Bộ Nơng Nghiệp và Phát triển nơng thơn
_____________________________________________________________________
036/04VIE
ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA VIỆC ỨNG DỤNG BIỆN PHÁP
“FFS” TRONG QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HP TRÊN
CÂY CÓ MÚI TẠI VIỆT NAM MS7: Nơng dân tham gia ứng dụng kỹ năng quản lý
dịch hại tổng hợp
1
Thông tin chung
Tên dự án
Đánh giá tính hiệu quả của các lớp
huấn luyện nông dân qua thực nghiệm
(FFS) trong việc thực hiện quản lý dịch
hại tổng hợp trên cây có múi tại Việt
Nam
Cơ quan thực hiện phía Việt Nam
Cục Bảo vệ thực vật
Người điều phối tại Việt Nam
Ông Hồ Văn Chiến
Tổ chức thực hiện phía Úc
Trường Đại học Tây Sydney
+6124736 0631
Chức vụ:
Giám đốc, Khoa nghiên cứu
Fax:
+6124736 0905
Tổ chức
Trường Đại học Tây Sydney
Email: Ở Việt Nam
Tên
Ông Hồ Văn Chiế
n
Điện thoại:
+8473834476
Chức vụ:
Giám đốc
Fax:
+8473834477
Tổ chức
Trung tâm bảo vệ thực vật phía Nam
Email:
2
1. Mục tiêu
Mục tiêu cần đạt được của dự án trong giai đoạn này là hoàn thiện việc phân tích thay đổi
trong hoạt động của những người được hưởng lợi từ dự án (đánh gía trước và sau của dự
cực đến đội ngũ cộng sự phía Úc và Việt Nam và nó quả thực đã chứng tỏ rằng các FFS là
một kiểu có thể ứng dụng một cách hiệu quả. Thành công của hình thức FFS đã được đánh
giá trước tiên là nhờ vào sự h
ăng hái của các huấn luyện viên và nông dân đã hết sức nổ lực
và sự mong muốn tham gia tiếp tục các FFS khác nữa của họ. Mặc dù giáo trình in ấn cần
được cải thiện nhưng thực sự nó đã có một giá trị rất căn bản hổ trợ cho giáo trình in ấn trong
dự án này.
Dự án này đã đặt trọng tâm vào các tiểu nông hơn so với dự án trước đó. Một số lượng lớn
huấn luyện viên (120) và nông dân (2300) đã được huấn luyện và chúng ta tin rằng con số
được huấn luyện này đủ sức làm ngòi nổ để kích cho các hoạt động quản lý dịch hại tổng hợp
trong cộng đồng nơi mà các FFS đã được mở ra. Đã có một thay đổi lớn trong phương pháp
điều hành dự án thứ 2 so với dự án CARD trước đó. Dự án trước được điều hành chủ yếu từ
phía Úc và nh
ững ấn phẩm được viết chủ yếu cũng bởi các nhà khoa học Úc. Tuy nhiên, dự
án này được điều hành bởi các cộng sự viên Việt Nam và vai trò của nhóm UWS (thay đổi
một cách có ý nghĩa so với dự án trước) là điều phối hổ trợ, giúp cho mọi việc được thuận lợi
hơn. Nội dung huấn luyện đã được thay đổi một cách có ý nghĩa hơn rằng là không phải chỉ
còn dự
a trên cơ sở quản lý dịch hại tổng hợp, mà là dựa trên nền tảng quản lý mùa vụ. Tất cả
những ấn phẩm (2 quyển sách và 1 bộ áp phích giảng dạy) đã được viết bởi những người Việt
Nam dưới sự trợ giúp của nhóm người Úc.
3
Đánh giá tác động của dự án đã trở thành một phần quan trọng của dự án hiện tại này. Cái
quan trọng trước tiên là khảo sát Kiến thức, Quan điểm và Thực tiễn của người nông dân
trước và sau khi có sự tác động của dự án. Hầu như tất cả nông dân (hơn 2000) tham dự ở các
FFS đều trải qua cuộc khảo sát. Thông qua việc thực hiện dự án và nhóm thực hiện dự án đ
ã
hiểu biết thêm được nhiều hơn về tác động của dự án thông qua việc khảo sát Kiến thức
ích của FFS. Tuy nhiên, sự giới hạn này đã được hạn chế đến mức thấp nhất bằng việc sử
dụng một số lượng lớn các mẫu khảo sát và phép đạc tam giác gồm: những cuộc khảo sát,
những cuộc phỏng vấn giữa khoá và những quan sát thực tế
trên đồng ruộng. Kết quả được
đánh giá bằng việc so sánh dọc (ví dụ như sự so sánh trước và sau khi huấn luyện). Theo kiểu
đánh giá này thì cũng có một giới hạn của nó đó là những tác động của các FFS đôi khi bị
biến động theo thời gian chẳn hạn như sự khác nhau về năng suất và giá cả thị trường biến
động từ năm này đến năm khác. Dù vậy việc nghiên cứ
u tác động đã được thực hiện ở những
vùng khác nhau, trong nhiều tỉnh (9) và trên những chủng loại cây có múi khác nhau (cam,
quýt và bưởi) để giảm ảnh hưởng biến động của thời gian. Tuy nhiên thật là tiếc rằng việc kết
hợp so sánh theo chiều dọc và chiều ngang đã không thể thực hiện được vì quả thực chúng
tôi không đủ kinh phí.
