luận chủ yếu là phƣơng pháp tổng
hợp, phân tích, diễn giải, quy nạp, thống kê, so sánh, kết hợp nghiên cứu tài
liệu với tình hình thực tế ở mức độ cho phép.
5. Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về trọng tài và giải quyết tranh chấp trong
kinh doanh quốc tế bằng trọng tài
Chƣơng 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam
Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng giải quyết
tranh chấp trong kinh doanh quốc tế bằng trọng tài trong thời gian tới
Tôi xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo Khoa Kinh tế ngoại thƣơng
đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học đại học và quá trình nghiên
cứu khóa luận vừa qua.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn của mình tới GS.,TS. Nguyễn Thị Mơ -
ngƣời đã định hƣớng và hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa
luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn VIAC đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình tìm kiếm tài liệu để viết khóa luận.

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRỌNG TÀI
VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
1. Tranh chấp là gì ?
Trong nền kinh tế thị trƣờng, các nhà kinh doanh có quan hệ kinh tế
thƣơng mại rất chặt chẽ và khăng khít với nhau. Họ đều muốn xây dựng lòng
tin, duy trì các mối quan hệ kinh tế, thƣơng mại với các đối tác lâu dài nhằm
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh, thƣơng mại của họ đƣợc ổn định và phát
triển. Tuy nhiên, đôi khi, vì nhiều lí do chủ quan và khách quan khác nhau,
các mối quan hệ kinh tế, thƣơng mại giữa các nhà kinh doanh cũng có những
bất đồng và mâu thuẫn, dẫn đến các tranh chấp kinh tế, thƣơng mại.
Để hiểu thế nào là tranh chấp kinh tế, thƣơng mại cần phải hiểu rõ khái
niệm tranh chấp. Tranh chấp là sự xung đột, mâu thuẫn, tranh giành quyền lợi
giữa hai hay nhiều chủ thể tham gia vào một quan hệ pháp luật mà trong quá
trình tranh giành đó, ai cũng cho rằng mình là đúng, lợi ích của mình cần
đƣợc bảo vệ.
Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ do pháp luật điều chỉnh,
những mâu thuẫn, bất đồng giữa họ thƣờng phát sinh từ, hoặc có liên quan
đến việc thực hiện nghĩa vụ của một bên, khi mà bên kia, hoặc cho rằng mình
có quyền yêu cầu bên này phải làm một nghĩa vụ để tạo ra một lợi ích cho
mình, hoặc cho rằng những thiệt hại mà mình phải gánh chịu là do lỗi của bên
này trong khi bên này lại không cho là nhƣ vậy.
Tranh chấp xảy ra trong mọi mối quan hệ xã hội. Tranh chấp là một
hiện tƣợng khách quan, nó tồn tại ngoài ý thức của các chủ thể. Xã hội ngày
càng phát triển, mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, do đó, tranh chấp
phát sinh cũng ngày càng nhiều và phức tạp. Có thể nói, tranh chấp gắn với


dịch vụ), TRIPS (các khía cạnh thƣơng mại liên quan đến sở hữu trí tuệ),
TRIMS (các khía cạnh thƣơng mại liên quan đến đầu tƣ).
Ở Việt Nam, khái niệm hoạt động thƣơng mại cũng đƣợc hiểu khác
nhau theo từng thời kỳ. Nói cách khác, khái niệm này đƣợc xem xét ở trạng
thái động, đƣợc hiểu theo nghĩa ngày càng rộng hơn. Luật Thƣơng mại Việt
Nam năm 1997 quy định: “hoạt động thƣơng mại là việc thực hiện một hay
nhiều hành vi thƣơng mại của thƣơng nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ thƣơng mại và các hoạt động xúc tiến thƣơng mại khác
nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế, xã
hội. Dịch vụ thƣơng mại gồm những dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa.
