Đồ án Xây dựng hệ thống bảo mật mạng VPN/IPSEC - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BỘ MÔN MẠNG VÀ TRUYỀN THÔNG


BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN CUỐI KÌ
ĐỀ TÀI:
BẢO VỆ HỆ THỐNG MẠNG BẰNG VPN\IPSEC
SVTH : NGÔ VĂN TỰ CƯƠNG
TRẦN QUỐC NHẬT TRUNG
LỚP : 12TLT.CNTT
GVHD : Ts. NGUYỄN TẤN KHÔI
Đà Nẵng, 5/2014
Mục Lục
Danh mục các hình
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thập kỷ qua, Internet đã phát triển bùng nổ với tốc độ chóng mặt trên toàn thế
giới cả về số lượng và về kĩ thuật. Và sự phát triển đó không có dấu hiệu sẽ dừng lại. Sự
phát triển không chỉ đơn giản là số lượng lớn thành viên mới kết nối vào hệ thống
Internet mỗi giờ mà còn là sự xâm nhập của nó vào các khía cạnh cuộc sống hiện đại, vào
các hoạt động thương mại với quy mô lớn nhỏ khác nhau…
Ban đầu, các tổ chức cơ quan sử dụng Internet để giới thiệu các sản phẩm và dịch
vụ bằng các website của mình. Cùng với thời gian, nó sẽ phát triển thành thương mại điện
tử, mọi hoạt động kinh doanh, các giao dịch được thực hiện qua mạng internet.
Bài toán đặt ra là làm thế nào để bảo vệ chống lại các cuộc tấn công trong quá trình
truyền qua mạng? Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu về bảo mật các dữ liệu qua mạng bằng
việc sử dụng IPSec.
Vấn đề phát sinh là tính bảo mật và hiệu quả kinh tế của việc truyền tải dữ liệu qua
mạng trung gian công cộng không an toàn như Internet. Để giải quyết vấn đề này, một
giải pháp đưa ra là mạng riêng ảo VPN kết hợp với giao thức bảo mật IPSEC. Chính điều
này là động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của VPN như ngày nay.

toàn thông tin giữa các tổ chức, công ty hoặc chi nhánh, văn phòng, người cung cấp hay
các đối tác kinh doanh trong môi trường truyền thông rộng lớn.
Như vậy đặc tính quan trọng nhất của VPN là có thể sử dụng được mạng công cộng
như Internet, mà vẫn đảm báo tính bảo mật và tiết kiệm chi phí.
1.2 Lịch sử phát triển của VPN
Sự xuất hiện mạng chuyên dùng ảo, còn gọi là mạng riêng ảo (VPN), bắt nguồn từ
yêu cầu của khách hàng (client), mong muốn có thể kết nối một cách có hiệu quả với các
tổng đài thuê bao (PBX) lại với nhau thông qua mạng diện rộng (WAN).
Trước kia, hệ thống điện thoại nhóm hoặc là mạng cục bộ (LAN) trước kia sử dụng
các đường thuê riêng cho việc tổ chức mạng chuyên dùng để thực hiện việc thông tin với
nhau.
Các mốc đánh dấu sự phát triển của VPN:
- Năm 1975, Franch Telecom đưa ra dịch vụ Colisee, cung cấp dịch vụ dây
chuyên dùng cho các khách hàng lớn. Colisee có thể cung cấp phương thức gọi số chuyên
dùng cho khách hàng. Dịch vụ này căn cứ vào lượng dịch vụ mà đưa ra cước phí và nhiều
tính năng quản lý khác.
- Năm 1985, Sprint đưa ra VPN, AT&T đưa ra dịch vụ VPN có tên riêng là
mạng được định nghĩa bằng phần mềm SDN.
- Năm 1986, Sprint đưa ra Vnet, Telefonica Tây Ban Nha đưa ra Ibercom.
- Năm 1988, nổ ra đại chiến cước phí dịch vụ VPN ở Mỹ, làm cho một số xí
nghiệp vừa và nhỏ chịu nổi cước phí sử dụng VPN và có thể tiết kiệm gần 30% chi phí, đã
kích thích sự phát triển nhanh chóng dịch vụ này tại Mỹ.
- Năm 1989, AT&T đưa ra dịch vụ quốc tế IVPN là GSDN.
- Năm 1990, MCI và Sprint đưa ra dịch vụ VPN quốc tế VPN; Telstra của Ô-
xtrây-li-a đưa ra dich vụ VPN rong nước đầu tiên ở khu vục châu Á – Thái Bình
Dương.
- Năm 1992, Viễn thông Hà Lan và Telia Thuỵ Điển thành lập công ty hợp tác đầu
tư Unisource, cung cấp dịch vụ VPN.
- Năm 1993, AT&T, KDD và viễn thông Singapo tuyên bố thành lập Liên minh toàn
cầu Worldparners, cung cấp hàng loạt dịch vụ quốc tế, trong đó có dịch vụ VPN.