Trong đánh giá tác động này chúng tôi đã không so sánh trực tiếp những kết qủa phỏng vấ
n
với những kết quả điều tra cơ bản đã trình bày trong những báo cáo mốc thời gian 4 và 6.
Tuy nhiên, kết quả điều tra cơ bản đã là một kinh nghiệm rất quan trọng cho cả hai điều phối
viên dự án phía Úc và Việt Nam từ đó giúp chúng tôi hiểu được nhiều hơn về những gì mà
người nông dân trồng cây có múi ở những vùng khác nhau của Việt Nam cần và để loại bớt
nhiề
u khái niệm mà đã được tập hợp trong đề cương dự án mà chúng tôi không thể thực hiện.
4
Dù kết quả những nghiên cứu cơ bản đã cho chúng tôi một cái nhìn tổng quát thực hợp lý về
thực tiễn sản xuất cây có múi ở 12 tỉnh qua số lượng nông dân được phỏng vấn nhưng thực
sự số lượng mẫu đánh gía đó cũng còn rất nhỏ trong đánh giá tác động của dự án, vì thế sự so
sánh trực tiếp của số liệu thì không thích đáng.
1.1.2.1 Khả
o sát và phân tích Kiến Thức Quan điểm và Thực tiễn
ững dạng chính sau: sự thay đổi trong canh tác, những tác động về
kinh tế, những tác động về xã hội, và những tác động về môi trường. Việc đòi hỏi những
người được điều tra phải chứng minh bằng những sổ ghi chép thực hành trong trang trại khi
có thể. Tuy nhiên những người được điều tra thường không có giữ sổ chi chép và đã báo cáo
bằng nhận thức của họ. Những ghi chép của ngườ
i được điều tra được ghi nhận lại khi họ đưa
ra sổ ghi chép của mình. Ở mỗi xã được tham quan, nhóm nông dân cũng được điều tra để
xác định thái độ của họ đối với việc sử dụng thuốc BVTV. Việc điều tra nhóm gồm có 7 câu
hỏi và được hướng dẫn bằng cách đọc từng câu hỏi và yêu cầu giơ tay trả lời 1 trong 3 đáp án
(không đúng, có lẻ đúng, hoàn toàn
đúng). Những nông dân được yêu cầu để chọn câu trả lời
tiêu biểu nhất theo thái độ của họ, và số lượng nông dân lựa chọn câu trả lời cho mỗi câu hỏi
được ghi nhận lại.
1.1.2.3 Phân tích so sánh lợi nhuận từ việc sản xuất cây có múi và kinh phí của FFS
1.1.2.4 Khảo sát những lợi nhuận chính
Những cán bộ then chốt từ những tổ chức lớn tham gia vào dự án cũng đòi hỏi ph
ải hoàn
thành khảo sát về những ấn tượng của họ đối với những ảnh hưởng của dự án. Việc khảo sát
5
được gởi bằng thư điện tử đến người được điều tra bao gồm 2 phần mà 2 phần này phải được
hoàn thành cũng bằng thư điện tử. Phần 1 gồm 6 câu hỏi đòi hỏi câu trả lời được viết ra (phụ
lục 2) và phần 2 gồm 5 câu hỏi đỏi hỏi người trả lời trình bày nhận thức về những quan điểm
c
ủa họ đối với những tác động, mối liên hệ và sự xác nhận theo mức độ từ thấp đến cao bằng
cách đánh dấu X trên hàng cho mỗi câu hỏi (Phụ lục 3).
từ 300 nông dân.