Xúc tiến thƣơng mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán
hàng hóa và cung ứng dịch vụ thƣơng mại” (Điều 5 Khoản 2). Đây là một
khái niệm về hoạt động thƣơng mại hẹp. Nằm trong phạm vi đƣợc coi là hoạt
động thƣơng mại, đƣợc Luật Thƣơng mại năm 1997 điều chỉnh chỉ bao gồm
14 hành vi. Đến năm 2005, Luật Thƣơng mại của Việt Nam đã mở rộng hơn
nội hàm của khái niệm hoạt động thƣơng mại bằng quy định: “hoạt động
thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục
địch sinh lợi khác” (Điều 3 Khoản 1). Đây là một sự đổi mới vƣợt bậc trong
cách hiểu về khái niệm hoạt động thƣơng mại, phù hợp với cách hiểu của
Luật mẫu UNCITRAL: “Khái niệm thƣơng mại cần phải đƣợc giải thích theo
nghĩa rộng, bao gồm các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất
thƣơng mại, dù có hợp đồng hay không có hợp đồng. Quan hệ có bản chất
thƣơng mại bao hàm nhƣng không chỉ giới hạn đối với các giao dịch sau đây:
bất kỳ giao dịch buôn bán nào nhằm cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hay dịch
vụ, hợp đồng phân phối đại diện thƣơng mại hay đại lý, các công việc sản
xuất, thuê máy móc thiết bị, xây dựng, tƣ vấn thiết kế cơ khí, li-xăng, đầu tƣ,
ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các hợp đồng khai thác hoặc chuyển nhƣợng,
các quốc gia với nhau và nhóm quan hệ xã hội phát sinh giữa các doanh
nghiệp với nhau. Tranh chấp thƣơng mại quốc tế là những tranh chấp phát
sinh giữa các quốc gia với nhau khi các quốc gia tiến hành hoạt động thƣơng
mại ở phạm vi quốc tế, còn tranh chấp trong kinh doanh quốc tế là những
tranh chấp phát sinh giữa các doanh nghiệp, các công ty ở các nƣớc khác nhau
với nhau khi các doanh nghiệp, công ty này thực hiện các hoạt động kinh
doanh, thƣơng mại.
4. Tranh chấp trong kinh doanh quốc tế là tranh chấp chủ yếu liên quan
đến hoạt động của các thƣơng nhân trong thƣơng mại quốc tế.
Thƣơng nhân là một khái niệm khá quen thuộc trong pháp luật thƣơng
mại của các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng nhƣng lại còn rất xa lạ đối với
những nƣớc có nền kinh tế kế hoạch hóa, bao cấp.
Ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển, đặc biệt là ở Mỹ, Pháp,
Đức thƣơng nhân là một thuật ngữ, một từ dùng để chỉ những ngƣời mà
hoạt động của họ mang hai đặc điểm. Thứ nhất, ký kết các hợp đồng thƣơng
mại và tiến hành các hoạt động kinh doanh khác một cách thƣờng xuyên
nhằm mục đích thu lợi nhuận. Thứ hai, nhân danh bản thân mình để thực hiện
các hoạt động kinh doanh đó, nghĩa là, thƣơng nhân là những ngƣời hoạt động
kinh doanh độc lập.
Việc đƣa ra khái niệm thƣơng nhân là rất quan trọng bởi thƣơng nhân
sẽ chịu quy chế quản lý riêng. Quy chế quản lý thƣơng nhân đƣợc đƣa ra
nhằm tạo điều kiện cho thƣơng nhân hoạt động thuận lợi hơn, đồng thời cũng
đƣa ra những điều kiện ràng buộc thƣơng nhân, bảo vệ những ngƣời không
phải là thƣơng nhân.
Thƣơng nhân có thể là cá nhân hoặc tập thể. Trong một số trƣờng hợp
Nhà nƣớc cũng đƣợc coi là một thƣơng nhân đặc biệt. Các thƣơng nhân là cá nhân chính là các tự nhiên nhân hay còn gọi là các
thể nhân mà với tƣ cách là chủ sở hữu một xí nghiệp, hoạt động nhƣ các nhà

hiện các hợp đồng thƣơng mại đó là nghề nghiệp thƣờng xuyên của mình. Từ
khái niệm trên luật Thƣơng mại Pháp đƣa ra 3 tiêu chuẩn:
 Thực hiện các hành vi, các hoạt động thƣơng mại
 Nhân danh bản thân mình để thực hiện các hành vi thƣơng mại
đó, với tƣ cách là một ngƣời độc lập
 Coi đó là nghề nghiệp thƣờng xuyên của mình
Từ 3 tiêu chuẩn này, Bộ luật Thƣơng mại Pháp liệt kê ra một danh mục
dài những hành vi đƣợc coi là hành vi thƣơng mại. Cũng từ 3 tiêu chuẩn trên,
luật Thƣơng mại Pháp không thừa nhận những ngƣời làm một số nghề nhất
định là thƣơng nhân.