thường được gọi là đường ống VPN (Tunnel).
Hình 1.3.1.1.1 Mô Hình Kết Nối VPN.
1.4 Các thành phần tạo nên VPN.
Để triển khai một hệ thống VPN bạn cần có một số thành phần cơ bản sau,
nhưng việc tạo ra hệ thống VPN thì mỗi người sẽ có một sự lựa chọn thành phần khác nhau
để phù hợp với công ty hay mục đích của mỗi người.
1.4.1 VPN client
Một khách hàng VPN có thể là một máy tính hoặc nó có thể là một bộ định tuyến.
Loại VPN khách hàng sử dụng cho mạng của công ty thực sự phụ thuộc vào nhu cầu cá
nhân của công ty đó.
Mặt khác, nếu công ty có một vài nhân viên những người đi du lịch thường xuyên và
cần phải truy cập vào mạng của công ty trên đường đi, bạn có thể sẽ được hưởng lợi từ
việc thiết lập máy tính xách tay của nhân viên như VPN khách hàng.
Về mặt kỹ thuật, bất kỳ hệ điều hành có thể hoạt động như một VPN khách hàng
miễn là nó hỗ trợ PPTP, L2TP, hoặc giao thức IPSec. Trong các hệ điều hành của
Microsoft, bạn có thể sử dụng 2000, và XP thậm chí là Window 7. Mặc dù tất cả các hệ
điều hành này về mặt kỹ thuật sẽ làm việc như khách hàng, nhưng tốt nhất vẫn là Windows
XP bởi vì nó khả năng hỗ trợ L2TP và IPSec và thông dụng.
1.4.2 VPN Server
Các máy chủ VPN hoạt động như một điểm kết nối cho các khách hàng VPN. Về
mặt kỹ thuật, chúng ta có thể sử dụng Windows NT Server 4.0, Windows 2000
Server, hoặc Windows Server 2003 hay Window Server 2008 như là một máy chủ VPN.
VPN Server khá đơn giản. Nó là một máy chủ cứng Windows Server 2008 chạy
Routing và Remote Access (RRAS). Khi một kết nối VPN đã được chứng thực, các máy
chủ VPN chỉ đơn giản là hoạt động như một bộ định tuyến cung cấp cho khách hàng VPN
có thể truy cập đến một mạng riêng.
1.4.3 IAS Server
Một trong những yêu cầu bổ sung cho một máy chủ VPN là cần có một máy chủ
RADIUS (Remote Authentication Dial In User Service). RADIUS là một server sử dụng
quay số xác thực từ xa. RADIUS là cơ chế mà các nhà cung cấp dịch cụ Internet thường sử

