Các loại bệnh hại trên bưởi da xanh - Pdf 14

Các loại bệnh hại trên bưởi da xanh

1. Bệnh Tristeza:
a. Triệu chứng: Bệnh Tristeza là bệnh virus gây thiệt hại nặng cho các vùng trồng
cây có múi trên thế giới, đặc biệt là cây được ghép trên gốc ghép là cam chua. Tuy
nhiên, ở ĐBSCL bệnh xuất hiện nhiều trên chanh giấy với triệu chứng gân trong
nhưng thiệt hại không đáng kể, trên quýt đường với triệu chứng vàng đít trái và
rụng sớm và đôi khi trái rụng đến 50%, gây thiệt hại đáng kể đến thu nhập của nhà
vườn. Trên chanh tàu thỉnh thoảng xuất hiện triệu chứng lõm thân. Tuy nhiên, trên
bưởi khi giám định bằng bộ kít thỉnh thoảng xuất hiện bệnh Tristeza nhưng chưa
có kết quả nào ghi nhận cho thấy bệnh gây hại đáng kể.
Bệnh lây lan qua chiết, ghép hoặc qua rầy mềm như: rầy mềm nâu (Toxoptera
citricida), rầy mềm đen (T. aurantii), rầy mềm Aphis gossipii hay rầy mềm Myzus
persicae chích hút nhựa cây và lan truyền bệnh. (Hình 29). Rầy mềm Myzus
persicae chỉ lan truyền mầm bệnh của dòng nhẹ. Sau khi chích hút từ cây bệnh,
khả năng lan truyền mầm bệnh của rầy mềm bị giảm và mất đi, tuy nhiên do số
lượng rầy quá lớn nên khả năng lan truyền mầm bệnh rất cao.

b. Phòng trị: Trồng giống sạch bệnh qua vi ghép đỉnh sinh trưởng và được chứng
nhận. Biện pháp kèm theo là tích cực diệt rầy mềm bằng các loại thuốc trừ sâu
được khuyến cáo theo các đợt ra đọt non, lá non để tránh lan truyền mầm bệnh.
Tiêu huỷ những cây bệnh có triệu chứng lõm thân để tránh lây lan mầm bệnh nguy
hiểm. Không sử dụng cành ghép từ những cây có triệu chứng bệnh. Phun thuốc trừ
rầy mềm (kết hợp qui trình phòng trừ sâu hại ở giai đoạn cây con). Có lẽ do hiện
nay chúng ta chỉ có dòng nhẹ nên khả năng nhiễm dòng nặng thấp hơn.
2. Bệnh vàng lá Greening (do vi khuẩn gam âm Candidatus Liberibacter
asiaticus)
Đây là bệnh nguy hiểm và gây hại quan trọng nhất trên cây bưởi, mặc dù so với
những cây có múi khác, thì bưởi nhiễm tương đối nhẹ hơn và trong các giống, bưởi
da xanh có khuynh hướng nhiễm nhẹ nhất đối với bệnh này.
Bệnh lan truyền chủ yếu do cây giống đã nhiễm bệnh và qua nhân giống vô tính

nhằm góp phần hạn chế mật số sâu rầy.
3. Bệnh loét (do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. citri)
a. Triệu chứng:
Bệnh ban đầu xuất hiện trên cành, lá non và trái, triệu chứng ban đầu là
những đốm bệnh màu vàng sáng, nhỏ như vết kim châm trên lá non, sau đó bệnh
phát triển nhanh thành những vết bệnh màu nâu nhạt (hình 32 và 33). Đường kính
vết bệnh biến thiên theo giống trồng, trên bưởi thì vết bệnh thường lớn hơn so với
cam quýt và chanh. Chung quanh vết bệnh thường có viền màu vàng sáng, các vết
bệnh có thể liên kết lại với nhau thành từng mảng lớn đặc biệt là bệnh nhiễm theo
các vết đục của sâu vẽ bùa. Bệnh có thể bị nhầm lẫn với bệnh ghẻ (sẹo), bệnh loét
thể hiện trên cả hai mặt lá, chung quanh vết bệnh có viền vàng sáng và không làm
lá biến dạng, nhăn nheo. Ngược lại bệnh ghẻ thường hiện diện ở một mặt lá,
thường là mặt dưới, vết bệnh nhỏ hơn vết bệnh do loét gây ra và thường nhô cao
trên bề mặt phiến lá, chung quanh không có quầng vàng.

b. Phòng trị:
Cần tiêu huỷ các cành, lá và trái bị bệnh, dư thừa thực vật trong vườn.
Bệnh có tốc độ lây nhiễm nhanh đặc biệt là trong mùa mưa bão, vì vậy cần chú ý
phòng ngừa bệnh bằng những thuốc có gốc đồng.
Cây con trong vườn ươm nên có máy che lúc trời mưa, nước mưa rất thích hợp cho
mầm bệnh phát triển, hoặc sau cơn mưa nên tưới lại bằng nước sạch để rửa trôi
mầm bệnh có thể có trên lá, đọt non. Trong vườn ươm tránh để cây quá dầy.
Nên trồng cây con sạch bệnh, dụng cụ làm vườn cũng nên khử trùng bằng Javel.
Xử lý vật liệu trồng và đất trước khi trồng, đối với hạt, mắt ghép, trái tại các trạm
đóng gói có thể xử lý bằng Javel với nồng độ 1.500 ppm trong 5-10 phút.
Không trồng bưởi với mật số quá cao mà nên theo mật độ khuyến cáo.
Sau khi tỉa cành, tạo tán nên phun thuốc gốc đồng để sát trùng các vết cắ
t trên thân,
cành.
Cần phun thuốc định kỳ với các loại thuốc như Kasuran, Kocide, Coc 85 để phòng

