HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ
BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
KHOA VIỄN THÔNG I
***
***
ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Họ và tên: Đỗ Nhật Phong
Lớp: D08VT1
Khóa: 2008-2013
Ngành học: Điện tử - Viễn thông
Đề tài đồ án:
LẬP VÀ TÁCH BURST TRONG CHUYỂN MẠCH BURST QUANG.
Nội dung đồ án:
Tìm hiểu về sự ra đời của chuyển mạch burst quang và nền tảng cơ sở lý
thuyết của công nghệ này.
Nghiên cứu về vai trò, nguyên lý hoạt động của quá trình lập và tách
burst. Từ đó tìm ra những vấn đề còn tồn tại và hướng xử lý.
Đưa ra những đề xuất về cấu trúc phần cứng của khối lập và tách burst áp
dụng trong thực tiễn.
Ngày giao đề tài: 01/10/2012
Ngày nộp đề tài: 01/12/2012
Hà Nội, Ngày……tháng……năm 2012
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS. Bùi Trung Hiếu
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Điểm : …… ( Bằng chữ………)
Hà Nội, Ngày……tháng……năm 2012
Giáo viên phản biện
Đồ án tốt nghiệp Đại học Lời mở đầu
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, việc phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật trong
ứng dụng chế tạo các thiết bị công nghệ tiên tiến đã kéo theo nhu cầu sử dụng lưu
lượng truyền thông đa phương tiện gia tăng nhanh chóng. Chính sự bùng nổ về yêu
cầu sử dụng băng thông cao đó đã đòi hỏi hệ thống mạng truy cập cũng như hạ tầng,
kỹ thuật mạng truyền tải cần có những cải tiến nhằm đáp ứng tốt với tình hình hiện
nay. Kỹ thuật WDM, ghép kênh theo bước sóng đã ra đời và ngày càng phát triển để
phục vụ tốt nhu cầu lưu lượng đang gia tăng theo từng ngày.
Một vấn đề đặt ra với hệ thống mạng truyền tải quang hiện nay là kỹ thuật
- Chương 3: Đề xuất cấu trúc khối lập và tách burst.
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 4
Đồ án tốt nghiệp Đại học Lời mở đầu
Dựa trên những tìm hiểu ở chương 2, đưa ra những đề xuất về cấu trúc phần
cứng của khối lập và tách burst áp dụng trong thực tiễn.
Trong quá trình thực hiện đồ án, em đã được thầy giáo Bùi Trung Hiếu tận tình
hướng dẫn, giải đáp những khúc mắc mà em còn vướng phải, giúp em hiểu kỹ càng
hơn về vấn đề kỹ thuật, công nghệ. Qua đồ án này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến thầy. Do đây là lần đầu tiên em thử sức với một nghiên cứu chuyên sâu, nên
không tránh khỏi những thiếu sót, em mong thầy Hiếu cùng với các thầy cô giáo trong
trường nhận xét và chỉ bảo giúp em ngày càng hoàn thiện hơn, không chỉ là trong giới
hạn của đồ án này. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2012
Sinh viên
Đỗ Nhật Phong
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 5
Đồ án tốt nghiệp Đại học Mục lục
Mục lục
Lời mở đầu 1
Mục lục 3
Thuật ngữ viết tắt 5
Chương 1. Kỹ thuật chuyển mạch burst quang 8
1.1 Khái niệm về chuyển mạch burst quang 8
1.1.1 Sự ra đời của công nghệ chuyển mạch burst quang 8
1.1.2 Kỹ thuật chuyển mạch burst quang (OBS) 10
1.2 Nền tảng cơ sở của kỹ thuật chuyển mạch burst quang 16
1.2.1 Kiến trúc mạng chuyển mạch burst quang 16
1.2.2 Quá trình lập và tách burst 17
1.2.3 Quá trình truyền dữ liệu và tín hiệu điều khiển trong mạng OBS 18
1.3 Tóm tắt chương 21
BA Burst Assembler Lập Burst
BAM Burst Assembly Module Khối lập Burst
BCP Burst Control Packet Gói tin điều khiển Burst
C Classifier Khối phân loại dịch vụ
CCG Control Channel Group Nhóm kênh điều khiển
