Bài giảng độc học môi trường năm học 2013 - Pdf 14

1/51
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỘC HỌC MÔI TRƯỜNG

Mục đích – yêu cầu
Sinh viên phải nêu được:
- Các khái niệm, thuật ngữ về độc học và độc học môi trường
- Phân loại độc chất
- Các yếu tố ảnh hưởng đến độc tính của độc chất
Số tiết lên lớp: 5.0
Bảng phân chia thời lượng

STT Nội dung Số tiết
1
Các khái niệm và thuật ngữ 2.0
2
Phân loại độc chất 1.0
3
Các mối quan hệ trong độc học 1.0
4
Các yếu tố ảnh hưởng đến độc tính của độc chất 1.0

Trọng tâm bài giảng
- Các thuật ngữ trong độc học
- Các yếu tố ảnh hưởng đến độc tính của độc chất

Nội dung giảng dạy
1.1. Các khái niệm và thuật ngữ (xem [1 tr 7], [3 tr 11])
1.1.1. Độc học (Toxicology)
Có nhiều khái niệm khác nhau về độc học (độc chất học) của các tổ chức, các nhà
khoa học:
Độc học (độc chất học) là ngành khoa học về chất độc và các ảnh hưởng của

vật, không làm giảm chất lượng của các môi trường thành phần.
Nồng độ cho phép: Là mức giới hạn nồng độ các chất có mặt trong môi trường
nào đó, đảm bảo không gây ảnh hưởng đến sức khỏ con người và sinh vật. Nó là cơ sở
giám sát môi trường, đánh giá tiếp xúc nghề nghiệp và tác hại sức khỏe cũng như có ý
nghĩa dự phòng.

1.1.4. Nhiễm bẩn, ô nhiễm và ngộ độc
Nhiễm bẩn (contamination)
Nhiễm bẩn là trường hợp các chất lạ làm thay đổi thành phần vi lượng, hóa học và
sinh học của môi trường nhưng chưa làm thay đổi tính chất và chất lượng của các thành
phần môi trường.
3/51
Ô nhiễm môi trường (pollution)
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật
thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và thiên nhiên.
Ô nhiễm môi trường là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi
trường, hủy hoại môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến
sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường.
Chất ô nhiễm là các hóa chất, tác chất vật lý, sinh học ở nồng độ hoặc mức độ
nhất định sẽ vượt khả năng chịu đựng của môi trường, làm suy thoái và hủy hoại môi
trường.
Nhiễm độc
Là do chất độc tác động trên một cơ quan hay một hệ thống các cơ quan, làm tổn
thương các cơ quan hoặc tử vong do các hoạt động sinh học của cơ quan không phục
hồi.
Như vậy, môi trường trước khi bị ô nhiễm, đã trải qua giai đoạn nhiễm bẩn. Và sau
đó, nếu nồng độ chất bẩn càng tăng thì sẽ trở thành chất ô nhiễm, chất độc và gây nhiễm
độc.


- Các triệu chứng nhiễm độc xuất hiện sau nhiều ngày hoặc nhiều tuần lễ
Mãn tính
- Khi tiếp xúc thường xuyên với nồng độ độc cao hơn nồng độ cho phép
- Thời gian xuất hiện các triệu chứng sau nhiều tháng, nhiều năm
- Nhiễm độc biểu hiện do tích lũy chất độc hoặc do tích lũy tác dụng

1.2 Phân loại độc chất (xem [1 tr 31], [2 tr 50])
Có nhiều cơ sở khác nhau để phân loại các tác nhân độc, tuỳ theo mục đích nghiên
cứu. Có thể kể một số cách phân loại như phân loại theo ngành kinh tế - xã hội, theo tác
dụng sinh học đơn thuần, theo mức độc độc, khả năng gây ung thư ở người, Trong
phạm vi bài giảng này chỉ đi sâu vào cách phân loại theo nguồn gốc chất độc và môi
trường tồn tại.