Luật Thƣơng mại Việt Nam năm 2005 quy định “thƣơng nhân bao gồm
tổ chức kinh tế đƣợc thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thƣơng mại một
cách độc lập, thƣờng xuyên và có đăng ký kinh doanh”, trong đó hoạt động
thƣơng mại đƣợc hiểu là “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác”.
II. CÁC PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
QUỐC TẾ
1. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế
thƣờng gặp Trong hoạt động kinh doanh quốc tế, khi tranh chấp xảy ra các bên
thƣờng sử dụng một hoặc kết hợp các phƣơng thức giải quyết sau: thƣơng
lƣợng trực tiếp giữa các bên, qua trung gian, thông qua hòa giải viên, thông
qua bộ máy tƣ pháp - kiện ra tòa án hoặc trọng tài.
1.1. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng trực tiếp giữa các bên
Thƣơng lƣợng là một phƣơng thức giải quyết tranh chấp theo đó các
bên đang tranh chấp với nhau sẽ trực tiếp thƣơng lƣợng để giải quyết tranh
chấp. Nếu thƣơng lƣợng thành công thì đồng nghĩa với việc giải quyết đƣợc

vệ quyền lợi cho bên khiếu nại, góp phần đảm bảo cho quá trình kinh doanh
bình thƣờng của các nhà kinh doanh quốc tế. Mặt khác, thông qua khiếu nại
và giải quyết khiếu nại có thể đánh giá đƣợc sự thiện chí, uy tín của đối
phƣơng, từ đó đƣa ra quyết định về giao dịch sau này giữa hai bên.
1.2. Giải quyết tranh chấp qua khâu trung gian
Giải quyết tranh chấp qua khâu trung gian là việc các bên thống nhất
chọn ra một ngƣời thứ ba - ngƣời trung gian (thƣờng là các chuyên gia, những
ngƣời có kiến thức, am hiểu, cả hai bên đều biết) có chức năng nhƣ một nhà
ngoại giao con thoi với nhiệm vụ tìm ra điểm tới hạn mà hai bên tham gia
trong vụ tranh chấp đều có thể chấp nhận đƣợc. Ở đây không có sự gặp gỡ tay
ba giữa các bên và ngƣời trung gian - ngƣời thứ ba mà ngƣời thứ ba sẽ họp
với từng bên, lắng nghe và phân tích cho các bên để các bên có thể đi đến một
điểm nút chung mà các bên chấp nhận để giải quyết tranh chấp.
1.3. Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế bằng hòa giải
Hòa giải là phƣơng pháp giải quyết tranh chấp giữa các bên đƣơng sự
thông qua ngƣời thứ ba gọi là hòa giải viên. Khi có tranh chấp phát sinh mà chƣa thƣơng lƣợng hoặc thƣơng lƣợng
không đƣợc thì bất kỳ bên nào cũng có quyền đề nghị giải quyết tranh chấp
bằng hòa giải và giới thiệu hòa giải viên. Nếu bên kia đồng ý thì hai bên cùng
chọn hòa giải viên. Hòa giải viên đƣợc các bên chọn ra sẽ điều khiển quá trình
hòa giải. Hòa giải có thể đƣợc tiến hành bằng hai cách: Một là, các bên tự
thỏa thuận với nhau về hòa giải, cùng nhau chỉ định hòa giải viên và tiến hành
hòa giải không bắt buộc phải tuân theo nguyên tắc hòa giải nào. Hai là, các
bên thỏa thuận hòa giải theo quy tắc hòa giải của tổ chức nghề nghiệp hoặc tổ
chức trọng tài nào đó, ví dụ, hai bên có thể thỏa thuận tranh chấp sẽ đƣợc hòa
giải theo quy tắc hòa giải của Phòng Thƣơng mại Quốc tế ICC.
