MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt 4
Danh mục bảng và hình ảnh 5
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Đối tượng nghiên cứu 7
3. Mục đích và nội dung nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Bố cục luận văn 8
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1. Giới thiệu chung về họ Quắn hoa (Proteaceae) 9
1.1.1. Phân loại 9
1.1.2. Mô tả chung 9
1.1.3. Phân bố 10
1.1.4. Trồng và sử dụng 10
1.2. Chi Macadamia 11
1.3. Các đặc điểm thực vật học của loài M. tetraphylla và M. integrifolia 12
1.3.1. Macadamia tetraphylla (L.A.S Johnoson) 12
1.3.2. Macadamia integrifolia (Maiden – Betche) 13
1.4. Giá trị dinh dưỡng và ứng dụng của hạt M. tetraphylla và M. integrifolia 15
1.5. Một số nghiên cứu về chi Macadamia 16
Chương 2. THỰC NGHIỆM 19
2.1. Thu và xử lí mẫu hạt 19
2.2. Xác định các chỉ số vật lý và hóa học của chất béo 19
2.2.1. Xác định hàm lượng dầu béo 19
2.2.2. Xác định chỉ số vật lý của chất béo 19
3.3. Xác định cấu trúc của một số cấu tử đã được phân lập 36
3.3.1. Cấu trúc của MHE1 37
3.3.2. Cấu trúc của chất rắn NHSH3 39
2
3.4. Kết quả thử hoạt tính sinh học của các cao chiết 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH ẢNH
Bảng 1.1. Thành phần các hợp chất phenol trong dầu nhân và vỏ hạt
M. integrifolia ở Hawaii 16
Bảng 3.1. Thành phần axit béo của dầu macadamia ở Đắc Lắc 31
Bảng 3.2. Thành phần amino axit của hạt macadamia 33
Bảng 3.3. Thành phần hóa học của cao MHSE theo kết quả GC/MS 35
Bảng 3.4. Thành phần sterol trong cao MHSH theo kết quả GC/MS 35
Bảng 3.5. Gán ghép tín hiệu phổ tương ứng cho các nguyên tử
C và H của MHE1 37
Bảng 3.6. Bảng so sánh dữ liệu phổ
1
H-NMR của NHSH3 và
Stigmast-5-en-3β-ol trong CDCl
3
, 500MHz 40
Bảng 3.7. Bảng so sánh dữ liệu phổ
13
C-NMR của NHSH3 và
Stigmast-5-en-3β-ol trong CDCl
3,
125MHz 40
MHE Nước rửa của dịch chiết đietyl ete đem axit hóa rồi chiết
lấy phần không tan trong nước (lớp trên)
MUFA Axit béo bất bão hòa đơn
PUFA Axit béo bất bão hòa đa
R
f
Yếu tố làm chậm trễ
s singulet
SKBM Sắc ký bản mỏng
SFA Axit béo bão hòa
t triplet
TPHH Thành phần hoá học
UV Tử ngoại
δ (ppm) Độ chuyển dịch hóa học tính bằng ppm
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm nên hệ thực vật hết sức đa dạng và phong phú.
Có rất nhiều giống cây trồng thích hợp với khí hậu và đất đai Việt Nam đem lại hiệu
quả kinh tế cao ở trong nước và có giá trị xuất khẩu như: Chè, tiêu, cà phê, ca cao…
Bên cạnh những chủng loại cây nông lâm nghiệp truyền thống đó, các nhà khoa học
không ngừng tìm tòi, nghiên cứu và triển khai nhiều dự án để tìm ra nhiều giống
cây mới có giá trị cao hơn. Nổi bật nhất trong số những giống cây trồng mới về giá
trị kinh tế là cây macadamia (ở nước ta tạm gọi là mắc ca). Một loại cây lấy hạt có
nguồn gốc từ rừng mưa nhiệt đới Australia được ví như là hoàng hậu của các loại
quả khô bởi giá trị dinh dưỡng của nó.