Mặc dù L2TP có vẻ là có lợi thế hơn so với PPTP, nhưng PPTP cũng có lợi thế riêng
đó là khả năng tương thích. PPTP hoạt động tốt với các hệ điều hành Windows hơn
L2TP.
1.4.6 Authentication Protocol
Trong quá trình thiết lập một VPN, chúng ta phải chọn một giao thức xác thực. Hầu
hết mọi người chọn MS-CHAP v2. MS-CHAP tương đối an toàn, và nó làm việc với
khách hàng VPN sử dụng hệ điều hành Windows. Lựa chọn tốt nhất là MS-CHAP.
1.5 Lợi ích và hạn chế của việc sử dụng VPN.
1.5.1 Lợi ích.
Việc sử dụng mạng riêng ảo là một nhu cầu và là xu thế của công nghệ truyền thông
bởi vì nó có một số ưu điểm như:
1. Giảm thiểu chi phí triển khai và duy trì hệ thống.
- Với VPN việc triển khai hệ thống đáp ứng đầy đủ nhu cầu truyền tải hay tính bảo mật
an toàn dữ liệu nhưng chi phí thì khá rẻ vì VPN giảm thiểu tối đa phí thuê đường truyền
dài thay vào đó là sự tận dụng lại hệ thống mạng Internet có sẵn.
- Phí duy trì hệ thống cũng là một vấn đề đáng quan tâm, với VPN phí duy trì rất rẻ, hơn
thế nữa bằng việc thuê hạ tầng có sẵn của các công ty dịch vụ Internet thì chi phí duy trì
sẽ không còn đáng lo ngại.
2. Cải thiện kết nối.
- Vượt qua bộ lọc chặn truy cập Web: VPN là một lựa chọn tốt để có thể vượt qua được
bộ lọc Internet, đây là lý do tại sao VPN được sử dụng nhiều tại một số nước có sự
kiểm duyệt Internet khắt khe.
- Việc thay đổi địa chỉ IP: Nếu muốn thay đổi IP khác thì VPN có thể giúp chúng
làm điều này việc này giúp ta có thể che dấu được địa chỉ của mình tránh được sự xâm
hại hay ý đồ xấu của những hacker (kẻ tấn công, tin tặc) bên ngoài mạng.
3. An toàn trong giao dịch.
- Việc trao đổi thông tin trong công việc là nhiều và liên tục, nhưng vấn đề bảo mật thông
tin thì cực kì quan trọng, với VPN chúng ta sẽ không phải lo lắng quá nhiều về việc đó,
VPN sử dụng cơ chế giấu đi, các dữ liệu sẽ được mã hóa và thông tin dữ liệu được bảo
bọc bởi gói tin Header (phần đầu gói tin ghi địa chỉ đầu - cuối của gói tin) và truyền đi

tính xách tay, máy tính riêng, khi đó nếu các máy tính của họ thực hiện hàng loạt các
ứng dụng khác, ngoài việc kết nối tới văn phòng làm việc thì hacker (kẻ tấn công, tin
tặc) có thể lợi dụng yếu điểm từ máy tính cá nhân của họ tấn công vào hệ thống của
công ty. Vì vậy việc bảo mật cá nhân luôn được các chuyên gia khuyến cáo phải đảm
bảo an toàn.
1.6 Đặc điểm của VPN.
Một số đặc điểm chính của VPN:
- Độ tin cậy (Confidentiality): Người gửi có thể mã hóa các gói dữ liệu trước khi
truyền chúng ngang qua mạng. Bằng cách đó, không ai có thể truy nhập thông tin mà
không được cho phép, nếu lấy được thông tin thì cũng không đọc được vì thông tin đã
được mã hóa.
- Tính toàn vẹn dữ liệu (Data Integrity): Người nhận có thể kiểm tra dữ liệu nhận
được sau khi truyền qua Internet có bị thay đổi hay không.
- Xác thực nguồn gốc (Origin Authentication): Khi nhận được dữ liệu điều đầu tiên
phải làm là xác thực ngồn gốc của dữ liệu, VPN cho phép người dùng xác thực thông
tin, nguồn gốc của dữ liệu.
1.7 Phân loại mạng VPN
Mục tiêu đặt ra đối với công nghệ mạng VPN là thoả mãn ba yêu cầu cơ bản
sau:
- Tại mọi thời điểm, các nhân viên của công ty có thể truy nhập từ xa hoặc di động vào
mạng nội bộ của công
ty.
- Nối liền các chi nhánh, văn phòng di động.
- Khả năng điều khiển được quyền truy nhập của khách hàng, các nhà cung cấp dịch vụ
hoặc các đối tượng bên ngoài khác.
Dựa vào những yêu cầu cơ bản trên, mạng riêng ảo VPN được phân làm ba loại:
- Mạng VPN truy nhập từ xa (Remote Access VPN)
- Mạng VPN cục bộ (Intranet VPN)
- Mạng VPN mở rộng (Extranet VPN)
1.7.1 Mạng VPN truy nhập từ xa (Remote Access VPN)