Hòa giải là không bắt buộc và các bên có thể bỏ qua bƣớc hòa giải và
đƣa ngay tranh chấp ra tòa án hay trọng tài thƣơng mại giải quyết. Nhƣng nếu

Tòa án là bộ máy tƣ pháp, là công cụ của Nhà nƣớc, là công cụ của cơ quan
công quyền. Vì vậy, đối với các tranh chấp liên quan đến thƣơng nhân của hai
nƣớc khác nhau, việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án mang màu sắc chính
trị, tòa án nƣớc nào cũng sẽ bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nƣớc,
công dân của nƣớc đó.
Tòa án của bất kỳ nƣớc nào cũng chỉ tuân thủ luật tố tụng của nƣớc
mình, nghĩa là nhận đơn kiện, chuẩn bị xét xử, tiến hành xét xử theo đúng luật
tố tụng của nƣớc tòa án. Còn khi giải quyết tranh chấp, tòa án phải áp dụng
luật thực chất điều chỉnh hợp đồng.
Tòa án xét xử theo nguyên tắc công khai và xét xử theo hai cấp: sơ
thẩm và phúc thẩm.
Tại phiên họp xét xử, bên nguyên và bên bị phải có mặt để bảo vệ
quyền lợi của mình. Bên bị có quyền nhờ luật sƣ bào chữa. Nếu bên thua kiện không đồng ý với bản án của tòa án thì có quyền kháng cáo lên tòa án cấp trên
theo thủ tục phúc thẩm.
Theo nguyên tắc công khai, khi một vụ tranh chấp đƣợc đƣa ra xét xử,
không chỉ có các bên tranh chấp, các thành phần liên quan đƣợc mời mà bất
cứ ai muốn tham gia phiên xét xử cũng đƣợc, ngoại trừ những vụ liên quan
đến bí mật quốc gia, an ninh quốc phòng thì phải xét xử kín. Trong trƣờng
hợp này phải có ý kiến của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền.
Phán quyết của tòa án tại nƣớc sở tại có tính cƣỡng chế cao do tòa án
có cơ quan cƣỡng chế thi hành. Việc thi hành phán quyết của tòa án nƣớc
ngoài lại liên quan đến tính hiệu lực của phán quyết của toà án. Việc cƣỡng
chế thi hành án là rất khó khăn vì phán quyết của tòa án chỉ có hiệu lực trong
quốc gia. Nếu muốn có hiệu lực ở ngoài thì phải tuân theo trật tự thi hành án
của tòa án nƣớc sở tại.
Một số nƣớc nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan giao việc xét xử các tranh
chấp thƣơng mại cho tòa án thƣờng, còn lại đa số các nƣớc thành lập tòa án

phần tiếp theo.
III. TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI – PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ ĐƢỢC ƢA CHUỘNG
1. Khái niệm về trọng tài thƣơng mại
Trọng tài là quyền quyết định của một ngƣời thứ ba đối với một tranh
chấp phát sinh. Trọng tài khác với trung gian và hoà giải ở chỗ trọng tài đƣa
ra phán quyết. Trọng tài là một định chế cử một tƣ nhân giải quyết sự bất hoà
cho hai bên nguyên bị trong một vụ tranh chấp. Nhƣ vậy, đặc điểm của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là: trọng tài là
một cá nhân - ngƣời ngoài toà án, đƣợc các bên thoả thuận lựa chọn, có thẩm
quyền giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh giữa các bên đƣơng sự với nhau.
Nhƣ vậy, có thể hiểu trọng tài nhƣ sau: Trọng tài là một phƣơng thức
giải quyết tranh chấp mà theo đó hai hay nhiều bên tranh chấp giao cho một
bên thứ ba đứng ra phân xử vụ tranh chấp và phán quyết của bên thứ ba này
có giá trị chung thẩm đối với các bên đƣơng sự.
Trọng tài thƣơng mại là trọng tài có thẩm quyền xét xử các vụ tranh
chấp trong lĩnh vực thƣơng mại.