1.2.1 Phân loại theo nguồn gốc chất độc
Có 2 cách phân loại độc chất theo nguồn gốc chất độc: dựa vào các hoạt động tạo ra
độc chất hoặc bản chất của độc chất.
Theo nguồn gốc tự nhiên, nhân tạo
- Tự nhiên: Các quá trình phân hủy tự nhiên như phân hủy xác động thực vật, núi
lửa, bão cát, quá trình thụ phấn… và tạo ra các khí như SO
x
, NO
x
, CH
4
, CO
2
,
bụi,
- Nhân tạo: Sản xuất công nghiệp, giao thông, xử lý chất thải,.…. và cũng tạo ra
các khí như SO

hay các hạt không phải là các thành phần không khí khô, làm cho thành phần không khí
thay đổi, gây bất lợi cho con người, sinh vật và các công trình.
Trong thực phẩm: Các loại thực phẩm cũng chứa những chất gây hại cho cơ thể
sống theo dây chuyền chuỗi thức ăn như nguồn nước có phân bón và thuốc bảo vệ thực
vật, và do thực phẩm quá hạn sử dụng. Ngoài ra trong bản thân thực phẩm cũng chứa
nhiều độc tố sinh học như độc tố tetrodotoxin trong cá nóc có độc tính với hệ thần kinh,
tim mạch.

1.3 Các mối quan hệ trong độc học (xem [1 tr 11], [2 tr 2])
1.3.1. Mối quan hệ giữa liều lượng và đáp ứng
Liều lượng (dose) là một đơn vị của việc tiếp xúc các tác nhân gây hại lên một cơ
thể sống. Nó được thể hiện qua đơn vị trọng lượng (hay thể tích) trên thể trọng 1 (mg, g,
ml/kg cơ thể) hoặc trọng lượng (hay thể tích) trên một đơn vị diện tích bề mặt tiếp xúc
của cơ thể (mg, g, ml/m
2
bề mặt cơ thể). Nồng độ trong không khí có thể được biểu diễn
qua đơn vị của khối lượng hoặc thể tích trên một thể tích không khí như ppm, hay mg,
g/m
3
không khí. Nồng độ trong nước: mg/l = ppm hay µg/l = ppb.
6/51
Sự đáp ứng/phản ứng (Response) là phản ứng của cơ thể hay một hoặc một vài bộ
phận của cơ thể sinh vật đối với một kích thích của chất độc. Sự kích thích có thể gồm
nhiều dạng và cường độ của đáp ứng thường liên quan đến cường độ kích thích; kích
thích càng mạnh thì sự đáp ứng trong cơ thể càng lớn. Khi chất kích thích là một hoá
chất thì đáp ứng thường là hàm số của liều lượng và mối quan hệ này được gọi là mối
quan hệ liều lượng - đáp ứng.
Khi độc chất đi vào cơ thể sống với mỗi một liều lượng nhất định thì sẽ có những
mức phản ứng, đáp ứng nhất định. Kích thích càng mạnh thì sự đáp ứng trong cơ thể
càng lớn. Khi chất kích thích là một hoá chất thì đáp ứng thường là hàm số của liều

Hình 1.1 . Mối quan hệ giữa cấu trúc hóa học và tính cất của độc chất
Tuy nhiên, mức độ gây độc của một tác chất có hại lên cơ thể sinh vật có thể gia
tăng hay giảm bớt còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố, cả môi trường xung quanh lẫn trạng
thái của cơ thể bị tác động, đặc trưng giống loài, giới tính, sự thích nghi, khả năng đề
kháng hoặc độ mẫn cảm của các cá thể.

1.4.1. Điều kiện tiếp xúc
- Liều lượng/nồng độ tại vị trí tiếp xúc sẽ quyết định mức độ của sự đáp ứng. Khi
nồng độ độc chất chưa đến mức ngưỡng thì chưa tạo ra biểu hiện ngộ độc mà chỉ
gây độc ở dạng tiềm tàng.
- Con đường tiếp xúc rất quan trọng, ví dụ khi hít phải methylene chloride sẽ sinh ra
các khối u, nhưng nếu nuốt nó thì lại không sinh u.
- Thời gian tiếp xúc: ngắn gây các tác hại có thể khắc phuc, dài, gây các tác hại nguy
hiểm, không thể khắc phục. Ví dụ nhiễm độc ngắn alcohol gây mất khả năng lọc mỡ của
gan, nhưng về lâu dài sẽ gây xơ gan.
Tóm lại, khi liều lượng tiếp xúc càng cao và thời gian tiếp xúc càng lâu thì độc tính
tác hại càng lớn.