Các nghiên cứu khác nhau về thành phần hạt macadamia ở các địa điểm khác
nhau trên thế giới có sự chênh lệch đáng kể; nhưng có thể ước lượng trung bình bao
gồm chất béo khoảng 75%, chất đạm 7,9-8,4%, đường 4%, nước 1-1,5%, các hợp
lên ngôi “hoàng hậu của các loại quả khô” ở Việt Nam.
2. Đối tượng nghiên cứu
Các dịch chiết từ hạt macadamia được lấy từ trung tâm nghiên cứu của Viện
Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên tại thành phố Buôn Ma Thuột
thuộc tỉnh Đắc Lắc.
3. Mục đích, nội dung nghiên cứu
+ Xác định hàm lượng, một số chỉ số vật lý, hóa học và thành phần hóa học
của dịch chiết n-hexan đối với nhân hạt.
+ Xác định thành phần và hàm lượng amino axit có trong phần nhân hạt sau
khi loại béo bằng dung môi n-hexan.
+ Phân lập, xác định cấu trúc cấu tử chính từ dịch chiết của dung môi n-
hexan của nhân hạt.
+ Thử hoạt tính sinh học của dịch chiết n-hexan và etyl axetat của nhân hạt.
4. Phương pháp nghiên cứu
* Nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp nghiên cứu các hợp chất tự nhiên, tổng
quan tài liệu về đặc điểm hình thái thực vật, TPHH, tình hình nghiên cứu và ứng
dụng của một số loài thuộc chi Macadamia trên thế giới.
7
* Nghiên cứu thực nghiệm:
- Chiết dầu béo trong dung môi n-hexan bằng phương pháp ngâm dầm.
- Xác định các hằng số vật lý và chỉ số hóa học đặc trưng của chất béo : Phương
pháp xác định tỉ trọng, chỉ số axit, chỉ số xà phòng hóa, chỉ số iot, chỉ số peroxit.
- Xác định TPHH của dịch chiết: Phương pháp sắc ký khí - khối phổ liên hợp
(GC/MS), phương pháp sắc lý lỏng – khối phổ liên hợp (LC/MS/MS).
- Phân lập cấu tử chính bằng phương pháp sắc ký cột hoặc kết tinh lại (nếu có
kết tinh), SKBM.
- Xác định cấu trúc của cấu tử phân lập được bằng các loại phổ hiện đại như:
FT-IR,
1
H-NMR,
Ở phần lớn các loài thuộc họ Proteaceae thì cơ chế thụ phấn mang đặc tính
chuyên biệt hóa cao, với việc sử dụng "vùng dẫn dụ phấn hoa", một khu vực trên
đỉnh vòi nhụy phô bày phấn hoa.
Quả đại, quả hạch hay hạch khô, đôi khi quả có cánh. Quả không mở hay mở
bằng khe nứt.
1.1.2.2. Thân, lá, rễ
Proteaceae nói chung là các cây thân gỗ hay cây bụi, ngoại trừ một số loài
thuộc chi Stirlingia là cây thân thảo. Chúng là cây thường xanh, với lá dao động
mạnh về kích thước, hình dáng và mép lá.
Lá đơn, nguyên hoặc có răng cưa nhọn hay chia thùy, mọc cách, thường cục
lại ở đầu cành có lá kèm.
Rễ kiểu quắn hoa (rễ cụm), các rễ cụm này là các khối rễ con ở bên và lông
tơ tạo thành một bề mặt hấp thụ tỏa tròn, sinh ra dưới lớp lá rụng trong mùa tăng
9
trưởng và thường teo lại vào cuối mùa tăng trưởng. Chúng là sự thích nghi để phát
triển trong các loại đất nghèo phốt pho, làm tăng mạnh khả năng tiếp xúc của cây
với nguồn nước và dưỡng chất khan hiếm bằng cách gia tăng bề mặt hấp thụ của rễ.
