ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG RỦI RO VỀ KHÍ
TƯỢNG THỦY VĂN Tự NHIÊN Đối VỚI sự
PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM KỂ t ừ sa u
ĐỔI MỚI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA sự THAY Đổi
KHÍ HẬU TOÀN CẦU VỚI NHỮNG
NGUY Cơ TRONG TƯƠNG LAI
Tan Phạm*
David Wratt**
Graeme Campbell***
Doug Ramsay****
I. Sự THAY ĐỔI KHÍ HẬU - TRlỂN v ọ n g t o à n c à u
Bản đánh giá do Ban liên chính phủ về sự thay đổi khí hậu xuất bân
năm 2001 (IPCC, 2001a) lưu ý rằng, rất có thể(1) trên phạm vi toàn cầu,
những năm 1980 là thập kỷ ấm áp nhất và năm 1980 là năm ấm nhất(2)
trong hồ sơ khí hậu (1861-2000). Sự tăng nhiệt độ bề mặt trong thế kỷ XX
ở bán cầu Bắc có thể lớn hơn bất kỳ thế kỷ nào khác trong vòng 1.000
năm qua. IPCC kết luận: “Có những bằng chứng mới và mạnh mẽ hơn
chứng tỏ rằng háu hết sự ấm lên quan sát được trong vòng 50 năm qua là
do những hành động của con người”.
IPCC cũng kết luận rằng, khí hậu toàn cầu trong thế kỷ XX rất có
thể như sau:
- Nhiệt độ bề mặt toàn cầu tăng khoảng 0,6 ± 0,2°c.
- Số ngày nóng tăng;
- Lượng băng tuyết giảm ở gần như tất cả các vùng đất, lượng mưa ở
lục địa bán cầu Bắc (lượng mưa và tuyết) có thể tăng 5-10%.
* Nhỏm tham vấn ÁC, Wellington, New Zealand - www.acconsulting.co.nz
** [SJIVVA - Wellington, New Zealand - w ww.niwaxo.nz
***
Nhóm tham vân AC, Wellington, New Zealand - www.acconsulting.co.nz
**** NIYVA - Ham ilton, Now Zealand - www.niwa.co.nz
244
hết các vùng ở vĩ độ trung bình nằm sâu trong nội địa và sự thay đổi lượng
mưa, tuyết có thể tăng lên do gió mùa mùa hè châu Á. Cường độ gió tối
đa trong những trận lốc xoáy nhiệt đới ở một số khu vực cũng có thể gia
tăng, đi kèm với sự tăng cường độ mưa trung bình và tối đa trong các trận
lốc xoáy này.
n . sự BIẾN THIỀN CỦA KHÍ HẬU VÀ sự TTIAY Đ ổ i Đ ối VỚI VIỆT NAM
Những dự đoán về sự thay đổi khí hậu ở quy mô khu vực hoặc nhỏ
hơn tuỳ thuộc vào những điều không chắc chắn hơn so với việc dự báo
những thay đổi trung bình trên phạm vi toàn cáu. Hơn nữa, các tác động
của những biến đổi khí hậu tự nhiên (ví dụ như những thay đổi đi kèm
với hiện tượng El Nino và La Nina) cho thấy chắc chắn hơn trong những
245
VIỆT NAM HỌC - KỶ YỀU HỘI THẢO Q ưôc TẼ LẦN THỨ HAI
thống kê về khí hậu từ những vùng nhỏ hơn và làm cho khó nhận biết
hơn những xu hướng mơ hồ củng như xác định liệu những xu hướng này
có phải do những hoạt động của con người gây ra hay không.
Báo cáo của Nhóm công tác số II trong đánh giá 2001 của IPCC bao
gồm một số chương về các khu vực (IPCC, 2001b). Tuy nhiên, trong chương
đề cập đến Việt Nam dài 55 trang cũng bao gồm toàn bộ châu Á, từ Xibêri
xuống đến Indonesia, từ Xyri sang đến Nhật Bản. Điều này nghĩa là có rất
ít chi tiết cụ thể về Việt Nam. Những điểm có liên quan đề cập đến những
dự báo đến năm 2100 trong báo cáo của Nhóm công tác số II và chương
về thông tin khí hậu khu vực trong báo cáo của Nhóm công tác số I (IPCC,
200 lc), bao gồm:
- Đối với khu vực Đông Nam Á nói chung, sự ấm lên có thể kém hơn
mức trung bình toàn cầu trong các tháng 6-7-8.
