Lý thuyết
TÀI SẢN VÀ TAM GIÁC
SỞ HỮU
Tác giả: Trần Bình Minh
Biên Hòa-2011-
- 1 -
LỜI TÁC GIẢ
Năm 1994 tôi viết bài luận văn tốt nghiệp Đại học
Luật Hà Nội: Sở hữu và SH đất đai, vấn đề đất đai là nội
dung chính, sở hữu đề cập như một nội dung phụ.
Năm 2011 viết lại đề tài này với tựa: “Tài sản và
tam giác sở hữu”, nội dung chính là mối quan hệ sở hữu
thông qua hình tượng tam giác sở hữu, vấn đề phụ là SH
đất đai.
Trọng tâm
1.Quy luật: Hàng hóa-tiền tệ
2.Quy luật: Cung-cầu
QL H
2
/T.Tệ là quy luật về chất về giá trị
QL cung/cầu là quy luật về lượng
Tam Giác Sở Hữu
Quy luật 1: Trong cùng một thời điểm giá trị và khối
lượng tài sản của nhóm sở hữu này tăng sẽ làm giảm tỷ
phần giá trị và khối lượng tài sản của nhóm sở hữu khác
(trong tam giác sở hữu) nhưng làm tăng tổng sản phẫm của
nền kinh tế.
Quy luật 2: Khi khối lượng tài sản của một góc sở hữu
tăng làm giảm giá trị khối lượng của tổng tài sản của nền
cần xem và hiểu cần, rất cần những tư duy phản biện và
thực tiễn.
- 3 -
Có một vần đề nằm ngoài khả năng của người
viết đó là giá trị vô hình, giá trị của hàm lượng chất xám
ẩn chứa trong giá trị tài sản xã hội hiện nay, tác động của
nó đến đời sống của con người và XH: tiêu cực và tích
cực như thế nào đó có phải là tiền đề của khủng hoảng
kinh tế hay không?
Khi bàn về khái niệm sở hữu, phải làm rõ khái niệm
về tài sản, bởi một người nói vật này là sở hữu của tôi,
vậy vật này là một khái niệm hiện hữu đi kèm với vật
hiện hữu là vật lệ thuộc.
Nếu nói nó là của Anh thì tôi cũng có thể nói vật đó
là của tôi, vậy cơ sở gì để tôi chấp nhận nó là của Anh và
được mọi người chấp nhận. Nên vấn đề sở hữu mang tính
xã hội.
Loại bỏ những hình thức, cách thức sở hữu có tính
riêng biệt như: cho, tặng, thừa kế, nhặt được hoặc các
cách thức sở hữu tương tự không có cơ sở của sự chiếm
hữu.
1) Tài sản:
Pháp luật chia tài sản ra làm 2 loại: động sản và bất
động sản, cũng một cách nhận thức theo luật khác: tài sản
là vật tính được bằng tiền, vàng….hay bất cứ vật gì tính
được bằng tiền. Nhưng rất nhiều tài sản không tính được
bằng tiền, nhiều đối tượng tài sản như: uy tín, danh dự,
- 4 -
sức khỏe, mạng sống, bộ phận cơ thể người thật khó mà
định giá.
cơ sở của việc chiếm hữu công bằng hợp lý là người tạo
ra tính có ích của vật mà họ gọi là tài sản.
Nên việc sở hữu tài sản có cách thức của nó:
a) Sở hữu tự nhiên: nhặt được, lượm được từ môi trường.
b) Sở hữu từ hoạt động cá nhân: bằng tác động tạo ra tính
có ích.
c) Sở hữu có tính xã hội: cho, tặng, thừa kế, trao đổi.
3) Tài sản tập thể: là tài sản có thể tính toán
được phần đóng góp của mỗi người, trong khối lượng tài
sản chung.
Số lượng và khối lượng tài sản này do tập thể người
tạo ra tính có ích của khối lượng vật đó, một tập thể lớn
hơn nữa là cộng đồng, cộng đồng về tài sản không phải là
một khái niệm trừu tượng mà là một thực thể có các quyền
và nghĩa vụ với nhau và với tài sản (cùng hưởng lợi) ở một
cấp độ nhất định và có thể tính toán được.
Có những đối tượng tài sản chỉ có thể có được từ
hoạt động tập thể mới tạo ra tính có ích mà phục vụ lợi ích
- 6 -
chung. Chỉ có tập thể và sức mạnh của cộng đồng mới đào
được kênh dẫn nước, chống chọi với bão, lũ và giặc cướp
để bảo vệ an ninh cộng đồng hoạt động của số đông người
cách thức tạo ra của cải, tài sản lớn hơn. Nhưng mỗi cá
nhân không thể tự quản lý và sử dụng, một cá nhân cũng
không thể dành hết về cho mình, vì vậy tài sản của tập thể
phải có người đại diện, tổ chức và quản lý để phục vụ lợi
ích chung, nên xuất hiện người quản lý tài sản chung:
không đồng nghĩa người đó là chủ sỏ hữu tài sản mà là
người được giao quyền quản lý tài sản chung.