1.1.3. Phân bố
Proteaceae là họ chủ yếu ở Nam bán cầu, với các trung tâm đa dạng chính ở
Australia và Nam Phi. Nó cũng có tại miền Trung châu Phi, Nam và Trung Mỹ, Ấn
Độ, miền Đông và Đông Nam châu Á, các đảo của châu Đại Dương.
1.1.4. Trồng và sử dụng
Nhiều loài Proteaceae được trồng trong vườn ươm làm hàng rào do tán lá và
hoa nổi bật và đặc biệt của chúng.
Một vài loài có tầm quan trọng đối với ngành trồng hoa, đặc biệt các loài
trong chi Banksia và Protea.
Một số loài trồng để lấy hạt như hai loài của chi Macadamia là Macadamia
integrifolia và Macadamia tetraphylla và loài Gevuina avellana được trồng tại
Chile và New Zealand, hạt của chúng cũng ăn được và được sử dụng trong công
nghiệp dược mỹ phẩm để dưỡng da, là thành phần của kem chống nắng do các tính
- Macadamia angustifolia (Virot )
- Macadamia erecta (J.A.McDonald & Ismail R.)
- Macadamia francii (Guillaumin) Sleumer
- Macadamia grandis (C.L.Gross & B.Hyland)
- Macadamia heyana (Baill. Sleumer)
- Macadamia jansenii (C.L.Gross & P.H.Weston)
- Macadamia leptophylla (Guillaumin Virot)
- Macadamia lowii (F.M.Bailey)
- Macadamia minor (F.M.Bailey)
- Macadamia neurophylla (Guillaumin Virot)
- Macadamia praealta (Bailey)
- Macadamia rousselii (Vieill. Sleumer)
- Macadamia verticillata (F.Muell.Benth)
- Macadamia vieillardii (Brongn. & Gris) Sleumer
- Macadamia whelanii (F.M.Bailey)
- Macadamia youngiana (F.Muell. ex Benth).
11
Tuy nhiên, trong các loài tìm thấy trên chỉ có 2 loài, M. integrifolia và M.
tetraphylla có tầm quan trọng thương mại. Phần còn lại của chi có hạt nhưng không
ăn được vì chứa cyanogen glycozit có độc tính. Dưới đây chúng tôi giới thiệu cụ thể
hơn về hai loài này.
1.3. Các đặc điểm thực vật học của loài Macadamia tetraphylla và Macadamia
integrifolia
Cả hai loài có nguồn gốc từ bờ biển phía đông của Australia, trong khoảng từ
25° đến 31° về phía nam. M. tetraphylla có nguồn gốc ở nửa phía nam và M.
integrifolia ở nửa phía Bắc. M. integrifolia sinh trưởng tốt hơn trong điều kiện khí
hậu ấm. Bề mặt các hạt giống có thể dễ dàng xác định vì M. integrifolia tròn và mịn
màng còn M. tetraphylla có hình bầu dục, thô hoặc sần sùi.
1.3.1. Macadamia tetraphylla (L.A.S Johnoson) [10], [13], [21], [24]
Đây là cây có kích thước trung bình, cao khoảng 15m, thân hình trụ, tán xòe
cành non có thể gặp 1 đôi lá mọc đối.
Những bông hoa màu kem hoặc trắng sữa có mùi thơm ngọt ngào dễ chịu nở
ra ở các cành hoa có hình như đuôi sóc, các cành hoa này rũ xuống dài khoảng 30
cm mọc ra ở các cành cây 1,5 đến 2 tuổi. Mỗi cành hoa đuôi sóc thường có từ 100
đến 300 bông hoa, hoa thường mọc thành chùm đôi hoặc 3-4 bông trên 1 cuống hoa
chung dài 3-4 mm, mỗi bông dài khoảng 12mm; khoảng 10% trong số này cuối
cùng sẽ hình thành các 'nutlet' và chín thành quả hạch.