- Lượng mưa trong các tháng 12-1-2, có thể ít thay đổi ở khu vực Đông
Nam Á.
- Những nghiên cứu mang tính mô hình về lốc xoáy nhiệt đới cho thây
có thể cường độ gió mạnh nhất sẽ tăng từ 5-10% và cường độ mưa trung
phòng ngừa thảm hoạ (ADPC, 2003), trong vòng 10 năm từ năm 1990 đến
năm 2000, đă có 8.000 người bị thiệt mạng (trong đó có các ngư dân đang
đánh cá ngoài biển trong thời gian diễn ra trận bão Linđa), 2,3 triệu tấn
lương thực bị hư hỏng, 9-000 tàu thuyền bị đắm và một số lượng lớn nhà
cửa bị sập và bị cuốn trôi. Theo tính toán, tổng thiệt hại về kinh tế ở mức
2,8 tỷ USD, bằng 1,8-2,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Những thiệt hại về tính mạng và tài sản trong những năm 1990, đặc biệt
là trong 5 năm cuối, nặng nề hơn so với thập kỷ trước. Những thảm hoạ
đặc biệt được ADPC dẫn chứng bằng tài liệu được trình bày trong bảng 1.
Bảng 1: Những thảm hoạ chính liên quan đến bão và lụt
ở
Việt Nam
giai đoạn 1996-2002
Ngày
Vị trí
Tác động
Tháng 8-1996 Sông Hồng
Những trận lụt trên diện rộng cùng với thuỷ
triều dâng cao làm xói mòn 120 km đê và đe
doạ nhiều hoạt động kinh tế thiết yếu
Tháng 11-19 9 6
Duyên hải miền
Nam Việt Nam
Bão Linda gây thiệt hại nghiêm trọng về
người và tài sản. 2.900 người bị chết hoặc
mất tích, 108.000 ngôi nhà bị phá huỷ,
22.000 ha lúa bị mất trắng, 2.900 tàu đánh cá
bị chìm, 136.000 ha ao nuôi tôm, cá bị vỡ.
Tháng 1 1 & 12-
1999
Những ghi chép về khí hậu cho từng vùng của Việt Nam có sẵn cho
đến tận cuối thế kỷ XIX. Những phân tích về nhiệt độ trung bình trên
phạm vi toàn quốc cho thây có một xu hướng ấm lên trong thế kỷ XX.
Bản đánh giá thứ ba của IPCC cho tháy nhiệt độ đã nóng lên trung bình
0,23°c trong 3 thập kỷ cuối của thế kỷ XX (Lal và đổng tác giả, 2001)
và tác giả Schaeffer (2003) đã tính toán một xu hướng tăng nhiệt độ
0,65°c giữa năm 1990 và năm 1998. Những thay đổi về lượng mưa cũng
đã được theo dõi. Ciranich (1993) cho biết trong giai đoạn từ cuối những
năm I960 đến đầu những năm 1990 có một sự tâng lượng mưa hàng năm
ở miền Bắc Việt Nam và giảm ở miền Nam. Họ cũng dẫn chứng những
thay đổi về lưu lượng nước, trong đó có việc giảm đối với sông Hồng và
sông Mê Công trong giai đoạn những năm 1940 đến 1950. Họ cho biết
lượng nước chảy từ sông Lô đã tăng từ cuối những năm i 960 đến đdu
những năm 1990, và những đo lường trên sông Mê Công tại Viêng Chăn
cũng cho thây sự tâng lưu lượng nước vào những năm i 960. Họ cho
rằng, những xu hướng thay đổi lưu lượng nước này do sự kết hợp của
những tác động của con người và những dao động về lượng mưa ở các
lưu vực sông. Xu hưc3mg về sự thay đổi lượng mưa trong báo cáo của
Schaeffer (2003) cho thây một sự tăng lên ở khắp vùng đồng bằng châu
thổ sông Mê Công từ 1976-2000 và giảm xuống ở 3 điểm ở đồng bàng
châu thổ sông Hồng từ 1961-2000.