4) Tài sản cộng đồng: TScđ
sản. Hiện nay TScđ.TN vẫn tồn tại trong xã hội khá phổ
biến như: Tài sản dùng để thờ cúng, hương tự dòng họ, tài
sản là đình chúa, nhà thờ, người trụ trì, linh mục không có
quyền định đoạt.
Tài sản cộng đồng BB: Hiện nay là tài sản toàn dân,
gọi chính xác hơn là tài sản nhà nước, có được do tiền thuế
của dân, do vay mượn trong và ngoài nước, sử dụng và
định đoạt TScđ.BB phải được các tổ chức pháp luật kiểm
tra và giám sát, nhân dân có quyền yêu cầu sự minh bạch,
công khai.
- 8 -
5)Tài sản của nhà nước:
Nhà nước là một khái niệm về tổ chức về hành
chính. Đại diện cho xã hội, nhà nước đaị diện cho cộng
đồng quyền và nghĩa vụ của nhà nước do cộng đồng quy
định thông qua luật và lệ. Tài sản của nhà nước là tài sản
của cộng đồng. Quyền về tài sản của nhà nước chính là
quyền của cộng đồng, xét về bản chất tài sản của nhà nước
là tài sản của mọi cá nhân cộng đồng, nên người đứng đầu
nhà nước không thể tuỳ thích định đoạt thân phận của tài
sản do mình nhân danh cộng đồng để quản lý tài sản.
Có những dạng tài sản, vật tự nó có ích không cần
phải lao động mà tạo ra tính có ích. Môi trường tự nhiên tự
nó tạo cho con người những thuộc tính có ích để con người
tồn tại và phát triển được thừa nhận là tài sản cộng đồng ai
cũng được hưởng lợi và không được làm hại ảnh hưởng
đến lợi ích chung.
Đất đai là một dạng vật chất như vậy. Nếu bạn tin có
Chúa thì Chúa đã tạo ra môi trường tự nhiên để con người
sống đủ và hưởng lợi ở môi trường đó (trái đất) và động
lập với con người.
Nhưng vật là gì đi chăng nữa “Vật” phải là một “vật
nhỏ” trong khái niệm “vật chất”. Độc lập với ý thức và vật
dù nhỏ cũng tồn tại và vận động theo những quy luật khách
- 10 -
quan của nó hay nói cách khác đi vật…Vật chất là tài sản
có những thuộc tính riêng có của nó.
Vậy thuộc tính của vật là tài sản:
- Thuộc tính có ích cho con người.
- Thuộc tính vốn có tự nhiên.
(thuộc tính không phụ thuộc vào người chủ còn gọi
là tính độc lập, tính không thể thay đổi)
- Thuộc tính xã hội tính chuyển đổi.
Tài sản bao giờ cũng có tính chuyển đổi điều này
phân biệt giữa vật có ích và vật là tài sản: Đó là giá trị của
tài sản:
Vật có ích + Nhu cầu sử dụng = Giá trị tài sản
Hàng hóa là tài sản được chuyển đổi để lấy tài sản
khác nếu 1kg thịt đổi được 1kg gạo, nhưng ở một nơi khác
1kg thịt đổi được 10kg gạo, không phải vì giá trị của lượng
lao động nhiều hơn mà vì nhu cầu và giá trị sử dụng tăng
lên ở nơi khác, đây là điều mà học thuyết Mác không tính
đến.
Vật tự thân nó không thuộc về Ai cả bởi bản thân
“Người” vẫn là một vật (theo nghĩa vật chất) mà vật…đó,
cái con người đó…có phải là tài sản hay không? Về mặt
pháp luật chúng ta vẫn có khái niệm “bồi thường nhân
- 11 -
mạng” vậy tòa lấy gì để bồi thường có cái “con người là
vốn quý” cho cái nhân mạng.
- Tác động của người TÀI SẢN
- Tính xã hội
b) Lao động tạo ra tính có ích:
Tính vốn có ích:
Cái “Vườn địa đàng…” mà Chúa tạo ra đủ nuôi
sống con người không phải lao động, làm việc mà vẫn đủ
ăn đủ mặt. Như vậy môi trường tốt, thiên nhiên ưu đãi số
lượng người ít thì hoa trái của “Vườn địa đàng…giúp con
người sống mà không phải làm việc”.
Môi trường sống sinh ra con người và đủ nuôi sống
con ngừơi, điều này cho thấy tự bản thân “Vật” tồn tại
cũng phản ánh tính có ích của vật đó đối với người: nước
sông, nước suối mà con người dùng được đâu cần phải có
tác động của con người.