1.4.2. Các yếu tố sinh học
Sự khác biệt loài có thể bao gồm khác biệt vị trí tác động, sự chuyển hoá sinh học,
tình trạng sinh lý. Tuy vậy sự khác biệt loài giống mang tính định lượng vì sự đáp ứng
của các loài thường là giống nhau hơn là khác nhau.
Hoạt tính hóa học
Cấu trúc hóa học

của của các chất gây độc.
Ví dụ
Ở môi trường kiềm (pH>7) kẽm có độc tính thấp hơn do ở dạng kết tủa, hầu như
không hoạt động (ZnOH). Trong khi đó ở môi trường axit, kẽm có độc tính cao hơn vì
tồn tại ở dạng Zn
2+
và ZnHCO
3
+
(hòa tan). 9/51
Nhiệt độ
Nhiệt độ môi trường cao thường làm tăng hoạt tính của độc chất. Nhiệt độ không khí
cao sẽ làm chất độc bốc hơi nhanh, gây giãn mạch, tăng tuần hoàn làm chất độc chuyển
hóa nhanh trong cơ thể và dễ xâm nhập các tổ chức; mồ hôi ra nhiều à chất độc dễ hấp
thu qua da; giảm sức chống độc của gan, Trong môi trường lỏng, khi nhiệt độ tăng
thường làm tăng khả năng hòa tan của các chất, tăng tốc độ phản ứng,
Ví dụ
Hầu hết các thuốc bảo vệ thực vật thường tăng độc tính khi nhiệt độ tăng.
Diện tích tiếp xúc
Ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố và liều lượng của độc chất. Cùng một lượng hóa
chất nhưng diện tích tiếp xúc lớn thì nồng độ sẽ giảm ® độc tính giảm.
Ví dụ
Cùng một lượng độc chất nhưng khi đưa vào nguồn nước có lưu lượng lớn hơn thì
nồng độ độc chất trên một đơn vị thể tích nước sẽ thấp hơn ® mức độ tác động lên các
sinh vật thủy sinh sẽ giảm.
Các yếu tố khí tượng thủy văn
Bao gồm các yếu tố như độ ẩm, tốc độ gió, ánh sáng, dòng chảy, độ mặn, cũng có

11/51
Chương 2. SỰ XÂM NHẬP, TÍCH TỤ, CHUYỂN HÓA
VÀ ĐÀO THẢI CỦA ĐỘC CHẤT
[
Mục đích – yêu cầu
Sinh viên sau khi học xong phải nêu được:
- Các con đường xâm nhập của độc chất vào cơ thể người.
- Các biến đổi của độc chất trong cơ thể sinh vật
- Các con đường đào thải độc chất.
Số tiết lên lớp: 5
Bảng phân chia thời lượng
STT Nội dung Số tiết
1
Sự xâm nhập 1.0
2
13/51
Hình 2.2. Cấu trúc da và biểu bì da
Trước khi vào hệ tuần hoàn, chất độc phải đi qua một số lớp tế bào. Tốc độ vận
chuyển này phụ thuộc độ dày của da, tốc độ dòng máu, tế bào bạch cầu và các yếu tố
khác. Tốc độ hấp thụ càng nhanh, nồng độ độc chất trong máu càng cao.

2.1.2. Qua phổi
Các chất độc tiếp xúc khi hít thở sẽ hấp thụ qua phổi. Các độc chất thuộc nhóm này
thường là các khí như CO, NO
2
, SO
2
,

L
ớp
Basal

Lớp nền
của màng
Biểu bì
Hạ bì
Lớp mỡ

ới da

14/51 Hình 2.3. Hệ hô hấp ở người
- Hạt d < 1mm: chui vào túi phế nang (túi phổi, mô phổi) đến tới màng phổi.
- Hạt 1 < d < 10 mm: gây tác hại phần dưới của hệ hô hấp, lắng đọng trong khí
quản, phế quản.
- Hạt d > 10 mm: tác hại đến phần trên của phế nang, phế quản (phần mũi và khí
quản).
- Các hạt mắc ở phần trên của hệ hô hấp thường được thải ra qua việc ho, hắt hơi
hoặc đôi khi nuốt vào theo hệ tiêu hoá. Khoảng 1/2 số hạt bụi sẽ bị đẩy ra trong một
ngày, tuỳ thuộc vào bản chất của chất độc. Các hạt mắc ở phần dưới của hệ hô hấp có
thể đi tới tận màng phổi. Các hạt khó tan nhất bị loại bỏ lâu nhất. Các hạt tan được, nằm
trong phế nang sẽ khuếch tán trực tiếp vào máu đi qua phổi, các hạt không tan sẽ xâm
nhập vào các khoảng trống và theo máu đi đến các cơ quan khác trong cơ thể.
Hệ hô hấp không chỉ giúp chất độc xâm nhập vào cơ thể mà cũng đào thải một số
độc chất dưới dạng khí, hơi.