Kelly và Adger (2002) dẫn số lượng các cơn bão đổ bộ vào bờ biển
Việt Nam được báo cáo từ năm 1900. Có một sự thay đổi giữa các năm
với số lượng các cơn bão dao động từ 1-12 cơn/năm. Như đã đề cập, tần
sô' của các cơn bão bị ảnh hưởng bởi trạng thái ENSO (sự giao động phía
Num El Nino). Tuy nhiên, Kelly và Adger nói rằng, không có bằng chứng
chắc chán của những xu hướng lâu dài về tần số bão từ những quan sát
thu được đến nay.
Ghi nhận lâu dài nhất và đáng tin cậy nhất về mực nước biển ở Việt
Nam là tại Hòn Dâu ở miền Bắc, đã ghi nhận được xu hướng tăng mực
có thể gây ra nhiều trận lụt chớp nhoáng và lưu lượng nước chây lớn hơn
(ADPC, 2003).
c. Mực nttôc biển
Báo cáo đánh giá thứ 3 của ADPC dự đoán mực nước biển trung bình
trên toàn cầu sO* tăng từ 9 đến 88 cm vào năm 2100 do tầm “SRES” của viễn
cánh thai các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, với sự khác khau đáng kể giữa
các khu vực. Giá trị trung tâm của 48 cm tương đương với việc tăng từ 2 đến
4 lần mức tăng mực nước biển xảy ra trong thế kỷ XX (IPCC, 200lc). Báo
cáo ADPC hàm ý ràng, trong khi những dự đoán gần đây cho rằng, mực nước
biển có thể tăng khoảng 50 cm trong thế kỷ XXI, thì nên lấy viễn cảnh mực
nước hiển tìíng 1 111 để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của các vùng
ven hiển Việt Nam. Điều này do những điều chưa được biết cùng với việc
249
VIỆT NAM HỌC - KỶ YỀU HỘI THẢD QUỒC TỀ LÁN THỨ HA)
phán đoán những mô hình và cường độ bão đà thay đổi (có thể ânh hưởng
đến việc tăng các trận bão và sóng).
d. Bão nhiệt đới
Như đã nói trong phần trước của tài liệu này, những nghiên cứu có tính
chất mô hình về bão nhiệt đới của IPCC cho rằng, có thể cường độ gió tối
đa sẽ tăng 5-10% và cường độ mưa trung bình và tối đa tăng 20-30% trong
các trận bão nhiệt đới ở một số khu vực vào năm 2100. Thêm vào đó, báo
cáo cũng cho ràng, biểu đồ nhiệt độ bề mặt biển trung bình trong tương lai
ở Thái Bình Dương có thể trở nên giống với những gì diễn ra trong những
năm có hiện tượng El Nino (IPCC, 2100c). Như đã đề cập từ trước trong tài
liệu này, cường độ của những trận bão ảnh hưởng đến Việt Nam có xu hướng
mạnh hơn trong những năm xảy ra hiện tượng El Nino. Tính đến tất cả những
thông tin này có thể thấy rằng, ưong thế kỷ tới, ở các vùng ven biển của
Việt Nam có thể tăng rất đáng kể lượng mưa tối đa, tốc độ gió và các trận
bão đi kèm với các cơn gió lốc nhiệt đới. (Tiếc rằng, sự nghiên cứu trong
báo cáo 2001 của IPCC không đạt đến giai đoạn nhận diện cụ thề “một số
hoặc 17,2% tổng số hộ gia đình trên toàn quốc. Bảng 1 dưới đây (được sao
chép từ CPRGS 2002) cho thấy gần 70% tổng số hộ nghèo sống ở:
- Đồng bằng sông Hồng
- Vùng Bắc Trung Bộ
- Vùng duyên hải miền Trung
- Vùng Đông Nam Bộ
- Đồng bằng sông cửu Long
sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự thay đổi khí tượng thuỷ văn đã
được dự báo trước.
Bảng 1. Quy mô nghèo đói và phạm vi ảnh hưởng
tính theo tiêu chí nghèo mới (2001-2005)
do Chương trình giảm nghèo khu vực đưa ra vào đầu năm 2001
Số hộ nghèo
(nghìn)
Tỷ lệ phần trăm
so với tổng số hộ
trong vùng (%)
Tỷ lộ phần trăm
so với tổng số hộ
trên toàn quốc
Tổng số 2.800
17,2 100
Vùng Tây Bắc
146
33,9
5,2
Vùng Đông Bác
511
22,3
18,2
- Củng cố chương trình phòng ngừa và giảm nhẹ thảm hoạ.