Tính có ích qua lao động: Vật chưa có ích cho
người chuyển tiếp bằng tác động , lao động người làm cho
vật có ích trực tiếp và nhiều hơn, người ta nuôi vật nhỏ
thành vật lớn, trồng trọt để có nhiều hoa trái hơn và như
vậy vật có ích hay chưa có ích sẽ có ích nhiều hơn.
- 13 -
Sẽ là chưa đủ khi dừng lại ở đây vì một người chỉ
cần 3 quả trứng 1 ngày thì cần gì anh ta làm ra 30 quả
trứng, phải có nhiều người anh ta đổi số trứng thưà lấy vật
có ích khác, lúc đó khái niệm về tính xã hội của vật có ích
là tài sản xuất hiện. Từ tính chuyển đổi được của vật của
tài sản dẫn đến tài sản chuyển đổi được trong xã hội, tài
sản (chứa lao động) chuyển đổi được thì lao động chuyển
đổi được , ở không gian và thời gian hay nói dễ hiểu, tài
sản có chứa lao động: chuyển đổi được ở những vùng miền
khác nhau, tài sản có ở quá khứ vẫn chuyển đổi được, ở
định lao động thô và ý nghĩa của tri thức trong quá trình
lao động của con người, tri thức là một cấp độ khác với lao
động.
Điều này cho thấy không thể so sánh lao động thô
với tri thức “ sản phẩm của ý thức”, không thể tính tóan
giá trị của tri thức theo cách tính của lao động (của sức
người) mà phải xét từ góc độ hiệu quả có được từ tri thức ở
hiện tại và tương lai nhìn ở góc độ xã hội khi mà ta chưa
có cách tính giá trị của tri thức.
Giá trị của lao động của cơ bắp, lao động thô dễ tính
bằng tiền hay đơn vị sản phẩm, lao động thô của người có
- 15 -
thể so sánh và tính được với năng suất của máy móc, với
sức kéo của súc vật: Anh A cuốc đất cho tôi một ngày
công được 10m
2
/100đ, nếu anh A có con trâu cày đất thì
tôi trả 1000đ vì kết quả khác nhau ở chổ số diện tích làm
đất đã làm được 100m
2
/ngày, ở đây ta không so sánh con
người với con trâu mà là so sánh 10m
2
/100m
2
với
100đ/1000đ để trả công.
Tương tự như vậy ta không so sánh con trâu với 2
tấn sắt (xe máy cày) nếu con trâu làm được 1000đ thì cục
sắt làm được 10.000m
đó đã được học nhiều rồi các anh chưa thấm nhuần quan
điểm của Đảng; tiểu tư sản!… Sự ngu dốt được nâng tầm
thành chủ trương, khẩu hiệu được thực hiện dưới sự lãnh
đạo sáng suốt của Đảng và nhà nước cùng bộ máy đồ sộ
của chế độ tri thức có thời rẻ như bèo…
Từ tài sản (TS) đến hàng hóa (HH):
TS và HH dù ở dạng nào, của ai đều chung mục đích
là có ích cho con người và cho nhu cầu ngày một cao và đa
dạng, nhu cầu của người ngày một đa dạng thì HH được
làm ra ngày một phong phú hơn để đáp ứng nhu cầu đó.
Nhưng điều cần chú tâm là sự chuyển đổi TS cho nhau để
đáp ứng nhu cầu đó dưới 2 dạng:
Quá trình chuyển đổi tài sản cho nhau là quá trình
tạo ra hàng hóa (về bản chất TS và HH là đồng nghĩa)
nhưng khác nhau về mặt xã hội tài sản chuyển đổi cho
- 17 -
nhau giữa các chủ sở hữu có ý nghĩa như: nước chảy vào
chỗ thủng, nơi có nhiều lương thực sẽ dịch chuyển đến nơi
không có hay ít có lương thực, vậy sự chuyển đổi của tài
sản cho nhau là quy luật rất tự nhiên quy luật cung cầu
phát sinh cũng tự nhiên như vậy thôi: khát cần uống đói
cần ăn.
Dạng 1: Các loại tài sản chuyển đổi cho nhau theo
nhu cầu sử dụng của người làm ra TS, là quá trình TS
chuyển thành hàng hóa, xã hội loài người đông lên, càng
phát triển quá trình này mang tính chuyên nghiệp hơn thể
hiện ở tính chất: Con người làm ra TS không chỉ để sử
dụng mà chính là để trao đổi: TS thành HH.