CoS Class of Service Lớp/Loại dịch vụ
DCG Data Channel Group Nhóm kênh dữ liệu
DEMUX Wavelength demultiplexer Bộ chia kênh bước sóng
DIR
Destination-initiated
Reservation
Đăng ký khởi đầu tại đích
DLE
Dynamic Lightpath
Establishment
Thiết lập đường quang động
DP Drop Policy Tiêu chí loại bỏ
DR Deflection Routing Định tuyến lệch hướng
DR Delayed Reservation Đăng ký trễ
DWR-
OBSM
Dynamic Wavelength Routing-
Optical Burst Switching Mesh
OBS định tuyến theo bước sóng động
E/O Electrical/Optical converter Bộ chuyển đổi điện quang
FDL Fiber Delay Lines Đường trễ quang
INI
Intermediate Node-initiated
Reservation
Đăng ký khởi đầu tại nút trung gian
Routing and Wavelength
Assignment
Định tuyến và gán bước sóng
SCU Switch control unit Điều khiển chuyển mạch
SDP Segmentation Policy Tiêu chí phân đoạn
SIR Source-initiated Reservation Đăng ký khởi đầu tại nguồn
SLE Static Lightpath Establishment Thiết lập đường quang tĩnh
TAG Tell And Go (tên giao thức)
TAW Tell And Wait (tên giao thức)
WC Wavelength Conversion Chuyển đổi bước sóng
WDM
Wavelength Division
Multiplexing
Chuyển mạch Burst quang cấu hình
Mesh định tuyến bước sóng động
WRN Wavelength-routed network Mạng định tuyến bước sóng
WR-
OBS
Wavelength-routed optical Burst
switching
Chuyển mạch Burst quang định tuyến
bước sóng
WRON
Wavelength-routed optical
network
Mạng quang định tuyến bước sóng
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 9
Đồ án tốt nghiệp Đại học Chương I. Kỹ thuật chuyển mạch burst quang
CHƯƠNG I. KỸ THUẬT CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
1.1 Khái niệm về chuyển mạch burst quang (Optical Burst Switching).
trong mạng truyền tải trong từng giai đoạn.
Hình 1.2 Xu hướng phát triển công nghệ mạng truyền tải quang.
Trong thế hệ mạng thứ nhất, kiến trúc mạng quang sử dụng các liên kết WDM
điểm - điểm (Point to Point WDM). Khi đó, mạng quang bao gồm một số liên kết
điểm-điểm mà tại đó tất cả lưu lượng đến một nút được lấy ra, chuyển đổi quang sang
điện, xử lý điện và chuyển đổi từ điện sang quang trước khi được truyền đến nút khác.
Việc lấy ra, xử lý và cộng vào lưu lượng tại mỗi nút đòi hỏi một độ trễ lớn nhất định,
làm tăng chi phí mạng. Đó là nhược điểm lớn nhất và cần khắc phục trong thế hệ thứ
nhất này.
Trong thế hệ mạng quang thứ hai, kiến trúc mạng quang dựa trên các bộ xen rẽ
bước sóng quang OADM (Optical Add-Drop Multiplexer). OADM cho phép lựa chọn
các kênh bước sóng trên một sợi để kết cuối, trong khi không động chạm đến các
bước sóng khác. Thông thường, lưu lượng đi qua một nút cao hơn đáng kể so với
lượng lưu lượng tách/ghép xen tại nút này. Bằng việc sử dụng OADM chúng ta có thể
giảm chi phí xử lý tín hiệu trên mạng đã nêu ở thế hệ thứ nhất.
Trong kiến trúc mạng quang thế hệ thứ ba, để xây dựng một mạng mesh bao
gồm các liên kết sợi đa bước sóng, cần có các thiết bị thích hợp kết nối quang. Một
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 11
Đồ án tốt nghiệp Đại học Chương I. Kỹ thuật chuyển mạch burst quang
trong những thiết bị quan trọng cần thiết trong kiến trúc thế hệ thứ ba này là chuyển
mạch chủ động (Active Switcher). Đây là một thiết bị định tuyến bước sóng từ các lối
vào sợi quang và có thể hỗ trợ kết nối liên tục. Nhưng khác với bộ định tuyến thụ
động, chuyển mạch chủ động có thể cấu hình lại để thay đổi mô hình các bước sóng
vào và ra.