Tuổi trung bình của những nông dân được điều tra là 44 tuổi ở ĐBSCL và 45 tu
ổi ở miền
Trung. Trình độ học vấn trung bình ở miền Trung là lớp 9 và lớp 8 ở ĐBSCL. Người trồng
cây có múi ở ĐBSCL có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng cây có múi trung bình là 7 năm
kinh nghiệm so với nông dân miền trung là 5.3 năm kinh nghiệm. Phần lớn nông dân ở cả 2
miền đều là thành viên thuộc hội nông dân với tỷ lệ lần lượt là 58% và 63% ở miền Trung và
ĐBSCL. Ở ĐBSCL 2.1% nông dân tham gia hợp tác xã và 2.3% nông dân khác là thành viên
của câu lạc bộ khuy
ến nông. Ở miền Trung 1.4% nông dân là thành viên của HTX và 1%
nông dân là thành viên của câu lạc bộ khuyến nông. Phần lớn những nông dân được điều tra
có TV (94.2% ở ĐBSCL và 88.7% miền Trung ) trong khi không đến một nữa nông dân có
điện thoại (37.7% ở ĐBSCL và 40.6% ở miền Trung) và chỉ một tỷ lệ nhỏ có 1 máy vi tính
(4.6% ở ĐBSCL và 6.2% miền Trung).
Ở ĐBSCL loại cây có múi chiếm ưu thế là bưởi (34.9%) theo sau là cam (32.7%), quýt
(22.5%) và chanh (9.9%). Ở ĐBSCL người ta đã xếp một gi
ống cây có múi mà có tên gọi
thông thường là “Cam Sành” vào trong nhóm cam theo như số liệu đã được đánh giá như
6
trên. Nhưng thực ra “Cam sành” xét về các đặc tính thực vật học thì nó thuộc về nhóm quýt.
Nếu cam sành mà được xếp chung với nhóm Quýt Tiều thì chúng sẽ là nhóm cây có múi
chiếm ưu thế ở ĐBSCL tiếp theo sau là cây bưởi. Ở miền Trung, cam là loại cây có múi được
nông dân trồng chiếm ưu thế (41.0%) kế đến là cây chanh (24.4%), bưởi (23.8%) và quýt
(10.8%). Trung bình tuổi cây ở ĐBSCL là 4.25 năm trong khi ở miền Trung là 5.2 năm. Mật
độ cây có sự khác biệt cao một cách có ý nghĩa giữa
ĐBSCL so với miền Trung. Ở ĐBSCL
quýt và cam được trồng với mật độ trung bình là 1600 cây/ha (2.5 x 2.5) và bưởi với mật độ
là 493 cây/ha (4.5 x 4.5). Ở miền Trung cây quýt được trồng với mật độ trung bình là 714
cây/ha (3.5 x 4), cam ở mật độ là 550 cây/ha (4 x 4.5) và bưởi 330 cây/ha (5.5 x 5.5).
thuốc ở tỉnh Đồng Tháp cao hơn những nơ
i khác với 20 lần/năm thì không có gì lạ, nhưng
sau FFS số lần phun thuốc giảm xuống còn 12 - 15 lần mỗi năm. Số nông dân sử dụng dầu
khóang thì tăng từ 38% trước FFS đến 52.2% sau lớp FFS ở ĐBSCL và từ 16.6% trước FFS
đến 61.1% sau FFS ở miền Trung. Điều đó chứng tỏ có sự chuyển từ thuốc BVTV mang tính
phá huỷ môi trường sang các loại thuốc BVTV có thể chịu đựng hơn. Khuynh hướng của sự
thay đổi đó chuyển từ việc sử dụng thuốc BVTV có tính phá hủy môi trường sang thuốc
BVTV thế hệ mới ít phá hủy môi trường hơn sẽ gia tăng trong tương lai khi giá của thuốc
BVTV mới được giảm xuống. Việc phun thuốc hầu hết được thực hiện bằng bình đeo vai cho
cả hai miền với 73.6% người trả lời ở ĐBSCL và 76.6% ở miền Trung. Hầu hết việc phun
thuốc chủ yếu được làm bởi chính người nông dân và các người trong gia đình của họ, chỉ
9.4% thuê người hàng xóm ở ĐBSCL và 20.4% là ở miền Trung .
Phần lớn nông dân tin vào khóa huấn luyện này, thực hành ngoài đồng và báo cáo
chuyên đề là cách tốt nhất để truyền đạt kiến thức mới đến nông dân với 46.1% nông dân lựa
chọn phương pháp này ở ĐBSCL và 54.9% ở miền Trung. Chỉ 11.2% nông dân ở ĐBSCL và
7
8
8.9% ở miền Trung nghĩ rằng điểm trình diễn là cách tốt để học những kỹ thuật mới. 13.2%
và 8.8% người trả lời đã chọn TV như là cách hữu hiệu cho việc học lần lượt ở ĐBSCL là ở
miền Trung và chỉ có 1.5% người ở ĐBSCL và 3.3% ở miền Trung nghĩ rằng CD, DVD và
VHS là cách tốt để truyền đạt kỹ thuật mới.