Sau khi hoa tàn và hình thành quả non, quả cần có 215 ngày để quả chín, tức
30 tuần. Quả thường mọc thành chùm 2-3 quả trên cuống hoa tự, đôi khi có chùm
có 17-20 quả. Quả hình tròn, vỏ quả không có lông nhung, màu xanh bóng. Vỏ hạt
nhẵn, đường kính hạt khoảng 1,3 - 3,2cm; vỏ quả dày 6-10 mm. Vỏ quả gồm 2 lớp
13
gồm lớp vỏ ngoài tạo nên bởi những tế bào dạng sợi và lớp áo trong tạo nên bởi tế
bào nhu mô. Lớp áo trong rất mỏng, phần sát rốn hơi có màu nâu, phần sát lỗ nảy
mầm màu trắng sữa. Lớp ngoài dày gấp 15 lần lớp áo trong và tạo ra bởi những tế
bào có lớp vỏ cenlulose rất dày và tế bào thạch. Khi già cả 2 loại tế bào này đều hoá
gỗ cao độ làm cho vỏ hạt rất cứng. Vỏ hạt được coi là loại vỏ hạt cứng nhất thế giới
và không thể dùng các thiết bị thông thường để mở được mà phải dùng các thiết bị
tương tự như kìm vặn ống nước để mở.
Sau qui trình phơi sấy, lớp vỏ dày 3 mm có màu nâu nhạt được rạch ra và
được bóp bể một cách cẩn thận để khỏi phạm vào nhân. Nhân có màu trắng sữa, có
hương thơm bơ sữa, chất lượng rất cao.
Ở Viện Khoa học Nông lâm nghiệp Tây Nguyên hiện đang trồng và nhân
giống các dòng vô tính của loài M. integrifolia, hoa nở vào khoảng cuối tháng 2 đầu
tháng 3. Thu hoạch quả khoảng tháng 9.
Hình 1.2. Lá, hoa, quả, hạt và nhân hạt Macadamia integrifolia
14
1.4. Giá trị dinh dưỡng và ứng dụng hạt Macadamia integrifolia và Macadamia
tetraphylla
Nhân macadamia không những béo ngậy mà còn có vị ngọt, rất bùi và
vết thương nhẹ, giúp trẻ hóa tế bào, ngăn ngừa lão hóa, chống cháy nắng và cũng
giúp da duy trì độ ẩm của nó mà lại không có bất kỳ kích ứng da nào [6].
Ngoài nhân là sản phẩm chính, vỏ quả macadamia chứa 14% tanin, 8-10%
protein, sau khi chiết xuất tanin bằng nước nóng, vỏ quả thường được nghiền làm
thức ăn gia súc. Vỏ hạt có ít giá trị hơn, tại các xưởng chế biến dùng vỏ hạt làm
nhiên liệu, hoặc nghiền làm vật liệu hữu cơ độn bầu ươm cây, độn đất chậu cảnh.
Do hương vị nhân và giá cả macadamia rất hấp dẫn nên hàng chục nước đã
đua nhau phát triển cây macadamia trong mấy chục năm qua, nhưng người ta dự
báo rằng còn lâu cung mới đuổi kịp cầu, giá cả macadamia trên thị trường vẫn
không ngừng tăng và là hàng nông sản đắt giá nhất trên thị trường thế giới hiện nay.