đậm hơn do thiếu dinh dưỡng. Lý do chính là bộ rễ đã bị hư như mô tả ở trên, nên
dẫn đến các cành vượt, các nhánh lớn chết dần, cuối cùng chết cả cây.
Vào mùa mưa ở các vườn trồng mật độ dầy, kém thoát nước, ẩm độ không khí cao
thì nấm Phytophthora dễ tấn công và gây hại nặng.

b. Phòng trị:
Chọn gốc ghép chống chịu bệnh như Troyer, Carrizo citrange, Trifoliata, Cleopatra
hoặc bưởi đỏ. Hạt gieo làm gốc ghép nên được sử lý với nước nóng 52
o
C trong 10
phút. Vườn ươm cần sử lý thuốc trừ nấm trước khi gieo hạt như Copper Zinc,
Ridomyl Gold, Aliette 80WP.
Vườn ươm ngoài đồng và nhà lưới sản xuất nên tránh nhiễm Phytophthora thông
qua việc sử dụng mắt ghép sạch bệnh. Nếu có thể, công nhân và dụng cụ nên được
sạch sẽ, không nhiễm bệnh, trước khi lọt vào vườn ươm nên được khử trùng,
đường đi nên có khử trùng bằng thuốc gốc đồng. Nguồn nước tưới từ kênh rạch,
sông, ao phải được quản lý và xử lý bệnh.
Đất trồng phải được lên mô cao ráo, tơi xốp, thoát nước tốt, trồng với khoảng cách
hợp lý (khi cây cho thu hoạch không giao tán với nhau), tránh độ ẩm cao ở phần
gốc và nên sử lý thuốc trừ bệnh trước khi trồng.
Kết hợp với việc tỉa cành tạo tán giúp cho cây được thông thoáng để hạn chế bệnh
phát triển.
Khi trong vườn có cây bị bệnh, ta dùng dao cạo bỏ phần vỏ bị nhiễm và dùng thuố
c
Ridomyl Gold hoặc Aliette pha với liều lượng 20g/lít nước rồi dùng cây cọ sơn bôi
thuốc lên chỗ đã cạo nhiều lần đến khi vết bệnh khô hẳn.
Trong giai đoạn cây cho trái cần phun ngừa định kỳ 10-15 ngày một lần để tránh
bệnh xâm nhiễm làm trái bị thối bằng các loại thuốc như trên theo liều lượng
khuyến cáo.
Khi cây bưởi có gốc tương đối lớn, chúng ta có thể sử dụng thuốc Phosphonate

kháng Trichoderma, tăng cường hoạt động của các vi sinh vật trong đất.
Thăm vườn thường xuyên để phát hiện bệnh sớm, cắt bỏ những cành bị vàng, rễ
theo hình đối chiếu.
Khi cây bị bệnh xới nhẹ xung quanh gốc và tưới thuốc Ridomyl Gold khi có bệnh
xuất hiện và chỉ sử dụng Trichoderma sau khi xử lý thuốc 20 – 30 ngày.
Rải thuốc trừ tuyến trùng xung quanh rễ (sử dụng Regent 0.3 G).
Trong vườn nên trồng cỏ (cách gốc 50 cm) để giúp đất thoát nước tốt khi mưa
dầm.
Nên có hệ thống đê bao chắc chắn, máy bơm nước ra khi mưa dầm.
7. Bệnh héo xanh trên cây có múi.
Đây là một bệnh khá mới trên cây có múi, đặc biệt là trên bưởi năm roi và
cam sành với triệu chứng lá cây vẫn phát triển bình thường, buổi sáng vẫn xanh tố
t,
đến trưa thì là rũ xuống như thiếu nước, sau đó vào buổi chiều cây tương đối xanh
trở lại, nhưng sau đó vài ngày thì cây héo hẳn và rụng lá, chết sau đó. Đối với bưởi
da xanh thỉnh thoảng cũng thấy xuất hiện bệnh này.
Khi quan sát phần gốc thân, thấy có nhiều rệp sáp đất (Pseudococcus sp)
tấn công vào hệ thống rễ chính đến rễ phụ của cây, khi bị nặng có một lớp sáp xốp
bao quanh rễ, gốc cây, rễ cây bị tấn công bởi nấm Clitocybe tabescen. Xung quanh
gốc cây có nhiều tai nấm to màu nâu vàng.
Bệnh gây hại nặng trong mùa nắng hơn là mùa mưa do rệp sáp tấn công
vào hệ thống gốc cây, trong khi đó mùa mưa làm giảm mật số phát triển của rệp
sáp.
Bệnh xảy ra trên cây nhỏ vài ba năm tuổi nhiều hơn là những cây to.
Phòng trừ bằng cách quan sát thường xuyên vườn cây có múi, khi thấy xuất
hiện hiện tượng héo là phải quan sát ngay bộ rễ, nếu thấy rệp sáp là phải xử lý toàn
vườn để phòng ngừa bằng thuốc trừ rệp sáp. Trong các loại thuốc thì Nokaph là
hiệu quả nhất. Tuy nhiên, đây là loại thuốc rất độc và để lại dư lượng, bà con có
thể sử dụng thuốc ít độc hơn như Regent 0.3 G để rải xung quanh gốc sau khi đã
xới xáo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status