Niềm tin và thái độ nông dân qua đi
ều tra đã cho thấy rằng có bị ảnh hưởng bởi sự tham
gia vào FFS, đặc biệt có liên quan đến những biện pháp kiểm soát dịch bệnh. Việc thay đổi
niềm tin điển hình khác là dinh dưỡng cho cây trồng, cách trồng cây có múi được khảo sát
giữa 2 vùng. Có một sự gia tăng đáng kể trong việc đồng ý trồng cây giống sạch bệnh sẽ cho
năng suất cao hơn đối với nông dân miền Trung nhưng không có sự
khoẻ con người và thiên địch có ích. Tất cả nông dân đều gia tăng trình độ của họ trong việc
đồng ý rằng thuốc BVTV có thể làm cho sự bộc phát trở lại của dịch hại và giảm sự đồng ý
rằng
sử dụng thuốc BVTV sẽ làm tăng năng suất và nông dân tiến bộ sử dụng nhiều thuốc trừ
dịch hại (Bảng 3). Cũng có sự không đồng ý gia tăng rằng thuốc BVTV rẽ và dễ sử dụng đối
với nông dân ĐBSCL và nông dân miền Trung năm 2005 (Bảng 3). Bệnh vàng lá gân xanh
là nỗi lo chính của vùng ĐBSCL và không thay đổi sau khi tham dự lớp FFS, mặc dù dành
ưu tiên cho những dịch hại và b
ệnh khác đã thay đổi không đáng kể (Bảng 4). Vào năm 2005
nông dân ở miền Trung cũng lo ngại về bệnh vàng lá gân xanh cả trước và sau khi tham dự
FFS. Sự lo sợ về các loại dịch hại đứng thứ hai là bệnh thối rễ và mức độ lo sợ thì không thay
đổi. Tuy nhiên, vào năm 2006 nông dân ở miền Trung thì lo sợ hơn về nhện ở trước khi tham
dự FFS và họ trở nên lo sợ hơn về sâu vẽ bùa sau khi tham dự FFS (Bảng 4). Bảng 1: Quan điểm của những người tham gia FFS về kỹ thuật trồng và bón phân cho cây có múi
Tỷ lệ trung bình
1
ĐBSCL 2005 DH miền trung 2005 ĐBSCL 2006 DH miền trung 2006
Câu hỏi khảo sát về Kiến thức, thái độ và
thực tiễn (KAP)
Trước Sau Trước Sau Trước Sau Trước Sau
Trồng cây con sạch bệnh sẽ mang lại năng
suất cáo hơn
4.20
4.16 4.34 4.52
*
4.24 4.28 4.08 4.45
* ý nghĩa ở 0.05%; **ý nghĩa ở 0.01%
1
Các con số thể hiện là số liệu trung bình: điểm số giữa 0 và 2.50 cho thấy sự không đồng ý với câu hỏi đặt ra, điểm số càng thấp cho thấy rằng
mức độ không đồng ý càng cao hơn; điểm số giữa 2.50 và 3.50 cho thấy rằng họ còn lưỡng lự trong suy nghĩ của họ hoặc là số câu trả lời đồng ý
và không đồng ý với câu hỏi đặt ra tương đương nhau; Con số gi
ữa 3.5 và 5 cho chỉ cho thấy sự đồng ý với câu hỏi đặt ra, con số này càng cao
cho thấy mức độ đồng ý càng cao hơn .
9
Bảng 2: Quan điểm của những người tham gia FFS về các dịch hại và bệnh chính trên cây có múi
Tỷ lệ trung bình
1
ĐBSCL 2005
DH miền Trung
2005
ĐBSCL 2006
DH miền Trung
2006
Câu hỏi khảo sát về Kiến thức, thái độ và
thực tiễn (KAP)
Trước Sau Trước Sau Trước Sau Trước Sau
Bệnh vàng lá greening có thể được quản
lý bằng việc sử dụng cây giống sâch bệnh
và quản lý vườn bằng cách phòng trừ rầy
chổng cánh
3.61
Cây bị tấn công bởi sâu vẽ bùa sẽ cho
năng suất thấp hơn
4.24
4.18 3.94 4.30
**
4.11 4.09 3.95 4.30
**
Kiểm soát nhện chỉ quan trọng trong mùa
khô
3.39 3.40 3.37 3.17 3.53 3.62 3.41 3.35
Rầy mềm phải được phòng trị ngay bằng
thuốc hoá học khi chúng vừa mới xuất
hiện trên cây
4.20
4.12 3.96 3.92 4.19 3.95
**
3.72 3.96
**
*ý nghĩa ở 0.05%; ** ý nghĩa ở 0.01%
1
Các con số thể hiện là số liệu trung bình: điểm số giữa 0 và 2.50 cho thấy sự không đồng ý với câu hỏi đặt ra, điểm số càng thấp cho thấy rằng
mức độ không đồng ý càng cao hơn; điểm số giữa 2.50 và 3.50 cho thấy rằng họ còn lưỡng lự trong suy nghĩ của họ hoặc là số câu trả lời đồng ý
và không đồng ý với câu hỏi đặt ra tương đương nhau; Con số gi
ữa 3.5 và 5 cho chỉ cho thấy sự đồng ý với câu hỏi đặt ra, con số này càng cao
cho thấy mức độ đồng ý càng cao hơn .