1.5. Một số nghiên cứu về chi Macadamia
Năm 1996, L.A. Quinn và H. H. Tang đã xác định được thành các hợp chất
phenol và hoạt tính chống oxi hóa của chúng trong vỏ hạt và dầu chiết từ nhân M.
integrifolia ở Hawaii [15]:
Chiết hợp chất phenol từ vỏ hạt và tinh dầu nhân (được chiết bằng
phương pháp ép) bằng dung môi etyl axetat với sự có mặt của chất chuẩn nội p-
hydroxycinamic sau đó rửa với NaHCO
3
5% trong nước và chiết lại bằng dd NaOH
2% trong nước. Các hợp chất phenol từ dịch chiết được tạo dẫn xuất metyl bằng
diazometan sau đó xác định thành phần bằng sắc ký khí (so sánh với thời gian lưu
của 44 chất chuẩn trong cùng điều kiện) và sắc ký bản mỏng Silicagel 60 F254 với
hệ dung môi giải ly clorofom/etyl axetat : 3/1, thuốc thử hiện màu là Folia-
Ciocalten hoặc hơi amoniac hoặc sắt (III) clorua trong ancol dưới ánh sáng đèn UV
(254 và 265 nm).
Kết quả thu được theo GC, có 4 hợp chất phenol đã được xác định.
Bảng 1.1. Thành phần các hợp chất phenol trong dầu nhân và vỏ hạt M.
integrifolia ở Hawaii
Các hợp chất phenol
Hàm lượng trong
béo bão hòa 13,2–17,8% (SFA), tổng axit béo bất bão hòa đa (18:2 + 18:3) thấp từ
2,8–4,7%. Các axit béo chính là axit oleic (40,6–59%), palmitoleic (16,86–33,75%),
axit palmitic, axit linoleic…; đây là lần đầu tiên phát hiện có axit cis-vaccenic
(18:1
∆
11
) trong dầu chiết từ hạt macadamia.
Tổng tocopherol trong loài M. tetraphylla ở New Zealand thấp và chỉ có
hai loại tocopherol đã được xác định trong dầu chiết là α-tocopherol 0,8-1,1 (µg/g
chất béo) và δ-tocopherol 3.5±4.8 (µg/g chất béo);
Các sterol đã được xác định là sitosterol (901±1354 µg/g lipid), Δ5-
avenasterol (82±207 µg/g lipid), campesterol (61±112 µg/g lipid) và stigmasterol
(8±19 µg/g lipid).
17
Năm 2010, Marisa M. Wall đã nghiên cứu về thành phần lipid đặc trưng,
tính ổn định oxi hóa và hoạt tính chống oxi hóa của M. integrifolia ở Hawaii [20]:
Bảy dòng vô tính của loài M. integrifolia ở Trạm thí nghiệm Nông nghiệp
Hawaii đã được nghiên cứu. Dầu béo được chiết từ nhân bằng phương pháp chiết
soxhlet trong dung môi ete dầu hỏa. Tổng lượng dầu là 68–72% (2006) và 64–69%
(2007). Độ bền oxi hóa của dầu chiết đã được xác định theo phương pháp Racimat
là từ 7-10h.
Bột macadamia nghiền mịn được chiết 3 lần với hệ dung môi
hexan/isopropanol: 3/2 (v/v) theo tỷ lệ 1g hạt/3 ml dung môi. Phần dịch chiết được
cô đuổi dung môi và làm khan bởi NaHSO
4
. Đem cao chiết thu được định lượng
tocopherol và squalen bằng HPLC. Các tocopherol [delta (δ), gamma (γ), alpha (α)]
đã được xác định là hầu như không có; trong khi đó một lượng đáng kể tocotrienol
(31–92 µg/g dầu) và squalen (72–171 µg/g dầu) đã được xác định.
Kết quả tra cứu trên đĩa CD Từ điển các hợp chất thiên nhiên, Version 16.1
Hàm lượng dầu béo trong mẫu: H(%)=
.100%
m
m
∆
Trong đó: Δm là hiệu khối lượng nhân hạt trước và sau khi chiết
m là khối lượng mẫu ban đầu đem chiết
2.2.2. Xác định chỉ số vật lý của chất béo
Tỷ trọng
( )
25
25
n
: Xác định bằng picromet có dung tích 1ml, trên cân phân tích.
2.2.3. Xác định các chỉ số hóa học của chất béo
2.2.3.1. Chỉ số axit [19]
Là lượng mg KOH dùng để trung hòa axit béo tự do trong 1g mẫu phân tích.