Hệ thống mạng toàn quang khi được triển khai, sẽ có thể cung cấp các kết nối
trong miền chuyển mạch kênh quang hay kênh quang giữa các bộ định tuyến biên qua
một mạng lõi quang. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu, các kết nối kênh quang là hoàn toàn
tĩnh, chúng không thể tự cung cấp khả năng truyền tải hàng loạt lưu lượng Internet
một cách hiệu quả.
Lý tưởng nhất, để cung cấp một mạng quang với khả năng phục vụ tốt nhất là sử
Tìm đường và gán bước sóng cho đường quang được gọi là bài toán RWA
(Routing and Wavelength Assignment). Thông thường, yêu cầu kết nối có thể có hai
loại, tĩnh và động. Trong thiết lập đường quang tĩnh (Static Lightpath Establishment -
SLE), toàn bộ các kết nối được biết trước, và vấn đề là phải thiết lập đường quang sao
cho tối thiểu hóa tài nguyên mạng cũng như số lượng bước sóng hoặc số sợi quang sử
dụng. Đối với thiết lập đường quang động (Dynamic Lightpath Establishment - DLE),
một đường quang được thiết lập cho mỗi yêu cầu kết nối khi nó đến, và đường dẫn
quang này sẽ được giải phóng sau một khoảng thời gian hữu hạn. Mục tiêu trong
trường hợp định tuyến động là để thiết lập đường quang và gán bước sóng theo một
cách nào để giảm thiểu số lượng kết nối bị chặn hay tối đa hóa số lượng kết nối được
thiết lập thành công trong mạng tại một thời điểm bất kỳ.
Kết nối đường quang trong mạng định tuyến bước sóng là tĩnh, có thể không phù
hợp với tính đa dạng và bùng phát của lưu lượng Internet một cách hiệu quả. Rõ ràng
là nếu lưu lượng đến thay đổi động, thì việc gửi lưu lượng trên đường quang tĩnh này
sẽ cho kết quả là việc sử dụng băng thông không hiệu quả. Để có thể đáp ứng được
yêu cầu về băng thông lớn trong mạng đô thị và mạng diện rộng, những phương thức
truyền tải phải hỗ trợ việc dự trữ tài nguyên và có khả năng truyền được lưu lượng đột
biến. Nhưng nếu chúng ta cố gắng thiết lập đường quang động, thì thông tin trạng thái
mạng sẽ thay đổi liên tục, gây khó khăn để duy trì mạng lưới thông tin trạng thái hiện
tại. Hơn nữa, dự trữ trong WRN là dự trữ hai chiều, khi có nhu cầu, nguồn gửi yêu cầu
thiết lập đường dẫn quang và nhận về một xác nhận từ đích tương ứng là kết nối đã
được thiết lập cho dù kết nối này có dung lượng bao nhiêu, do vậy việc sử dụng băng
thông không hiệu quả về mặt kinh tế. Do đó, cần có cách tiếp cận khác để truyền tải
dữ liệu qua mạng một cách hiệu quả.
Chuyển mạch gói quang (OPS - Optical Packet Switching)
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 13
Đồ án tốt nghiệp Đại học Chương I. Kỹ thuật chuyển mạch burst quang
Khi công nghệ chuyển mạch quang phát triển, đã có nhiều nghiên cứu đề xuất
mạng chuyển mạch gói quang, trong đó các gói tin được chuyển mạch và định tuyến
độc lập qua mạng hoàn toàn trong miền quang mà không cần chuyển đổi thành tín
4
(2x2) với thời gian chuyển mạch nhỏ hơn 10ns có thể là ứng viên phù hợp cho
OPS, tuy nhiên giá thành của chúng hiện tại vẫn còn khá cao.
Một thách thức khác trong chuyển mạch gói quang là đồng bộ hóa. Trong mạng
chuyển mạch gói quang với các gói dữ liệu có độ dài không cố định, đồng bộ hóa các
gói tin tại các cổng đầu vào chuyển mạch là cần thiết để giảm thiểu tranh chấp. Tuy
nhiên, việc đồng bộ là thực sự khó khăn, mới chỉ có một vài đề xuất và tất cả mới chỉ
được tiến hành trong các phòng thí nghiệm.