**
4.35 4.63
**
4.33 4.67
**
Dùng thuốc trừ sâu sẽ gây tái phát dịch
hại
3.01
3.31
**
2.67 3.49
**
2.79 3.48
**
2.85 4.05
**
Dùng thuốc trừ sâu sẽ làm gảim thiên
địch (côn trùng có lợi)
4.12
4.25
**
3.72 4.33
**
4.06 4.49
**
4.06 4.65
**
Nếu bạn sử dụng cây giống sâch bệnh và
2.27 2.37
* ý nghĩa ở 0.05%; **ý nghĩa ở 0.01%
1
Các con số thể hiện là số liệu trung bình: điểm số giữa 0 và 2.50 cho thấy sự không đồng ý với câu hỏi đặt ra, điểm số càng thấp cho thấy rằng
mức độ không đồng ý càng cao hơn; điểm số giữa 2.50 và 3.50 cho thấy rằng họ còn lưỡng lự trong suy nghĩ của họ hoặc là số câu trả lời đồng ý
và không đồng ý với câu hỏi đặt ra tương đương nhau; Con số gi
ữa 3.5 và 5 cho chỉ cho thấy sự đồng ý với câu hỏi đặt ra, con số này càng cao
cho thấy mức độ đồng ý càng cao hơn . 11
12
Bảng 4: Các loại dịch hại và bệnh trên cây có múi làm người nông dân lo lắng.
Tỷ lệ nông dân lo ngại đối với các loại các loại dịch hại hay bệnh liên quan
ĐBSCL 2005
Duyên hải miền
Trung 2005
ĐBSCL 2006
Duyên hải miền
Trung 2006
Dịch hại hay bệnh
Trước Sau Trước Sau Trước Sau Trước Sau
Rầy chổng cánh n/a n/a n/a n/a 10.2 13.2 6.6 22.2
Rệp (bao gồm các lạoi rệp sáp) 14.7 9.7 3.9 1.1 15.8 12.8 11.8 4.2
Sâu vẽ bùa 4.6 4.7 15.1 15.6 4.8 3.6 20.7 23.9
Nhện 11.9 12.6 15.6 10.1 12.7 13.7 21.8 19.7
Sâu đục cành 0 0.4 15.6 11.7 0.8 0.1 5.2 2.8
Bọ xít xanh 1.5 1.2 2.8 2.2 1.6 0.8 0 0.7
Nha Trang
City
Vinh Phuong
17/11/2006 4 4
Nghe An Nghia Dan Nghia Lam 30/11/2006 5 5
Ben Tre Cho Lach Son Dinh 21/11/2006 10 4
Mo Cay Tan Phu Tay 21/11/2006 12 4
Tien Giang Cai Be My Duc Tay 22/11/2006 17 5
Cai Lay My Loi A 22/11/2006 9 4
Dong Thap Lai Vung Tan Phuoc 22/11/2006 16 5
Tra Vinh Cang Long Binh Phu 23/11/2006 10 5
Vinh Long Binh Minh My Hoa 23/11/2006 18 5
Can Tho Binh Thuy
Long Thuyen
FFS 1
24/11/2006 10 4
Binh Thuy
Long Thuyen
FFS 2
24/11/2006 8 1
Soc Trang Ke Sach An My 25/11/2006 11 5
Tổng cộng 132 53 1.1.3.2.1 Thay đổi trong kỹ thuật canh tác
Ít nhất mỗi nông dân ở mỗi tỉnh đều đề cặp đến sự giảm số lần phun thuốc nhưng thay đổi
được báo cáo phổ biến nhất trong kỹ thuật phun thuốc là sự thay đổi chủng loại thuốc trừ
dịch hại (Bảng 6). Thuốc trừ dịch hại thế hệ mới được chấp nhận nhiều nhất là d
giàm giảm chi phí đầu vào. Gia tăng năng suất cũng đã được ghi nhận ngoại trừ với nông dân
tỉnh Vĩnh Long (Bảng 7). Mặc dù tất cả nông dân đều nhận biết được sự gia tăng nă
ng suất
(20) và chất lượng quả (9) nhưng chỉ có vài báo cáo về sự gia tăng giá bán quả (9) và lợi
nhuận (7). Thực sự không thể xác định tỷ lệ nào của việc gia tăng năng suất theo như khai
báo là nhờ vào việc thay đổi kỹ thuật quản lý và bao nhiêu là do sự biến động của mùa vụ.