Chỉ số axit cho biết độ tươi của chất béo. Chỉ số này càng cao thì chất béo càng
không tươi đã bị phân hủy hoặc bị oxi hóa một phần.
Phương pháp phân tích:
- Dùng dung dịch KOH biết trước nồng độ để trung hòa axit béo tự do có
trong mẫu phân tích với chỉ thị phenolphthalein
- Xác định thể tích KOH đã dùng để trung hòa
- Xác định chỉ số axit của mẫu chất béo phân tích theo công thức:
Chỉ số axit
a
CV
N
56
=
V C
C V
C
a
−
=
Trong đó: - a là khối lượng mẫu đem phân tích
- V là thể tích KOH đã dùng ban đầu
Tiến hành:
- Cân 1g chất béo bằng cân phân tích (độ chính xác 0,001g).
- Thêm lượng dư dd KOH 1N (3ml) trong etanol + 1 giọt chỉ thị
phenolphtalein vào lượng chất béo trên.
- Đun nóng hỗn hợp thu được ở 60
0
C trong khoảng 40 phút.
- Tiến hành chuẩn độ dd sau khi đun nóng bằng dd HCl 0,1N.
- Chuẩn độ 3 lần, lấy kết quả trung bình.
2.2.3.3. Chỉ số este
20
Là số mg KOH dùng để trung hòa axit béo liên kết với glicerit khi xà phòng hóa 1g
mẫu phân tích.
Chỉ số este được xác định bởi công thức:
Chỉ số este = chỉ số xà phòng hóa – chỉ số axit
2.2.3.4. Chỉ số iot [19]
Là số gam Iot phản ứng với 100g chất béo.
Cho biết độ chưa no của các axit béo có trong mẫu. Chỉ số này càng cao chứng tỏ
2
O
3
0,1N chuẩn độ mẫu trắng và mẫu thử
p(g): khối lượng chất béo (p được ước lượng theo nguyên tắc p=20/chỉ số iot
cao nhất theo dự đoán)
Tiến hành:
- Pha thuốc thử Hubl: Hòa tan 2,5 g I
2
trong 50 ml ancol etylic 96
0
; hòa tan
2 g HgCl
2
trong 50 ml ancol etylic 96
0
. Trộn lẫn 2 dung dịch trên theo tỷ lệ thể tích
1:1, lắc đều hỗn hợp sau đó để yên trong bóng tối trong 24 h trước khi dùng.
- Cân chính xác 0,3 g chất béo (vì theo dự đoán chỉ số iot của dầu hạt
Macadamia trong khoảng 50-100), thêm 10 ml clorofom, tiếp tục thêm 25 ml thuốc
thử Hubl đã pha ở trên; lắc đều hỗn hợp sau đó để yên trong bóng tối trong 12h.
- Chuẩn độ I
2
dư sau phản ứng bằng dd Na
2
S
2
O
3
0,1N với chỉ thị hồ tinh bột.
2S
2
O
3
2-
+ I
2
S
4
O
6
2-
+ 2 I
-
Công thức tính:
Chỉ số peroxit
. .1000S M
a
=
S(ml): thể tích dung dịch Na
2
S
2
O
3
M: nồng độ đương lượng của Na
2
S
2
O
khối lượng bã thu được 275,5g.
* Cao etyl axetat: Lấy 100g bã đem ngâm chiết kiệt với 300 mL etyl axetat
(lặp lại 3 lần) (phần bã còn lại được bảo quản bằng cách ngâm trong dung môi n-
hexan). Cô đuổi dung môi dưới áp suất giảm thu được chất lỏng màu nâu, sánh và
có mùi đặc trưng. Cao etyl axetat (cao ME) thu được có khối lượng 5,7g.
* Xà phòng hóa cao MH [1], [3], [4]:
- Cân chính xác 100g cao MH cho vào bình cầu 1L; 90g KOH rắn cho vào
cốc.