Vì tài nguyên mạng không được dành trước trong chuyển mạch gói quang, nên
giữa các gói hoàn toàn có thể xảy ra tranh chấp (khi hai hay nhiều gói cùng yêu cầu
chuyển mạch tại một cổng đầu vào tại cùng một thời điểm). Đối với chuyển mạch gói
thông thường, tranh chấp sẽ được giải quyết dễ dàng nhờ các bộ đệm. Nhưng trong
miền quang, đây lại là một khó khăn thực sự. Bởi hiện tại, trong cấu trúc quang, người
ta vẫn chưa tìm ra được một thiết bị quang học nào tương đương với RAM (Random
Access Memory) trong miền điện. Có một giải pháp tạm thời là sử dụng các bộ đường
dây trễ quang. Tuy nhiên giải pháp này vấp phải một vấn đề lớn, đó là giới hạn không
gian. Rõ ràng, không thể chứa một bộ dây trễ quá lớn trong một trạm chuyển mạch.
Và như vậy, kích thước bộ đệm quang sử dụng đường dây trễ rất hạn chế. Do vậy,
mạng chuyển mạch gói quang, trong khi vẫn còn thiếu Optical-RAM nên chưa sẵn
sàng để triển khai thực tế.
Về nguyên tắc chuyển mạch gói toàn quang tức là gói tiêu đề cũng được xử lý
trong miền quang phải trong nhiều năm nữa mới thực hiện được. Tuy nhiên, hiện tại
công nghệ chưa cho phép nên chuyển mạch gói quang xử lý tiêu đề trong miền điện.
Trong chuyển mạch gói OPS mào đầu gói được xử lý và so sánh với một bảng định
tuyến để nút thực hiện chuyển mạch. Điều quan trọng là tải tin được truyền trong
miền toàn quang trong suốt trong quá trình chuyển mạch.
Chuyển mạch burst quang (Optical Burst Switching)
Với những nhược điểm cần được khắc phục của chuyển mạch kênh quang, cũng
như những vấn đề còn tồn tại, chưa thể giải quyết ngay được của chuyển mạch gói
quang, một giải pháp chuyển mạch mới được đề xuất, nhằm đáp ứng sự tăng trưởng
- Không cần bộ đệm quang: Nút trung gian trong mạng quang không yêu cầu
phải có bộ đệm quang, các burst đi xuyên qua các nút trung gian mà không có bất kỳ
sự trễ nào.
Các burst có độ dài không cố định, bao gồm hai phần: gói tin điều khiển
(Control packet) và phần thông tin dữ liệu (Data burst). OBS thực hiện việc truyền
độc lập gói tin điều khiển burst và burst dữ liệu trên các kênh bước sóng khác nhau.
Thông tin trong gói tin điều khiển gồm có chiều dài burst, thời điểm phát burst, các
thông tin định tuyến. Gói tin điều khiển được truyền đi trước burst dữ liệu một khoảng
thời gian được gọi là “offset time” để cấu hình các chuyển mạch trong suốt đường đi
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 16
Đồ án tốt nghiệp Đại học Chương I. Kỹ thuật chuyển mạch burst quang
từ nguồn tới đích. Thời gian offset được tính bằng trễ xử lý gói tin điều khiển tổng
cộng tại tất cả các nút trung gian. Đây là một khác biệt cơ bản giữa chuyển mạch
burst quang so với chuyển mạch gói quang. Khoảng thời gian này cho phép thông tin
điều khiển được xử lý tại mỗi nút chuyển mạch và các nút sắp xếp tài nguyên
kênh bước sóng cho việc truyền burst dữ liệu dựa trên thông tin trong gói tin điều
khiển. Với OBS không yêu cầu phải xử lý gói tin điều khiển trong miền
quang. OBS sử dụng các mô hình dự trữ kênh và báo hiệu để dự trữ tài nguyên
kênh bước sóng.
Hình 1.6 chỉ ra hoạt động của chuyển mạch burst quang với thời gian bù.
Hình 1.6 Thời gian offset trong OBS.
Như vậy, bằng cách chiếm dụng tài nguyên chỉ trong một thời gian quy định cụ
thể chứ không phải trong một khoảng thời gian không xác định, các nguồn tài nguyên
có thể được phân bổ một cách hiệu quả. Chuyển mạch burst quang đã khắc phục một
số hạn chế của phân bổ băng thông tĩnh phát sinh trong chuyển mạch kênh quang.