Nếu như cho rằng tất cả những sự gia tăng này là nhờ vào sự tham gia theo như trả lời c
ủa
những người tham gia trong FFS thì sẽ có một sự đánh giá quá cao về lợi ích của FFS, thực
sự thì sự tham gia đó chỉ đóng góp một phần vào việc làm gia tăng năng suất và thu nhập
của họ như là đã được báo cáo.
1.1.3.2.3 Những tác động về xã hội
Tác động chủ yếu về mặt xã hội được quan tâm đối với người nông dân là việc chia sẽ kiến
thức và kinh nghiệ
m giữa các nông dân tham gia FFS với nhau, giữa những người xóm
giềng, các thành viên câu lạc bộ nông dân và cả trong phạm vi gia đình (Bảng 8). Chỉ có các
nông dân từ tỉnh Đồng Tháp đã không đề cập đến tác dụng làm gia tăng việc chia sẽ kiến
thức, kinh nghiệm bởi vì tất cả họ đều là thành viên của câu lạc bộ người trồng cây có múi vì
vậy quả thực họ đã tuyên truyền, chia sẽ kiến thức và kinh nghiệm cho nhau tác động qua l
ại
và tạo ra nhiều quyết định chung mà được áp dụng trong việc quản lý vườn tại nhiều vườn
cây có múi khác nhau. Việc chia sẽ kiến thức thường xuất hiện gắn kết với việc gia tăng các
hoạt động xã hội đã được báo cáo có liên quan đến các việc như uống cà phê, nhậu. Sự tham
dự ở các FFS cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc gia tăng những hoạt động của câu
l
ạc bộ những người làm vườn bao gồm việc trồng cây cũng như việc thành lập những hợp tác
xã nông dân (Bảng 8). Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy rằng việc tham dự FFS cũng là một
cơ hội để giúp sự truyền đạt kinh nghiệm quản lý vườn từ cha đến con trai (4), chồng đến vợ
dịch hại
và bệnh
Dự báo
dịch hại
và bệnh
Sổ ghi chép Số lần
phun
thuốc
giảm
Loại thuốc trừ sâu đã
được thay đổi (thành)
Sử dụng
phân bón
tăng
Loại phân bón thay đổi Kiến
vàng
cắt tỉa
cành
Khác
Tỉnh
n
Giới thiệu Giới thiệu
Kanh Hoa 6
2 4 3
1-đầu
vào
5 2-PSO
1-abamectin
3 4
1-phun
6 2-PSO
2-imidacloprid
1-thiamothoxam
1-PSO +
fenobucarb
4 2-rác
1-rác+ phân bò 1-
phân dơi
1-hữu cơ
2 2 2-giảm mật độ trồng
1-dùng ngưỡng dịch
hại là 20%
1-ủ phân rác
Dong Thap 5
3 1 3
1-phun
5 4-PSO +
abamectin
1-PSO + miticide
2-rác
1-rác + chuồng +
Trichoderma
1-rác + Trichoderma
Tra Vinh 5 2 2
planting
1-number of sprays
increased
1-cut all trees with
symptoms of
greening
Soc Trang 5
2
1-phun
1 4-PSO
2-imidacloprid
1-abamectin
1-phân khoáng+
chuồng+
Trichoderma
1-phân dê+
Trichoderma
1-rác
1 1 1-changed timing of
spraying
Tổng cộng 53 18 18 27 32 51 11 42 9 6 1417
Bảng 7. Những tác động về kinh tế đã được xác định qua phỏng vấn nông dân
Những công việc thường xuyên được làm bởi người nông dân ghi lại qua phỏng vấn
Tỉnh n
Không/không chú
ý
1 (lao động)
1 (phân bón)
1
Can Tho 5 1
1 (thuốc trừ
dịch hại)
1 (lao động)
4 1 2
Soc Trang 5 1 1
1 (thuốc trừ
dịch hại)
1 2 3
Tổng cộng 53 6 5 25 20 9 7 1318
Bảng 8. Những tác động về xã hội được xác định qua phỏng vấn nông dân
Những công việc thường xuyên được làm bởi người nông dân ghi lại qua phỏng vấn
Tỉnh n
Không/
không để
ý
Gia tăng việc chia
sẽ kiến thức và kinh
nghiệm
Hổ trở bước đầu
cho sự thành lập
các trang trại quản
lý
Ben Tre 8
4 – các thành viên
FFS
1 – thành viên câu lạc
bộ nông dân
2 - họp câu lạc bộ
nông dân nhiều hơn
5 – uống cà phê
1 – uống rượu đế
1 – dạy cho lối xóm cách ủ