Dạng 2: TS được làm ra để sử dụng cho người chủ
của nó, từ kinh nghiệm, từ sáng kiến (bằng tư duy) cần một
Vật liệu SX
Máy móc +
Công cụ
Công nghệ
Vật liệu thô
(N.liệu) +
Quản lý
Khoa học =
Thị trường
Giá trị H
2
C
1
C
2
C
3
C
4
Trong các yếu tố cấu thành trên, yếu tố nào có vai
trò quyết định giá trị H
2
và cuối cùng là giá trị bán trên thị
trường, vai trò của người quản lý, vai trò của KHKT –
công nghệ và tác động của quy luật cung cầu?
Yếu tố 1: Lao động, kinh nghiệm của lao động có
thể tính được thông qua tiền công, tiền lương…và cũng có
thể vật hóa…bằng việc thay thế của máy móc, thiết bị tự
động hóa, lao động thô, lao động tay chân hoàn toàn có thể
vật hóa có thể tính đúng, tính đủ để trả công gọi là: Công
người (chứ không phải của máy móc, dụng cụ) giá trị của
- 20 -
nó được nhân lên nhiều lần ở quy trình sản xuất kế tiếp và
có thể nhân rộng ở đơn vị sản xuất khác. Đó là quá trình
nhân lên gấp bội…và không thể tính được bằng tiền.
Nói một cách khác yếu tố khoa học quản lý …
tạm gọi: C)_ “C tăng” có tính chất quyết định tạo ra Đột
biến trong sản xuất H
2
.
Nhóm C1, C2, C3 có thể tính được và tính đủ bằng
tiền nên gọi là nhóm C, có nghĩa
C1+ C2+ C3 = C.
Nhóm C gọi là C tăng đặc điểm của nó là không
tính được thành tiền, có vai trò quyết định giá trị sản phẩm
làm ra.
Có một yếu tố quan trọng hơn hình thành và điều
phối giá trị của sản phẩm, của H
2
ảnh hưởng quan trọng
đến lao động, đến khoa học và cuối cùng là quyết định tất
cả. Đó là nhu cầu xã hội, là thị trường quan hệ cung cầu.
Người lao động nhà khoa học chịu sự tác động nhưng vượt
ngoài tầm tay của họ: Nắm bắt yếu tố cung cầu là vai trò
quyết định và là trình độ nhận thức lý thuyết và thực tiễn
của quản lý sản xuất và quản lý xã hội.
Cuối cùng là H
2
đi vào xã hội là một giá trị mà nhà
sản xuất người làm ra nó không thể định đoạt giá trị H
Đặc điểm được tính bằng tiền.
- 22 -
Nên ta có công thức chung của giá trị tài sản là
hàng hóa:
Đối với tài sản từ lao động thô:
C1+ C2 ≥ tài sản (H
2
)
Nên giá trị tài sản đến giá trị H
2
có độ chênh lệch
nhất định khoảng cách của công + của thị trường
Công thức 1:
C + C + Q = H
2
(lao động) (tư duy) (quản lý
KH.KT yếu tố thị trường) 1
Quyết định bán H
2
: dù là cấp quản lý cơ sở nhưng
có vai trò cân nhắc các quá trình mà ra quyết định tính
giá trị H
2
thời điểm đưa H
2
ra thị trường.
Vậy công thức:
- 23 -
Công thức 2:
C + C + Q H
phẩm, H
2
họ đưa ra bản giá quyết định không phải do họ.
Người sản xuất bán 1kg thịt gà 25.000đ, tiểu thương
bán 90.000đ/kg thịt gà. Người sản xuất bán 25…đồng là
họ có lời rồi và họ vẫn tiếp nhận và sản xuất tiếp.
Gọi 25…đồng là giá bán lần 1, gọi 90…đồng là giá
trị thường, nhà quản lý vĩ mô muốn kéo cái 90…đồng
để mọi người được nhờ, người sản xuất muốn kéo cái
25…đồng để người sản xuất được nhờ. Cái mấu chốt là
cái giá trị chênh lệch đó thuộc về ai…cho hợp lý để đảm
bảo thị trường ổn định, kinh tế tăng trưởng.
Xét cho cùng phần còn lại của tài sản, “cái bánh” đó
là của anh hay của tôi?
Người chăn nuôi (gà) bán 25…đ/kg là đã tính toán
các khoảng và công lao động, chi phí sẽ là CF<25đ.
CF là giá lần 1: Chi phí SX: G1 (nguyên liệu + công
lao động + KH và QL)
25đ là giá lần 2: giá sản xuất: G2
90đ là giá lần 3: giá xã hội: G3
Khi giá đầu vào tăng thì G1 cũng tăng mức giá ở
giai đoạn này chỉ bù cho CF, sản xuất lần sau tác động
của quy luật cung cầu ảnh hưởng quy trình sản xuất rất ít.
Nhưng sự cách biệt về giá trị ở G1 và G3 là vô cùng lớn.
Phần giá trị này do xã hội quyết định. Nhưng ở mức độ
- 25 -