- Xây dựng hệ thống thu thập thông tin và dự báo khí tượng thuỷ văn.
- Nâng cao nhận thức và cải thiện các khả nỉíng của nhân dân để phản
ứng với thiên tai.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng và các địa điểm an toàn.
- Xây dựng lực lượng dự trữ cho trường hợp khẩn cấp và huấn luyện
các đội cứu hộ.
- Thiết lập Quỹ phục hồi sau thảm hoạ và ngăn ngừa đói nghèo và Quỹ
hỗ trợ khẩn cấp(3).
Trong sô" những mục tiêu và chỉ tiêu cho việc giảm tình trạng dễ bị tổn
thương do CPRSG đưa ra có việc phát triển một chiến lược phòng tránh và
giảm nhẹ thiên tai. Đến năm 2010, giảm một nửa tỷ lệ người nghèo bị rơi
trở lại tình trạng nghèo đói do thiên tai và các rủi ro khác(4).
V. CÁC CHƯƠNG TRÌNH VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG
Việt Nam đã triển khai một số chương trình và tiến hành một số hoạt
động liên quan đến sự thay đổi khí hậu và thiên tai kể từ sau đổi mới.
Những chương trình và hoạt động chính được tổng kết dưới đây:
1. Chương trình hành động qucíc gia Việt Nam đối với những vân đề về.thay
đổi khí hậu do Viện Khí tượng thuỷ văn điều phối (IDPC, 2003).
2. Dự án giảm nhẹ thiên tai của Ngân hàng thế giới (WB)
Dự án trị giá 170 triệu USD này gồm 4 phần:
i) Các biện pháp phòng tránh và giảm nhẹ
ii) Quản lý thâm họa dựa trên cộng đồng
iii) Quỹ chi đột xuất cho việc tái thiết và phục hồi
iv) Củng cố thể chế và xây dựng khả năng
Phần (i) bao gồm cả các biện pháp mang tính kết cấu và phi kết cấu.
Trong tài liệu triển khai dự án, Ngân hàng thế giới lưu ý rằng việc quản
lý thảm hoạ hiện nay là một ưu tiên trong chtỉơng trình nghị sự ph át triển
của chính phủ. Tntởc hết, chính phủ đã chuẩn bị một chiến lược và chương
trình hành động cho việc giảm nhẹ các thảm hoạ về nước ở Việt Nam vào
thuộc chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế đã
nhất trí cùng làm việc với nhau để đạt một mục tiêu chung: giảm nhẹ thiên
tai uà sau dó củng cố sự p hát triển bền vũng ở miền Trung Việt Nam (Đối
tác NDM- Báo câo nhiệm vụ cuối cùng 2002)
Dự án mà Nhóm tham vấn AC hiện đang triển khai, có tên gọi Chiến
dịch A cho nhận thức cổng cộng và chuẩn bị đối phó với các nguy cơ lụt
lội ở tĩnh Thừa Thiên Huế do NZAID (Cơ quan Phát triển quốc tế của New
253
2003 2004
Các khoản vay cố định 1Ố5 177
% trong tổng số 49,7% 28,9%
2005
120
28,9%
2006
140
21,4%
VIỆT NAM HỌC - KỶ YỀU HỘI THẢO QUÔC TỀ LẮM THỬ HAI
Zealand) tài trự, là kết quả trực tiếp của công việc được xác định trong
khuôn khổ Đối tác NDM.
V I. K Ế T LUÂN
1. Các trận bão, lụt đã gây thiệt hại đáng kể đến sinh mạng, làm hư
hại tài sản và sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam trong thập kỷ qua. Những
dự đoán về những thay đổi khí hậu do con người gây ra ở Việt Nam vẫn
chứa đựng những yếu tố không chắc chắn trên thực tế. Tuy nhiên, sự phát
triển kinh tế của Việt Nam trong thập kỷ tới có thể phải chịu những tác
động gia tăng đáng kể của thiên tai nếu những thay đổi về khí hậu rơi vào
tầm giữa đến cao hơn của các dự đoán trên cơ sở IPCC.
Sau đây là những hậu quả có thể xảy ra:
- Mực nước biển tăng có thể dẫn đến mất vùng đất trồng lúa và có thể
Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001) vạch ra các chiến lược cho sự phát triển
của Việt Nam đến mím 2010 nhưng không đề cập chút nào đến sự thay
đổi khí hậu.