phân rác
1 – người mới làm vườn học
cách quản lý vườn
Tien Giang 9
4 1 – các thành viên
FFS
1 – láng giềng
1 – thành viên câu lạc
bộ nông dân
1 - cha
1 – cha con trai
2 - thành lập câu
lạc bộ
1 – hợp tác trồng
cây
1 – uống cà phê
1 – uống rượu đế
1 – cải thiện tình bạn
Soc Trang 5
4 - các thành viên
FFS
1 – cha con gái 9 – uống cà phê
Tổng cộng 453 35 8 18 22 17
Ghi chú : 9 là ý kiến trả lời của nhóm nông dân chứ không phải ý kiến cá nhân, bảng này trình bày số nhóm nông dân tham gia phỏng vấn
2 – kiến vàng
2 – ong (Vespids)
2 – cá trong mương
1 – nhện ăn thịt
1 – giới thiệu kiến vàng
Dong Thap 5 5 2 1
Tra Vinh 5 5 1 – kiến vàng
1 – Nhện
1
Vinh Long 5 1 4 1 – Kiến vàng
1 – Nhện
1
Can Tho 5 1 4 1 – Kiến vàng
1 – ong
1 – bọ rùa
1 – cá trong mương
2
Soc Trang 5 3 3 – cá trong mương
Tổng cộng 1353 34 30 6 5 1
1.1.3.3 Phân tích so sánh lợi nhuận thực sự từ việc sản xuất cây có múi và chi phí của
FFS
1.1.3.3.1 Lợi nhuận thực của việc sản xuất cây có múi
Qua kết quả của việc phỏng vấn giữa kỳ, các nông dân đã ước lượng thu nhập thực của họ.
Thực sự rất khó để kiểm tra lại những điều khai báo của họ bởi vì họ đã không giữ lại nh
=1.091, p=0.356) và chỉ có sự
khác biệt có ý nghĩa về giá trị thu nhập thực tế của nông dân giữa các chủng loại cây có múi
(F
2, 28
=5.442, p=0.010). Trắc nghiệm Duncan đã cho thấy rằng trồng bưởi và quýt có lợi
nhuận thực tế cao hơn cam. Không có sự khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê về quy
mô bình quân của chủng loại cây có múi được trồng (F
2, 28
=0.227, p=0.797). Kết quả được
trình bày ở bảng 10.
Bình quân lợi nhuận thực tế được tính trung bình giữa các chủng loại cây có múi và ở các
tỉnh là 78,620,000 đồng VN. Người nông dân trồng quýt trung bình có tiền lãi là 100,000,000
đồng VN tiếp theo là trồng bưởi với lợi nhuận trung bình là 93,330,000 đồng VN. Các nông
dân trồng cam có lợi nhuận trung bình chỉ 37,880,000 đồng VN. Không có gì ngạc nhiên với
lợi nhuận cao nhất trên 100,000,000 đồng VN đã được ghi nhận tại tỉnh Tiền Giang và Đồng
Tháp bởi vì phần l
ớn ở đây đều trồng quýt. Lợi nhuận thấp nhất được ghi nhận ở tỉnh Bến
Tre. Hầu hết là có sự trùng hợp rất cao giữa lợi nhuận trung bình được khai báo bởi người
nông dân và những đánh giá được thực hiện bởi các nhân viên chi cục BVTV tỉnh nhưng chỉ
với 2 tỉnh cho thấy rằng lợi nhuận thực tế được ghi nhận qua phỏng vấn thì ngoài tầm những
đánh giá của các nhân viên chi cục BVTV tỉnh. Ở tỉnh Bến Tre sự không trùng khớp này là
do sự biến động quá lớn giữa thu nhập của các nông dân được phỏng vấn với hệ số biến động
là 108% và ở tỉnh Vĩnh Long sự khác biệt là do kích cở mẫu quá nhỏ (chỉ với 2 nông dân) và
lợi nhuận thực tế ghi nhận được bởi các nhân viên chi cục BVTV tỉnh là dựa trên lợi nhuận
đạt được từ ng
ười trồng bưởi chứ không phải dựa trên bình quân của tất cả các nông dân. So
22
sánh với lợi nhuận thực tế từ lúa lãi thu được từ trồng cây có múi là cao hơn 3-6 lần. Số liệu
cũng cho thấy rằng lãi của việc trồng lúa thì không có sự biến động giữa các tỉnh lân cận
c) Chi phí tái diễn cho mỗi tham dự viên FFS được tính là A$ 36.23. Việc đền bù cho sự
tham gia của các nông dân được bao gồm trong tổng số này.