2. Thẩm quyền xét xử của trọng tài thƣơng mại
Trong nền kinh tế thị trƣờng, việc lựa chọn các phƣơng thức giải quyết
tranh chấp kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của các bên đƣơng sự. Trọng
tài là một trong các phƣơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế trong nền kinh
tế thị trƣờng, vì vậy, bất cứ một tranh chấp nào cũng có thể đƣợc đƣa đến
trọng tài nếu nhƣ có thỏa thuận của các bên. Cũng giống nhƣ tòa án, trọng tài
không có thẩm quyền đƣơng nhiên đối với một vụ tranh chấp cụ thể trong
kinh doanh quốc tế. Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử nếu giữa các bên
trong vụ tranh chấp có tồn tại một thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài là
thỏa thuận theo đó các bên đƣơng sự nhất trí giao vụ tranh chấp đã hoặc sẽ
phát sinh có liên quan đến hợp đồng cho một loại trọng tài cụ thể nào đó giải

đƣờng trọng tài thì các bên phải có nghĩa vụ thực hiện thỏa thuận đó. Khi một
trong các bên không thực hiện nghĩa vụ này thì bên kia có quyền yêu cầu tòa
án giúp đỡ để buộc bên cùng thỏa thuận với mình phải chấp hành thỏa thuận
trọng tài. Trong mọi trƣờng hợp, các bên không thể đƣa ngay vụ việc ra tòa án giải quyết nếu vẫn đang tồn tại một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực. Các bên
chỉ có thể đƣa vụ tranh chấp ra giải quyết tại tòa án khi không còn tồn tại một
thỏa thuận trọng tài bởi quyết định hủy bỏ của tòa án hoặc trong trƣờng hợp
cả hai bên cùng không chấp nhận thỏa thuận trọng tài.
Trên thực tế, nhiều quốc gia trên thế giới rất chú trọng đến việc công
nhận và có biện pháp bảo đảm hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài. Điều đó
cho phép đảm bảo trật tự và ổn định trong giải quyết tranh chấp, đảm bảo lợi
ích của các bên tham gia vào quan hệ kinh tế.
Nhƣ trên đã nói, thỏa thuận trọng tài thƣờng đƣợc thể hiện dƣới dạng
một điều khoản của hợp đồng. Tuy nhiên, không nên lẫn lộn giữa điều khoản
trọng tài và hợp đồng chính mà nó dẫn chiếu tới vì hai loại thỏa thuận này có
đối tƣợng pháp lý hoàn toàn khác nhau. Điều khoản trọng tài xác định thủ tục
tố tụng sẽ đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp có tranh chấp phát sinh giữa các
bên còn hợp đồng chính quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Quan
điểm chung của các nƣớc hiện nay là điều khoản trọng tài độc lập với hợp
đồng chính. Điều khoản trọng tài không bị tác động bởi những lý do vô hiệu
của hợp đồng chính. Tức là việc vô hiệu của hợp đồng chính không thể ảnh
hƣởng tới quá trình tố tụng của trọng tài. Quan điểm này đƣợc cụ thể hóa
trong nhiều văn bản luật về trọng tài, ví dụ nhƣ Khoản 1 Điều 16 Luật mẫu
của UNCITRAL quy định: “Quyết định của ủy ban trọng tài về hợp đồng vô
hiệu không làm cho điều khoản trọng tài bị vô hiệu một cách tƣơng ứng”.
Điều 11 Pháp lệnh trọng tài Thƣơng mại 2003 của Việt Nam quy định rằng:
“Điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn,
hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không ảnh hƣởng tới hiệu lực của

tắc xét xử của bất kỳ nƣớc nào, thủ tục giải quyết tranh chấp của trọng tài Ad-
hoc rất linh hoạt, do chính trọng tài viên đƣợc chọn ra quyết định căn cứ vào thực tiễn vụ tranh chấp. Trọng tài Ad-hoc thƣờng hoàn toàn là một quá trình
tƣ nhân nên do đó rất kín đáo và linh hoạt trong việc vận dụng quy tắc xét xử.
Thông thƣờng các bên sẽ thống nhất chọn ra một trọng tài viên duy nhất cho
nên hai bên dễ đi đến thỏa thuận chung hơn và chi phí cho trọng tài sẽ đỡ tốn
kém hơn. Tuy nhiên, khó khăn của trọng tài Ad-hoc là nó hoàn toàn phụ thuộc
vào sự hợp tác của hai bên vì nếu một bên cố tình không chấp nhận bất cứ
trọng tài viên duy nhất nào do phía bên kia đƣa ra sẽ khiến quá trình xét xử
gặp khó khăn và kéo dài. Chính vì vậy trọng tài Ad-hoc trên thực tế thƣờng
chỉ phù hợp với những tranh chấp giữa các bên đƣơng sự có am hiểu về pháp
luật, dày dặn trên thƣơng trƣờng và có kinh nghiệm tranh tụng.