Các VPN mở rộng cung cấp một đường hầm bảo mật giữa các khách hàng, các nhà
cung cấp và các đối tác qua một cơ sở hạ tầng công cộng. Kiểu VPN này sử dụng các kết
nối luôn luôn được bảo mật và được cấu hình như một VPN Site–to–Site. Sự khác nhau
giữa một VPN cục bộ và một VPN mở rộng đó là sự truy cập mạng được công nhận ở một
trong hai đầu cuối của VPN.
Central site
or
POP
Remote site
Internet
Router
PIX Firewall
Văn phòng từ xa
Văn phòng trung tâm
Remote site
Văn phòng trung tâm
Business-to-business
Extranet
Intranet
Văn phòng ở xa
cable
DSL
Router
PIX Firewall
or
Central site
Internet
POP
DSL
a) Những ưu điểm chính của mạng VPN mở rộng:

cho gói tin IP, đưa ra chính sách bảo vệ chống lại các cuộc tấn công.
- Encapsulating Security (ESP): Cung cấp bảo mật, xác thực nguồn gốc dữ liệu, kết nối
toàn vẹn, kiểm soát các luồng dữ liệu một cách an toàn.
- Security Associations (SA): Cung cấp những thuật toán và thông số cần thiết để AH và
ESP hoạt động. Đưa ra một cách thức trao đổi khóa (ISAKMP- Internet Security
Association and Key Management Protocol) tính toán và cung cấp khóa chia sẻ (Pre-
shared keys) như: IKE(Internet Key Exchange), IKEv2, KINK (Kerberized Internet
Negotiation of Keys), hoặc IPSECKEY.
1 Sơ đồ các thành phần của IPSec và luồng dịch chuyển.
1.8.3 Giao thức PPTP, L2TP và SSTP.
1.8.3.1 Giao thức PPTP (Point-to-Point Tunneling Protocol).
PPTP là một phương thức của mạng riêng ảo, được phát triển bởi Microsoft kết hợp
với một số công ty khác, nó sử dụng một kênh điều khiển qua giao thức TCP và đường
hầm GRE để đóng gói các gói dữ liệu PPP (Point-to-Point). PPTP là một phần của các
tiêu chuẩn Internet Point-to-Point (PPP), PPTP sử dụng các loại xác thực như PPP (PAP,
SPAP, CHAP, MS-CHAP, và EAP).
PPTP thiết lập đường hầm nhưng không cung cấp mã hóa, nó mã hóa bằng cách
sử dụng giao thức Microsoft Point-to-Point Encrytion (MPPE) để tạo ra một VPN an
toàn. PPTP có chi phí tương đối thấp, điều này giải thích tại sao PPTP thường được sử
dụng nhiều bởi các khách hàng của Microsoft.
a) Nguyên tắc hoạt động của PPTP.
PPP là giao thức truy nhập vào Internet và các mạng IP phổ biến hiện nay. Nó làm
việc ở lớp liên kết dữ liệu trong mô hình OSI, PPP bao gồm các phương thức đóng gói,
tách gói IP, là truyền đi trên chỗ kết nối điểm tới điểm từ máy này sang máy khác.
PPTP đóng các gói tin và khung dữ liệu của giao thức PPP vào các gói tin IP để
truyền qua mạng IP. PPTP dùng kết nối TCP để khởi tạo và duy trì, kết thúc đường hầm và
dùng một gói định tuyến chung GRE để đóng gói các khung PPP. Phần còn lại của khung
PPP có thể được mã hoá và nén lại.
PPTP sử dụng PPP để thực hiện các chức năng thiết lập và kết thúc kết nối vật lý,
xác định người dùng, và thao tác các gói dữ liệu PPP.