kết Van der Waals, nên yếu và thuận nghịch. Các chất độc có khả năng liên kết bền
vững với protein của máu, tích tụ tại một số cơ quan trong cơ thể. Các chất này thay thế
16/51
các thành phần liên kết của huyết tương ở một vài vị trí, dẫn đến thay đổi nhiệm vụ, xáo
trộn chức năng hay hoạt tính của huyết tương.
- Mỡ của cơ thể: Là môi trường hòa tan được nhiều chất như các dung môi hữu cơ,
các khí trơ. Một số thuốc trừ sâu như DDT, PCB clodan tan nhiều trong mỡ và có thể
tích luỹ qua quá trình hoà tan vật lý đơn giản.
- Xương: tích luỹ các hợp chất như Pb, stronti florua. Các chất độc này có thể được
đào thải qua quá trình trao đổi ion ở bề mặt tinh thể xương hay qua quá trình hoà tan của
các tinh thể xương.
- Gan và thận: Các cation hóa trị 3,4 của La, Cr, Thr hay các chất thủy phân và tạo
thành chất keo.
- Chất cư trú ở cơ quan đặc hiệu: Iod trong tuyến tụy; Ure trong thận; Digitaline ở tim.
Các độc chất nếu tích tụ đủ lượng sẽ biểu hiện thành những tổn thương, những thay
đổi hoạt động bình thường của các cơ quan trong cơ thể.

2.3 Sự chuyển hóa (xem [1 tr 441], [2 tr 64], [3 tr 62])
Sau khi chất độc được phân phối đến các cơ quan trong cơ thể thì ở đó sẽ xảy ra
quá trình chuyển hoá chất độc. Chuyển hoá chất độc trong cơ thể thực chất là quá trình
sinh hoá để chuyển các chất độc thành các chất hoạt động hay bất hoạt. Quá trình này
thường xảy ra ở gan, thận hay các cơ quan khác của cơ thể, nhưng mức độ giới hạn khác
nhau. Một chuyển hoá sinh học có thể dẫn đến những thay đổi về đặc tính độc như sau:
- Chuyển hoá một hợp chất hoạt động thành không hoạt động
- Chuyển một chất không hoạt động sang dạng hoạt động
- Chuyển một chất không hoạt động sang một dạng không hoạt động khác
- Chuyển một chất hoạt động sang dạng hoạt động khác.
Sơ đồ chuyển hoá:
2
® RNO ® RNHOH ® RNH
2

Aldehyt khi tác dụng với hidro bị khử thành alcol
- Phản ứng thuỷ phân
Xảy ra ở một số cơ quan như gan, thận, huyết tương, với sự tham gia của nhiều
loại enzym khác nhau. Các loại tác chất có thể bị thuỷ phân là ester, hydrazde,
carbamate, epoxide và amide, bằng cách bẻ gãy các hợp chất trên và thêm phân tử nước
vào cầu nối ester.
RCOOR’ + H
2
O ® RCOOH + R’OH Thuỷ phân cacboxyleste
RCONR’R’’ + H
2
O ® RCOOH + HNR’R’’ Thuỷ phân cacboxyamit
Pha 2 liên hợp
Phản ứng pha 2 là sự kết hợp một chất nội tan trong nước vào tác chất xâm nhập
(chất ngoại sinh). Đóng một vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất loại bỏ độc
tính.
Kết quả của các phản ứng liên hợp là tạo thành các dạng enzym của gluctronide
ethereal sulfate, mercapturic acid thông qua sự liên hợp với glutthione, amino acid và
các hợp chất methyl. Sau đây là các dạng phản ứng liên hợp.
18/51
- Sự liên hợp glucuronit
Phản ứng glucuronit hoá là một trong các con đường chủ yếu để thải nhiều chất
ngoại sinh và nội sinh ưa dầu khỏi cơ thể. Sự liên hợp glucuronit nói chung tạo ra