Hơn nữa, dữ liệu được truyền là một burst lớn, đã cho phép giảm các yêu cầu công
nghệ cao đối với thiết bị chuyển mạch quang hơn đòi hỏi của chuyển mạch gói quang.
So sánh các công nghệ chuyển mạch.
Có thể thấy chuyển mạch kênh quang chỉ chuyển mạch cho một bước sóng
trên một đường quang nên không còn thích hợp cho mạng WDM hiện nay.
một mạng OBS có thể là các nút biên hay nút lõi như trong hình 1.8. Nút biên chịu
trách nhiệm tập hợp các gói tin vào các burst, lập kế hoạch để truyền đi trên bước
sóng kênh. Nút lõi chủ yếu chịu trách nhiệm để chuyển chuyển mạch các burst từ
cổng vào với cổng đầu ra dựa trên các gói tiêu đề, và xử lý tranh chấp giữa các burst.
Khi có một yêu cầu truyền tải, nút biên đầu vào (ingress edge node) có nhiệm vụ
tập hợp các gói tin đến từ các thiết bị đầu cuối của khách hàng vào các burst. Các
burst được thiết lập này sẽ được truyền trong miền toàn quang qua các bộ định tuyến
lõi OBS mà không cần bất kỳ lưu trữ tại các nút trung gian trong phần lõi. Nút biên
đầu ra (egress edge node), khi nhận được burst, tách burst thành các gói và chuyển
tiếp các gói tin đến các thiết bị đầu cuối của khách hàng.
1.2.2 Quá trình lập và tách burst.
Như đã trình bày ở trên, các gói tin cần truyền, nhận được từ thiết bị đầu cuối
của khách hàng, sẽ được tập hợp thành các burst tại nút biên nguồn. Quá trình đó
được gọi là “Lập burst” (Burst Assembly). Sau khi được chuyển mạch qua các nút lõi,
tới nút biên đích tương ứng, burst sẽ được tách ra thành các gói tin, sau đó chuyển tới
thiết bị đầu cuối của khách hàng nhận. Quá trình đó được gọi là “Tách burst” (Burst
Deassembly).
Lập burst (Burst Assembly).
Lập burst được định nghĩa là quá trình tập hợp các loại dữ liệu đến khác nhau từ
người dùng vào burst ở nút biên nguồn của mạng OBS. Khi các gói tới, chúng được
đệm trong miền điện theo đích và lớp (class). Do đó cơ chế lập burst phải đặt các gói
vào burst theo một số chính sách lập burst.
Hình 1.9 mô tả quá trình lập burst.
Hình 1.9 Quá trình lập burst.
Yếu tố then chốt trong lập burst là tạo ra các tiêu chuẩn xác định khi nào tạo
burst và gửi nó vào mạng. Tiêu chuẩn này rất quan trọng vì nó quyết định đặc tính của
quá trình đến của burst trong mạng lõi OBS. Hiện tại có một số kỹ thuật lập burst và
loại phổ biến nhất là timer-based (dựa trên ngưỡng thời gian) và threshold-based (dựa
trên ngưỡng độ dài).
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 19
điều khiển đã được truyền xong và nút nguồn không cần đợi phản hồi từ nút đích. Bởi
vậy giá trị Offset là khoảng giữa thời gian truyền của gói điều khiển và trễ một chiều
của gói điều khiển.
- Dành riêng hai chiều: Offset là thời gian cần thiết để nhận được một sự xác
nhận (phản hồi) của nút đích báo lại là gói tin điều khiển đã được truyền xong. Loại
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 20
Đồ án tốt nghiệp Đại học Chương I. Kỹ thuật chuyển mạch burst quang
này giống chuyển mạch kênh quang, nó phải chịu một thời gian trễ hai chiều để thiết
lập đường truyền dẫn, và từ đó duy trì tài nguyên gói điều khiển, sự phân phát các
burst được bảo đảm. Tuy nhiên thời gian offset dài, gây trễ dữ liệu lớn.
Mô tả quá trình truyền dữ liệu trong chuyển mạch burst quang.
Hình 1.11 Quá trình truyền dữ liệu trong mạng OBS.
Giao thức điều khiển trong chuyển mạch burst quang.