thông tin quản lý thiết bị, thông tin cấu hình giữa hai đầu đường hầm.
Kênh điều khiển được yêu cầu cho việc thiết lập một đường hầm giữa các máy
khách và máy chủ PPTP. Máy chủ PPTP là một Server có sử dụng giao thức PPTP với
một giao diện được nối với Internet và một giao diện khác nối với Intranet, còn phần
mềm client có thể nằm ở máy người dùng từ xa hoặc tại các máy chủ ISP.
b) Nguyên tắc kết nối điều khiển đường hầm theo giao thức PPTP.
Kết nối điều khiển PPTP là kết nối giữa địa chỉ IP của máy khách PPTP và địa chỉ
máy chủ. Kết nối điều khiển PPTP mang theo các gói tin điều khiển và quản lý được sử
dụng để duy trì đường hầm PPTP. Các bản tin này bao gồm PPTP yêu cầu phản hồi và
PPTP đáp lại phải hồi định kì để phát hiện các lỗi kết nối giữa các máy trạm và máy chủ
PPTP. Các gói tin của kết nối điều khiển PPTP bao gồm tiêu đề IP, tiêu đề TCP và bản tin
điều khiển PPTP và tiêu đề, phần cuối của lớp liên kết dữ liệu.
a) Nguyên lý đóng gói dữ liệu đường hầm PPTP.
Đóng gói khung PPP và gói định tuyến chung GRE. Phần tải của khung PPP ban đầu
được mã hoá và đóng gói với tiêu đề PPP để tạo ra khung PPP. Khung PPP sau đó được
đóng gói với phần tiêu đề của phiên bản giao thức GRE sửa đổi. GRE là giao thức đóng gói
chung, cung cấp cơ chế đóng gói dữ liệu để định tuyến qua mạng IP. Đối với PPTP, phần
tiêu đề của GRE được sửa đổi một số điểm
đó là.
Một trường xác nhận dài 32 bits được
thêm vào. Một bits xác nhận được sử dụng để chỉ định sự có mặt của trường xác nhận 32
bits, trường Key được thay thế bằng trường độ dài Payload 16 bits và trường chỉ số cuộc
gọi 16 bits. Trường chỉ số cuộc gọi được thiết lập bởi máy trạm PPTP trong quá trình khởi
tạo đường hầm.
Đóng gói IP
Trong khi truyền tải phần tải PPP và các tiêu đề GRE sau đó được đóng gói
với một
tiêu đề IP chứa các thông tin địa chỉ nguồn và đích thích hợp cho máy trạm và máy chủ
PPTP.
Đóng gói lớp liên kết dữ liệu