Chi phí tổng cộng cho mỗi tham dự viên FFS trong cả mùa FFS bao gồm 21 học phần và một
mùa vụ để thực nghiệm là A$ 70.62 (tương đương 867,361 đồng VN). Mùa vụ được tính từ
đợt ra hoa chính vụ cho đến đợ
t thu hoạch chính vụ, kéo dài khỏang 8 tháng.
1.1.3.3.3 Sự liên quan giữa lợi nhuận của việc sản xuất và chi phí của FFS
Lợi nhuận trung bình được tính cho mỗi ha được đánh giá là 78.620.000 đồng Viêt Nam cho
năm (= A$ 6,401.19). Diện tích trung bình của mỗi nông trang là 0.69 ha. Lợi nhuận trung
bình thực tế cho mỗi hộ nông dân là 54,247,800 đồng VN. Chi phí FFS cho mỗi tham dự
viên là 1.60% lợi nhuận thực tế của họ. Thật là hợp lý để thừa nhận rằng chỉ cần tiế
t kiệm
trong chi phí cho thuốc trừ dịch hại cũng như kết quả của việc giảm số lần phun thuốc thì cao
hơn là việc đầu tư mở FFS.
Ghi chú
1
Suốt trong thời gian tiến hành dự án tỷ giá giữa đồng đô la Úc và đồng Viêt Nam có sự biến
động từ 11,372 đồng VN cho A$ 1 đến 13,200 đồng VN cho A$1 do đó giá trị trung bình sẽ
là 12,282.09 đồng VN cho A$ 1. Giá trị tỷ giá trung bình sẽ được sử dụng cho tất cả những
sự tính toán trình bày trong báo cáo này.
2
Các chi phí mở lớp không bao gồm chi phí cho các nhà khoa học Úc tham gia trong dự án .
Dự án này là một dự án nghiên cứu mà trong đó FFS là mục tiêu chính của dự án vì thế đầu
23
38,330,000
1
(7,265,000)
2
Nghe An 4
0.85
(0.087)
44,000,000
(5,492,000)
30-
50,000,000
10-
12,000,000
Ben Tre 5
0.54
(0.137)
34,600,000
(16,798,000)
50 -
70,000,000
18,000,000
Tien
Giang
6
0.73
(0.193)
134,330,000
(33,200,000)
100-
70,000,000
20-
24,000,000
Soc Trang 2
0.43
(0.075)
97,500,000
(52,500,000)
50-
200,000,000
15,000,000
Total 34
0.69
(0.100)
78,620,000
(9,167,000)
30-
200,000,000
10-
24,000,000
3
1
Số liệu được tính toán trung bình từ lợi nhuận thực tế mà đã được khai báo qua cuộc phổng
vấn từng nng dân ở cuộc phỏng vấn giữa kỳ.
2
VSố liệu trong dấu ngoặt đơn là trung bình sai lệch chuẩn
3
Lợi nhuận thực tế trên lúa cho mỗi ha thu hoạch theo khai báo là từ 5.000.000 đến 8.000.000
đồng VN. Ở ĐBSCL nông dân có thể có 3 vụ thu hoạch mỗi năm và ở duyên hải trung bộ chỉ
có 2 vụđó chính là điều làm cho sự khác biệt có ý nghĩa trong thu nhập mỗi năm cho đơn vị
a
Bưởi 6
0.68
(0.215)
a
93,330,000
(13,824,000)
a
Cam
8
0.58
(0.114)
a
37,880,000
(6,346,000)
b
Tổng 31
0.59
(0.067)
82,680,000
(9,167,000)
1
Cam sành ở VN được tính toán như quýt vì đặc điểm thực vật học của nó gần với quýt hơn
2
Giá trị lợi nhuận được tính tóan là số liệu trung bình qua các lần phỏng vấn từng nông dân
ở cuộc phỏng vấn giữa kỳ.
3
cần thiết của nông dân trong quan hệ bảo vệ thự
c vật (2) và việc thay đổi thái độ của nông
dân trong quan hệ sử dụng thuốc trừ dịch hại (1). Các nhân viên khuyến nông cũng như
các công ty tư nhân có cơ hội để học hỏi nhiều hơn từ các nhà nghiên cứu (2). Mặc dù các
25