Thay cho lời kết, chúng tôi muốn cảm ơn nhà tổ chức cuộc hội thảo rất
quan trọng này vì đã cho phép chúng tôi trình bày tài liệu này. Chúng tôi
hy vọng những vấn đề được nêu ra ở đây sẽ thu hút sự quan tâm của
những người đang tham gia vào việc hoạch định các kế hoạch phát triển
của Việt Nam và sẽ khích lệ họ kết hợp sự thay đổi khí hậu toàn cầu và
những nguy cơ về khí tượng thuỷ văn tự nhiên vào trong các kế hoạch của
mình nếu họ chưa làm.
C H Ú TH ÍC H
1 Trong các báo cáo của IPCC, "rất có thể" cho biết 90-99% cơ hội cho kết quả là đúng, và “có
thể” muốn nói 66-90°ó cơ hội là đúng.
2. Tài liệu này đã dược Thủ tướng phê chuẩn theo văn bản số 2685/VPCP-QHQT, ngày 21-8-2002
3 CPRGS, 2002, tr. 74 và 96.
•I CPRGS, vr. 126.
TÀ I L IỆ U TH A M K H Ả O
1. ADPC, 2003, T h ay đ ổ i k h í h ậ u và sự p h á t triển ở Việt N am : N ồng n gh iệp và sự thích
n g h i đ ố i với vừng đ ồ n g b ằ n g sông M ê Công. Trung tâm ứng phó thâm h ọa châu Á,
B angko k, do C ông ty hợp tác kỹ thuật Đ ức (D eutsch e G esellsch aft fur T echnische
Zusam m enarbeit - C/TZ) G m bH xuất bản, E schborn, 27 trang.
2. Dươn^ Liên Châu, 2(XX), Những bài học rút ra từ cơn bào khủng khiếp Linda. Trong Tác
động cửa El N ino và Ui N ina đ ố i với khu vực Đ ông N am Á. Hội thảo do Mạng Thay đổi
khí hậu toàn cầu Đỏng Dương tổ chức, tại Hà Nội từ 2 1-23/2/2000, từ trang 91 đến 94.
(Có sẵn ở địa chỉ: littp://\v^v^v\ca]Aiea.nc.uk/tiernpo/floor0/briefin^/i{>crL/igcn2000^.pciF).
3. Granich, s., Kelly, M. và Nguyễn Hữu Ninh, 1993: Sự ấm lên toàn cầu và Việt Nam-
T ài liệ u tóm tắt. Đ ại học East Anglia, Norw ich. (C ó sán tại đ ịa chỉ:
http :/y ^ \ ^^cR iA iea.ac.h k /ticm po/flo orO /b riefin g /Vietn am /in d cx,h tm l),
4. Như trên.
5. H oàng M inh H iền, 2000, Hiệu ứng củ a ENSO đối với hoạt động củ a bão ở T ây B ắ c
30-1 0-2003. (C ó sẩn tại địa chỉ: http ://w w w .g eo.u n i-m ainz.d e/schaefer/p d f/g v s% 20-
% 20presentatio n.p d f)
13 .Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (th áng 5-2002), Chiến lì(ỢC giảm nghèo toàn
diện và tăng trưởng (C PRGS).
14. Ngân h àng phát triổn ch âu Á (th á n g 7-2003), Chiến litợc q u ố c gia và Chươtìg trình
cập nhật 200 Í-2006, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. w w w .a d b .org .
15. Ngăn hàng th ế giới (tháng 11-2002), Phát biển của Việt Nam v ề bản báo cáo phát
triển triển vọng của nước này 2003- Đ ơn vị quản lý kinh tế v à giảm nghèo khu
vực Đ ông Á và Thái Hình D ương - w w w .w orldban k.org.v n.
16. Đ ảng C ộng sñn Việt Nam (2001), Văn kiện Dại bội Đảng toàn quốc lần thứ 9 -
Nhà xuất băn T h ế giới, Hà Nội.
17. Đối tá c NDM (2 001 ), Báo cáo nhiệm vụ cuối cùn g- Những phái hiện của phái đoàn
đa tài trợ. w w w .undp.org.vn/ndm -p artnership.
18. Ngân h àng th ế giứi (thán g 10-2002), D ự á n g iảm n h ẹ th iên la id V iệt N am - Báo
cáo s ố P ID 11481- lntp: 'w e b .w orldbnnk.org external p rojects.
256