c) Tính năng và hạn chế của PPTP.
 Tính năng :
- PPTP tạo ra nhiều kết nối giữa các khách hàng mà không yêu cầu dịch vụ đặc biệt ISP.
- PPTP phù hợp trên nhiều hệ điều hành thông dụng. (Microsoft, Nortel Network,
TeteSystems…).
- PPTP hỗ trợ các dịch vụ IP, mã hóa các gói tin RC4 (56 bit hoặc 128 bit), sử dụng
port 1723 và các giao thức GRE.
 Một số hạn chế:
Khó khăn lớn nhất gắn kèm với PPTP là cơ chế yếu kém về bảo mật do nó dùng
mã hóa đồng bộ trong khóa được xuất phát từ việc nó sử dụng mã hóa đối xứng là cách
tạo ra khóa từ mật khẩu của người dùng. Điều này càng nguy hiểm hơn vì mật khẩu
thường gửi dưới dạng phơi bày hoàn toàn trong quá trình xác nhận. Giao thức tạo
đường hầm kế tiếp (L2F) được phát triển nhằm cải thiện bảo mật với mục đích này.
1.8.4 Giao thức tỉnh đường hầm lớp 2 (Layer 2 Tunneling Protocol).
IETF đã kết hợp hai giao thức PPTP và L2F và phát triển thành L2TP. Nó kết hợp
những đặc điểm tốt nhất của PPTP và L2F. Vì vậy, L2TP cung cấp tính linh động, có thể
thay đổi, và hiệu quả chi phí cho giải pháp truy cập từ xa của L2F và khả năng kết nối điểm
điểm nhanh của PPTP.
Do đó L2TP là sự trộn lẫn cả hai đặc tính của PPTP và L2F, bao gồm:
- L2TP hỗ trợ đa giao thức và đa công nghệ mạng, như IP, ATM, FR, và PPP.
- L2TP không yêu cầu việc triển khai thêm bất cứ phần mềm nào, như điều khiển và hệ
điều hành hỗ trợ. Do đó, cả người dùng và mạng riêng Intranet cũng không cần triển
khai thêm các phần mềm chuyên biệt.
- L2TP cho phép người dùng từ xa truy cập vào mạng từ xa thông qua mạng công cộng
với một địa chỉ IP chưa đăng ký (hoặc riêng tư).
Quá trình xác nhận và chứng thực của L2TP được thực hiện bởi cổng mạng máy chủ.
Do đó, ISP không cần giữ dữ liệu xác nhận hoặc quyền truy cập của người dùng từ xa.
Hơn nữa, mạng riêng intranet có thể định nghĩa những chính sách truy quá trình xác nhận
và chứng thực của L2TP được thực hiện bởi cổng mạng máy chủ. Do đó, ISP không cần
giữ dữ liệu xác nhận hoặc quyền truy cập của người dùng từ xa. Hơn nữa, mạng riêng

- LNSs được đặt tại cuối mạng chủ. Do đó, chúng dùng để kết thúc kết
nối L2TP
ở cuối
mạng chủ theo cùng cách kết thúc đường hầm từ client của LACs. Khi một LNS nhận
một yêu cầu cho một kết nối ảo từ một LAC, nó thiết lập đường hầm và xác nhận người
dùng, là người khởi tạo yêu cầu kết nối. Nếu LNS chấp nhận yêu cầu kết nối, nó tạo
giao diện ảo.
b) Qui trình xử lý L2TP.
Khi một người dùng từ xa cần thiết lập một L2TP tunnel thông qua Internet hoặc
mạng chung khác, theo các bước tuần tự sau đây:
Bước

1: Người dùng từ xa gửi yêu cầu kết nối đến ISP’s NAS gần nhất
của
nó, và
bắt đầu khởi tạo một kết nối PPP với nhà ISP cuối.

Bước
2:
NAS chấp nhận yêu cầu kết nối sau khi xác nhận người dùng cuối. NAS
dùng phương pháp xác nhận PPP, như PAP, CHAP, SPAP, và EAP cho mục đích này.

Bước


5:
Sau khi đường hầm đã được thiết lập thành công, LAC chỉ định
một
Call
ID (CID) đến kết nối và gửi một thông điệp thông báo đến LNS. Thông báo xác định này
chứa thông tin có thể được dùng để xác nhận người dùng.
Thông điệp cũng mang theo LCP options dùng để thoả thuận giữa người dung và
LAC.
Bước

6: LNS dùng thông tin đã nhận được từ thông điệp thông báo để
xác
nhận
người dùng cuối. Nếu người dùng được xác nhận thành công và LNS chấp nhận yêu cầu
đường hầm, một giao diện PPP ảo (L2TP tunnel) được thiết lập cùng với sự giúp đỡ của
LCP options nhận được trong thông điệp thông báo.

Bước 7:

của tầng Data Link giúp gói dữ liệu đi đến nút đích. Nếu nút đích là nội bộ, phần đầu
và phần cuối tầng Data Link được dựa trên công nghệ LAN (ví dụ, chúng có thể là
mạng Ethernet). Ở một khía cạnh khác, nếu gói dữ liệu là phương tiện cho một vị trí từ
xa, phần đầu và phần cuối PPP được thêm vào gói dữ liệu L2TP đã đóng gói.
- Qui trình xử lý de-tunneling những gói dữ liệu L2TP đã tunnel thì ngược lại với qui
trình đường hầm. Khi một thành phần L2TP (LNS hoặc người dùng cuối) nhận được
L2TP tunneled packet, trước tiên nó xử lý gói dữ liệu bằng cách gỡ bỏ Data Link layer
header and trailer. Kế tiếp, gói dữ liệu được xử lý sâu hơn và phần IP header được gỡ
bỏ.
- Gói dữ liệu sau đó được xác nhận bằng việc sử dụng thông tin mang theo bên trong
phần IPSec ESP header và AH trailer. Phần IPSec ESP header cũng được dùng để giải
mã và mã hóa thông tin. Kế tiếp, phần UDP header được xử lý rồi loại ra. Phần Tunnel
ID và phần Call ID trong phần L2TP header dùng để nhận dạng phần L2TP tunnel và
phiên làm việc.
- Cuối cùng, phần PPP header được xử lý và được gỡ bỏ và phần PPP payload
được chuyển hướng đến protocol driver thích hợp cho qui trình xử lý.
d) Chế độ đường hầm L2TP.
L2TP hỗ trợ 2 chế độ - chế độ đường hầm bắt buộc và chế độ đường hầm tự nguyện.
Những đường hầm này giữ một vai trò quan trọng trong bảo mật giao dịch dữ liệu từ điểm
cuối đến điểm khác.
Trong chế độ đường hầm bắt buộc, khung PPP từ PC ở xa được tạo đường hầm trong
suốt tới mạng LAN. Điều này có nghĩa là Client ở xa không điều khiển đường hầm và nó
sẽ xuất hiện như nó được kết nối chính xác tới mạng công ty thông qua một kết nối PPP.
Phần mềm L2TP sẽ thêm L2TP header vào mỗi khung PPP cái mà được tạo đường hầm.
Header này được sử dụng ở một điểm cuối khác của đường hầm, nơi mà gói tin L2TP có
nhiều thành phần.
Các bước thiết lập L2TP đường hầm bắt buộc được mô tả theo các bước sau:

Bước


3
: Nếu NAS tự do chấp nhận yêu cầu kết nối, một kết nối PPP được thiết
lập
giữa ISP và người dùng từ xa.

Bước 4
: LAC khởi tạo một L2TP tunnel đến một LNS ở mạng chủ cuối.

Bước 5

8 : Sau đó frame này được chuyển đến nút đích trong mạng intranet.
Chế độ đường hầm tự nguyện có Client ở xa khi gắn liên chức năng LAC và nó có thể
điều khiển đường hầm. Từ khi giao thức L2TP hoạt động theo một cách y hệt như khi sử
dụng đường hầm bắt buộc, LNS sẽ không thấy sự khác biệt giữa hai chế độ.
Thuận lợi lớn nhất của đường hầm tự nguyện L2TP là cho phép người dùng từ xa kết
nối vào internet và thiết lập nhiều phiên làm việc VPN đồng thời. Tuy nhiên, để ứng dụng
hiệu quả này, người dùng từ xa phải được gán nhiều địa chỉ IP. Một trong những địa chỉ IP
được dùng cho kết nối PPP đến ISP và một được dùng để hỗ trợ cho mỗi L2TP tunnel riêng
biệt. Nhưng lợi ích này cũng là một bất lợi cho người dùng từ xa và do đó, mạng chủ có thể
bị tổn hại bởi các cuộc tấn công.
Việc thiết lập một voluntary L2TP tunnel thì đơn giản hơn việc thiết lập một đường
hầm bắt buộc bởi vì người dùng từ xa đảm nhiệm việc thiết lập lại kết nối PPP đến điểm
ISP cuối.
Các bước thiết lập đường hầm tự nguyện L2TP gồm :

Bước 1
: LAC (trong trường hợp này là người dùng từ xa) phát ra một yêu cầu
cho
một đường hầm tự nguyện L2TP đến LNS.