hợp được hoạt hoá, coenzim A (CoA), và loại thứ hai gồm sự hoạt hoá của hợp chất
lạ và sự axyl hoá tiếp theo của axit amin. Loại liên hợp này nói chung được thực
hiện bởi các axit cacboxylic ngoại sinh và các amit, và mặc dù các sản phẩm ít tan
trong nước hơn, nhưng chúng thường ít độc hơn. 19/51
Ví dụ: Axetyl hóa
R - NH
2
+ CH
3
- C - SCoA ® R- N - C-CH
3
+ CoA-SH
|| | ||
O H O
Amin acetyl CoA N-acetyl amin
R: C mạch thẳng hoặc nhân thơm
- Tổng hợp acid mereapturie:
Chuyển hoá
RX - glutathione R-S- glutathlone

Peptid
R- S - glutathione R-S - mereapturate
R: mạch thẳng hoặc vòng thơm

Sản phẩm của phản ứng liên hợp rất quan trọng trong giải độc. Trong gan và các
mô trong cơ thể chứa sẵn rất nhiều các tác nhân tạo phản ứng liên hợp. Nhưng nếu nhu
cầu quá lớn, vượt quá khả năng cung cấp thì các sản phẩm của pha 1 sẽ tự do phản ứng

2.4. Sự đào thải chất độc (xem [1 tr 442], [3 tr 65])
Các chất độc được bài tiết ra ngoài theo nhiều cách như gan, thận, tuyến mồ hôi,
nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, … nhưng quan trọng nhất là thận.

2.4.1 Qua thận, nước tiểu
Nhiều chất hoá học được loại bỏ tại thận do chúng bị chuyển hoá sinh học thành các
sản phẩm hoà tan nhiều trong nước khi chúng bị bài tiết qua nước tiểu. Các chất độc có
thể được loại bỏ cùng nước tiểu qua con đường lọc của tiểu cầu thụ động, khuếch tán
qua ống thụ động và sự tiết ra ống chủ động.
Sau khi chất độc (hay sản phẩm chuyển hoá của chúng) được lọc qua nước tiểu, các
chất có hệ số phân bố mỡ/nước cao (tan trong mỡ) sẽ được hấp thụ lại, các chất tan trong
nước và các ion sẽ bị đào thải qua bọng đái và ra theo nước tiểu.
Sự bài tiết chủ động các chất độc có thể đạt được thông qua 2 cơ chế bài tiết ống,
một cơ chế cho anion hữu cơ (acid) và một cơ chế cho các cation hữu cơ (bazơ). Các
protein có liên kết với chất độc không bị đào thải bởi sự lọc của tiểu cầu hoặc sự khuếch
tán thụ động, có thể bị đào thải qua quá trình bài tiết chủ động này.

2.4.2. Qua đường gan, mật, ruột
Đây là con đường chủ yếu loại bỏ các chất độc đã qua cơ thể. Các chất cặn rắn
(phân) bao gồm thức ăn không tiêu hoá, một phần chất dinh dưỡng, các chất dị sinh hoá
có trong thực phẩm hoặc thuốc, đó là các chất không được cơ thể hấp thụ. Gan có vị trí
thuận lợi trong việc loại bỏ các chất độc xâm nhập qua đường ruột. Chất độc qua dạ dày
21/51
- ruột sẽ vào máu tới gan trước khi vào hệ tuần hoàn. Do vậy gan có thể tách một số chất
độc trong máu, ngăn chặn sự phân bố của chúng đi khắp cơ thể.
Sự bài tiết qua mật đóng vai trò quan trọng trong việc đào thải 3 loại hợp chất có
khối lượng phân tử lớn hơn 300: các anion và các phân tử không bị oxy hoá, có nhóm
phân cực và các nhóm ưa mỡ. Chất có khối lượng phân tử nhỏ bị đào thải yếu qua mật.
Sự bài tiết qua ruột: một số chất hoá học (digitoxin, dinitrobenzamit, hexaclobenzen,
ochratoxin A…) được thải ra phân không qua quá trình bài tiết mật và cũng không phải