- Hòa tan hoàn toàn lượng KOH trên trong 600 mL etanol rồi cho vào bình cầu
có chứa cao MH.
- Tiến hành đun hoàn lưu cách thủy chất lỏng trên trong thời gian 4h, ở nhiệt
độ 70-80
0
C.
- Rót ngay hỗn hợp sau khi đun vào 1 bese lớn chứa sẵn 750ml nước cất khuấy
đều thu được dung dịch màu vàng đậm.
- Tiến hành chiết lỏng - lỏng dung dịch trên với dung môi đietyl ete (hầu như
toàn bộ phần dung dịch này tan trong đietyl ete) thu được dịch chiết đietyl ete; rửa
dịch chiết đietyl ete nhiều lần với nước cất đến pH = 7 (kiểm tra bằng giấy pH), làm
khan bằng CaCl
2
rồi đem cô đuổi dung môi, thu được cao đietyl ete (ký hiệu
MHSE) sệt, màu vàng khối lượng 1,1g.
- Phần nước rửa của dịch chiết đietyl ete có màu vàng được gộp lại vào 1 bese
lớn sau đó tiến hành axit hóa bằng HCl 6N (kiểm tra bằng chỉ thị phenolphtalein)
thấy có sự phân lớp. Chiết lấy lớp trên ra và làm khan nước bằng CaCl
2
thu được 20
g cao lỏng màu hơi vàng, sánh và có mùi đặc trưng (cao MHE).
23
metyl este của axit béo. Định mức 25 ml sau đó chuyển mẫu đã metyl hóa vào ống
mẫu đem phân tích thành phần axit béo bằng máy sắc ký khí ghép khối phổ GC FID
của hãng Shimadzu.
24
- Trích 50 g phần bã nhân hạt macadamia đã loại béo và cho bay hơi hết
dung môi gửi đi phân tích thành phần amino axit trong mẫu theo phương pháp
LC/MS/MS tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển sắc ký thành phố Hồ Chí Minh.
Trong thực nghiệm tiến hành như sau: mẫu bột loại béo được thủy phân bằng
dd HCl 6N, trung hòa môi trường sau đó mẫu được chuyển vào ống mẫu của máy
LC/MS/MS dòng TSQ của hãng THERMO để xác định hàm lượng amino axit theo
phương pháp chuẩn TK. Ez Faast.
- Trích 0,1 g cao MHSE gửi đi phân tích thành phần hóa học bằng phương
pháp GC/MS tại trung tâm nghiên cứu và phát triển sắc ký thành phố Hồ Chí Minh.
- Trích 0,01 g cao MHSH gửi đi phân tích thành phần sterol tại trung tâm
kiểm nghiệm thuốc, thực phẩm và mỹ phẩm Thừa Thiên Huế bằng phương pháp
GC/MS.
2.4. Thử hoạt tính sinh học các cao chiết
Trích 1 g cao MH và 1 g cao ME đem thử hoạt tính sinh học tại Phòng sinh
học thực nghiệm - Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên - Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội.
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định được tiến hành để đánh giá hoạt tính
kháng sinh của các mẫu chiết được tiến hành trên các phiến vi lượng 96 giếng theo
phương pháp hiện đại của Vander Bergher và Vlietlinck (1991) và Mc Kane, L.,&
Kandel (1996).
Chủng vi sinh vật kiểm nghiệm: Chủng Gram (+) gồm Bacillus subtilis,
Staphylococcus aureus; Chủng Gram (-) gồm Escherichia coli, Pseudomonas
aeruginosa; nấm sợi: Aspergillus niger và Fusarium oxysporum và nấm men:
Candida albicans, Saccharomyces cerevisiae.
Môi trường nuôi cấy vi sinh vật:
- Môi trường nuôi cấy và bảo tồn giống: Saboraud Dextrose Broth