Trọng tài Ad-hoc là loại hình có thể thích hợp ở những nƣớc có nền sản
xuất nhỏ, nhất là ở nƣớc ta, khi mà các quan hệ sản xuất nhỏ còn phổ biến,
các tranh chấp xảy ra thƣờng có giá trị không quá lớn. Hơn nữa do sự trải dài
ở những vùng lãnh thổ khác nhau và chính sách của nhà nƣớc về thành lập và
hoạt động của các tổ chức trọng tài, hầu hết các tổ chức trọng tài thƣờng trực
đều nằm ở cá thành phố lớn. Do vậy, việc quan tâm đến loại hình trọng tài
Ad-hoc, khai thác những ƣu điểm của bản thân loại hình này trong giải quyết
tranh chấp kinh tế là cần thiết. Mặt khác, dƣới góc độ truyền thống, trọng tài
Ad-hoc là loại hình gần gũi với truyền thống sinh hoạt văn hóa của dân tộc ta.
Bởi trong thực tế, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thƣờng gặp những
trƣờng hợp "trọng tài tự nguyện" để dàn xếp những vụ tranh chấp dân sự, kinh
tế nhỏ trong dân. Đây chính là nền tảng xã hội khiến trọng tài Ad-hoc cần
đƣợc duy trì và tiếp tục phát triển. Pháp lệnh trọng tài Thƣơng mại Việt Nam
có hiệu lực thi hành từ ngày 10/07/2003 đã đƣa ra quy định về loại hình trọng
tài này ở Điều 26, chính thức công nhận loại hình này và đồng thời cũng đã
đƣa ra đƣợc giải pháp đối với hạn chế nêu trên của trọng tài Ad-hoc.

Trọng tài thƣờng trực có thể đƣợc tổ chức dƣới dạng các trung tâm
trọng tài nằm bên cạnh Phòng thƣơng mại, hoặc dƣới dạng công ty, chịu sự
điều chỉnh của luật công ty hay dƣới dạng hiệp hội theo luật điều chỉnh về
hiệp hội
Về tên gọi, các tổ chức trọng tài thƣờng trực có thể có tên gọi khác
nhau và mỗi tên gọi thƣờng phản ánh đặc tính của tổ chức trọng tài đó. Chẳng
hạn "hiệp hội trọng tài", ví dụ "hiệp hội trọng tài Mỹ" phản ánh không chỉ tên
gọi mà còn mang ý nghĩa về tính chất tổ chức của hiệp hội khác với loại hình
công ty.
Các tổ chức trọng tài độc lập với nhau và không có quan hệ gì với nhau
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, không phụ thuộc vào nhau và
chúng đều bình đẳng trƣớc sự lựa chọn của các bên tranh chấp. Việc lựa chọn
tổ chức trọng tài nào cũng nhƣ trọng tài viên nào hoàn toàn phụ thuộc vào sự
lựa chọn của các bên.
Điểm thuận lợi của trọng tài quy chế là trọng tài quy chế có quy tắc xét
xử công khai. Các quy tắc này thƣờng đƣợc soạn thảo và sửa đổi bởi những
chuyên gia giàu kinh nghiệm nên nó đảm bảo tính đúng đắn và hợp lý. Việc
tập hợp các quy chế của trọng tài thƣờng trực tạo điều kiện thuận lợi cho các
bên cân nhắc trƣớc các vấn đề nhƣ chọn, cử, thay đổi, bãi miễn trọng tài viên,
vấn đề lệ phí Ngoài ra, điểm thuận lợi của trọng tài quy chế còn ở tính
chuyên nghiệp và không ngừng đƣợc đào tạo của các trọng tài viên của trung
tâm trọng tài.
Dƣới đây chúng ta tìm hiểu về một số tổ chức trọng tài thƣờng trực tiêu
biểu.
3.2.2 Một số tổ chức trọng tài tiêu biểu trên thế giới
3.2.2.1 Tòa án trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thƣơng mại Quốc tế ICC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status