Câu 2. Như thế nào là tác dụng cục bộ?
Câu 3. Như thế nào là tác dụng toàn thân?
Câu 4. Như thế nào là tác dụng chọn lọc?
Câu hỏi cuối chương
Trình bày đường đi của độc chất trong cơ thể người khi cơ thể người bị phơi nhiễm?

v TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Lê Huy Bá, Độc học môi trường, NXB Đại học quốc gia TP. HCM, 2002.
[2]. Nguyễn Đức Huệ, Độc học môi trường, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2010.
[3]. Trịnh Thị Thanh, Độc học, Môi trường và sức khoẻ con người, NXB Đại học quốc
gia Hà Nội, 2003.
23/51

0
C, ít tan trong nước, không bị hấp phụ bởi than hoạt tính.
Hoá tính: CO cháy với ngọn lửa màu xanh tạo thành CO
2
, ở điều kiện thường
CO trơ về hóa học, ở nhiệt độ cao nó trở thành chất khử mạnh.
Cơ chế gây độc và độc tính
Cacbon monoxit kết hợp dễ dàng với hemoglobin (Hb) tạo ra
cacboxihemoglobin
(COHb):

O
2
Hb + CO COHb +O
2

24/51
Phản ứng này có hằng số cân bằng khoảng 210 (nghĩa là ái lực của hemoglobin
đối với CO khoảng 210 lần mạnh hơn ái lực của nó với oxi). Cacboxihemoglobin là
phức bền do vậy mà kết quả là làm giảm khả năng tải O
2
của máu.
Nồng độ bình thường của cacboxihemoglobin trong máu người không hút thuốc
khoảng 0.5% do sự nội sinh CO từ sự dị hóa của máu. Sự hấp thụ CO ngoại sinh làm
tăng COHb như là hàm số của nồng độ CO trong không khí cũng như độ dài phơi
nhiễm và tốc độ thông hơi của cá nhân. Chẳng hạn sự nhiễm liên tục của người ở nồng
độ 30 ppm CO, giá trị cân bằng đạt được là 5% COHb sau tám giờ.
Tác dụng ban đầu của sự nhiễm độc cacbon monoxit là sự mất khả năng xét đoán.
Điều này là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tai nạn ô tô. Cùng với sự tăng
nồng độ cacbon monoxit thì những rối loạn về trao đổi chất khác nhau cũng diễn ra

chua của acid, d = 2,297. SO
2
dễ hóa lỏng dưới áp suất cao hoặc làm lạnh ở -15
0
C (500l
khí →1lít lỏng), được dùng làm chất tải lạnh.
25/51
- Tan trong nước tạo thành H
2
SO
4
. Ở đk thường SO
2
khí không kết hợp với O
2
nên
có khả năng dập tắt cháy.
Cơ chế gây độc và độc tính
Lưu huỳnh đioxit là một khí kích thích tan trong nước. Nó được hấp thụ chủ yếu
theo dòng không khí thở và kích thích sự co thắt phế quản và sự chế tiết của màng nhầy.
Hầu hết mọi người bị kích thích ở nồng độ SO
2
là 5ppm và cao hơn. Một số người
nhạy cảm thậm chí còn bị kích thích ở nồng độ 1-2 ppm. Ở trong đường hô hấp SO
2
dễ dàng kết hợp với nước tạo thành axit sunfurơ gây độc. Những nghiên cứu chỉ ra
rằng với những nồng độ nhiễm tương đối cao của SO
2
sẽ gây tổn thương tế bào đường
hô hấp và làm tăng sinh các tế bào hình đôi của màng tiết nhầy. SO

lên, tác hại đối với thực vật cũng tăng lên. Ảnh hưởng của khí quyển SO
2
ở nồng độ
thấp nhưng lâu dài nguy hiểm đối với cây trồng hơn là ở nồng độ cao nhưng trong thời
gian ngắn. SO
2
còn gây ra mưa axit gây hại cho cây trồng và môi trường.

3.1.3 Các nitơ oxit (NO
x
)
NO
x
chủ yếu tồn tại ở 7 dạng: N
2
O; NO; NO
2
; N
2
O
4
; N
2
O
3
; NO
3
; N
2
O


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status