Bước4
: Cuối cùng, LNS xác nhận người dùng và nếu người dùng được xác nhận
thành công, chuyển hướng các frame đến nút cuối trong mạng Intranet.
e) Những thuận lợi và bất lợi của L2TP.
Thuận lợi chính của L2TP được liệt kê theo danh sách dưới đây:
- L2TP là một giải pháp chung. Hay nói cách khác nó là một nền tảng độc lập. Nó cũng
hỗ trợ nhiều công nghệ mạng khác nhau. Ngoài ra, nó còn hỗ trợ giao dịch qua kết nối
WAN non-IP mà không cần một IP.
- L2TP tunneling trong suốt đối với ISP giống như người dùng từ xa. Do đó, không
đòi hỏi bất kỳ cấu hình nào ở phía người dùng hay ở ISP.
- L2TP cho phép một tổ chức điều khiển việc xác nhận người dùng thay vì ISP phải làm
điều này.
- L2TP cung cấp chức năng điều khiển cấp thấp có thể giảm các gói dữ liệu xuống
tùy ý nếu đường hầm quá tải. Điều này làm cho qua trình giao dịch bằng L2TP nhanh
hơn so với quá trình giao dịch bằng L2F.
- L2TP cho phép người dùng từ xa chưa đăng ký (hoặc riêng tư) địa chỉ IP truy cập vào
mạng từ xa thông qua một mạng công cộng.
- L2TP nâng cao tính bảo mật do sử dụng IPSec-based payload encryption trong suốt qua
trình tạo hầm, và khả năng triển khai xác nhận IPSec trên từng gói dữ liệu.
Ngoài ra việc triển khai L2TP cũng gặp một số bất lợi sau:
- L2TP chậm hơn so với PPTP hay L2F bởi vì nó dùng IPSec để xác nhận mỗi gói dữ
liệu nhận được.
- Mặc dù PPTP được lưu chuyển như một giai pháp VPN dựng sẵn, một Routing and

bảo vệ như các web site thương mại, do đó HTTPs thường được mở trong các firewall và
có thể đi qua các Proxy web, router NAT.
VPN Server chạy trên nền Windows Server 2008 dựa vào SSTP để lắng nghe các kết
nối SSTP từ VPN client. SSTP server phải có một Computer Certificate được cài đặt thuộc
tính Server
Authentication.Computer
Certificate này được sử dụng để xác thực server SSTP
với client SSTP trong quá trình thiết lập session SSL.Client hiệu lực hóa certificate của
server SSTP.Để thực hiện điều này thì Root CA cấp phát certificate cho SSTP server phải
được cài đặt trên client SSTP.
Đường hầm VPN dựa vào SSTP có chức năng như một đường hầm peer-L2TP và dựa
vào PPTP. Điều này có nghĩa PPTP được bao bọc trên SSTP mà sao đó gửi các lưu lượng
cho cho kết nối HTTPs. Như vậy,tất cả các tính năng
khác của
VPN như kiểm tra sức khỏe
dựa vào NAT, tải lưu lượng IPV6 trên VPN, các thuật toán xác thực như username và
smartcard và client VPN dựa vào trình quản lý kết nối vẫn không thay đổi đối với SSTP,
PPTP và L2TP. Nó giup cho Admin một đường dẫn di trú tốt để di chuyển từ L2TP/PPTP
đến SSTP.
c) SSTP họat động như thế nào?
SSTP họat động trên HTTPs tức là chỉ HTTP sử dụng SSL cho sự bảo mật thông tin
và dữ liệu. SSL cũng cung cấp cơ chế xác thưc các điểm cuối khi đuợc yêu cầu sử dụng
PKI.SSTP sử dụng SSL để xác thực server với client và nó dựa vào PPP chạy trên để xác
thực client với server. Nghĩa là Client xác thực server bằng certificate và Server xác thực
Client thông qua giao thức hiện có được hỗ trợ bởi PPP.
Khi Client kết nối với Remote Access Server bằng cách sử dụng SSTP làm giao tác
tạo lập đường hầm, SSTP thiết lập session HTTPs với server từ xa tại port 443 ở một địa
chỉ URL riêng biệt. Các xác lập proxy HTTP được cấu hình thông qua IE sẽ được sử dụng
để thiết lập kết nối này.
Với session HTTPs, client đòi hỏi server cung cấp certificate để xác thực.Khi thiết lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status