Trong mạng chuyển mạch burst quang để truyền burst đi người ta sử dụng giao
thức để điều khiển và đăng kí tài nguyên tại các nút. Các giao thức đặc trưng nhất là
Tell And Go (TAG), Tell And Wait (TAW) và Just In Time (JIT), Just Enough Time
(JET).
Hình 1.12 Mô tả quá trình đăng ký tài nguyên theo phương thức TAG.
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 21
Đồ án tốt nghiệp Đại học Chương I. Kỹ thuật chuyển mạch burst quang
Trong giao thức điều khiển TAG độ rộng băng được đăng ký mức burst, sử dụng
xử lý một chiều và quan trọng hơn đó là các burst được truyền liên tục qua các nút
trung gian, khác với phương thức TAW có sử dụng bản tin xác nhận kết nối.
Đây là phương pháp giành trước lập tức, tức là khi gói điều khiển đi burst cũng
được truyền ngay. Trong phương thức điều khiển “Tell and Go” gói điều khiển được
truyền đi trên một kênh điều khiển và theo sau là burst dữ liệu được truyền đi ngay lập
tức trên kênh dữ liệu mà không cần đợi bản tin ACK của gói điều khiển. Trong
phương thức này thời gian bù của chuyển mạch burst bằng 0 hoặc có giá trị nhỏ.
Phương thức “Tell and Wait”.
Hình 1.13 Mô tả quá trình đăng ký tài nguyên theo phương thức TAW.
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 23
Đồ án tốt nghiệp Đại học Chương I. Kỹ thuật chuyển mạch burst quang
công nghệ đều có những nhược điểm, những hạn chế riêng cần được khắc phục. Đối
với chuyển mạch kênh quang chính là vấn đề độ trễ lớn và lãng phí băng thông. Còn
đối với chuyển mạch gói quang, nhược điểm lớn nhất chính là những hạn chế của kỹ
thuật công nghệ hiện tại khiến cho việc xây dựng một mạng chuyển mạch gói là chưa
khả khi. Giải pháp trong tình hình hiện nay chính là công nghệ chuyển mạch burst
quang – một công nghệ cân bằng cả ưu điểm và nhược điểm của hai công nghệ trên.
Khái niệm cơ bản của chuyển mạch burst quang cùng với nền tảng cơ sở của kỹ thuật
chuyển mạch burst quang cũng được trình bày, và có thể thấy được rằng hoàn toàn có
thể ứng dụng kỹ thuật này vào mạng truyền tải trong hoàn cảnh khoa học hiện nay.
Đỗ Nhật Phong – D08VT1 24
Đồ án tốt nghiệp Đại học Chương II. Lập và tách burst trong OBS
CHƯƠNG II. LẬP VÀ TÁCH BURST TRONG OBS
2.1 Vai trò “Lập và tách burst” trong chuyển mạch burst quang.
Mạng chuyển mạch burst quang (OBS Network).
Một mạng chuyển mạch burst quang bao gồm các nút chuyển mạch burst được
kết nối với nhau thông qua các liên kết quang. Mỗi liên kết quang có khả năng hỗ trợ
nhiều kênh bước sóng sử dụng ghép kênh phân chia bước sóng. Các nút trong một
mạng OBS có thể là các nút biên hay nút lõi. Nút biên chịu trách nhiệm tập hợp các
gói tin vào các burst, lập kế hoạch để truyền trên đi bước sóng kênh. Nút lõi chủ yếu
chịu trách nhiệm để chuyển mạch các burst từ cổng vào với cổng đầu ra dựa trên các
gói tiêu đề, và xử lý tranh chấp giữa các burst.
Hình 2.1 là một ví dụ về mạng chuyển mạch burst quang.
Hình 2.1 Kiến trúc mạng OBS.
Trong OBS, gói tin điều khiển và gói tin dữ liệu burst tương ứng của nó được
truyền đi từ nút biên nguồn và được truyền cách nhau một khoảng thời gian gọi là thời
gian bù. Gói điều khiển chứa thông tin cần thiết để định tuyến gói tin qua mạng, chiều
dài gói dữ liệu tương ứng. Thông thường gói điều khiển được gửi đi trên một kênh
bước sóng riêng và xử lý bằng tín hiệu điện tại mỗi nút trung gian để xác lập tuyến