Những dấu hiệu của bệnh u máu trong gan ở trẻ em và cách phòng, cách điều trị những cách chữa bệnh cho trẻ - Pdf 15

Những dấu hiệu của bệnh U
máu trong gan ở trẻ em và
cách phòng, cách điều trị.
U máu là 1 bệnh thường gặp ở trẻ .Hầu hết
các dị dạng thường xuất hiện ngay khi sinh
hoặc trong vài tuần, vài tháng sau sinh. Cách
nhận biết và điều trị u máu ở trẻ sơ sinh và trẻ
nhỏ cũng dễ nên các bậc cha mẹ cũng không
nên quá lo lắng, hãy xem bài viết dưới đây để
trang bị kiến thức khi bé bị u máu nhé.

Bản chất của khối u là sự tăng sinh của mạch máu, chính xác
là sự tăng sinh của các tế bào nội môi gây nên. Vì là khối u
máu nên nếu như khối u máu vỡ đương nhiên mạch máu sẽ
bị tổn thương và máu chảy ra.
Khối u có đặc điểm như một khối u thông thường nhưng
chúng có thêm một đặc điểm đặc trưng là chứa đầy mạch
máu và máu. Khác với các khối u phần mềm khác, thường to
lên và phát triển theo thời gian, u máu thì đa phần lành tính
và tự khỏi.
CÁC ĐẶC TÍNH CỦA U MÁU Ở TRẺ SƠ SINH VÀ
TRẺ NHỎ
Bệnh u máu là bệnh thường xuất hiện ở trẻ sơ sinh. Có
khoảng 30% số bệnh nhân là trẻ trong tháng đầu sau sinh.
Còn lại đa phần xuất hiện ở giai đoạn 1 tuổi. Một phần nhỏ
xuất hiện ở tuổi trưởng thành.
Bệnh u máu có đặc tính là mang đầy đủ các tính chất của
một khối u ngoại trừ một tính chất, đó là khối u rất lành tính
và đa phần tự teo đi trong các giai đoạn về sau. Khác với các
khối u phần mềm khác, thường to lên và phát triển theo thời
gian. Đến một giai đoạn nhất định chúng có thể chuyển

đi khi trưởng thành. Ít trường hợp tồn tại và phát triển to lên.
Nhưng cũng có một số trường hợp không diễn ra như vậy.
Khi đó chúng có thể gây ra biến chứng.
Biến chứng của u máu nói chung ít nguy hiểm và rất ít khi
xảy ra. Thường thì người ta không đặt vấn đề biến chứng
trong bệnh này. Trong một số trường hợp, xin lưu ý là rất
hãn hữu, có thể gây nguy hiểm. Chẳng hạn như u máu ở hầu
họng có thể gây ra khó thở khi chúng quá to, u máu ở tim có
thể làm giảm lưu thông tuần hoàn qua tim do u máu chiếm
chỗ, u máu trong cột sống có thể làm yếu xương, u máu ở
mắt có thể làm suy yếu thị lực, u máu trong gan có thể làm
tắc một vài vi quản mật.
Với những u máu ở ngoài da, không khó để phát hiện ra
bệnh. Mặc dù thỉnh thoảng cũng hay bị chẩn đoán nhầm với
những vết xước ngoài da hay những chấn thương phần mềm.
Nhưng với u máu trong sâu nội tạng thì cần phải có những
xét nghiệm chuyên biệt. Ba xét nghiệm hay được phối hợp
thêm để chẩn đoán là siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT) và
chụp công hưởng từ (MRI).
ĐIỀU TRỊ U MÁU NHƯ THẾ NÀO?
Như trên đã nói, u máu đa phần lành tính và không cần điều
trị đặc biệt, tự khắc chúng sẽ teo và biến mất. Nhưng cũng
có những u máu không nhỏ đi mà tồn tại như một khối u
thực sự. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới tâm lý và
thẩm mỹ của người bệnh. Điều trị lúc này thực sự hữu ích.
Trong giai đoạn đầu, u máu sẽ nhỏ lại một cách đáng kể với
các thuốc điều trị. Các thuốc có thể áp dụng là corticoid (có
dạng uống, dạng bôi và dạng tiêm trực tiếp vào khối u), hóa
chất chống ung thư, thuốc chẹn beta.
Khi việc dùng thuốc không có kết quả hoặc không thuyên

Bướu máu là một bệnh lý bẩm sinh về mạch máu. Nói chung
đây là một loại bướu lành tính, có nghĩa là không di căn,
không tái phát (nếu điều trị đúng) và nhất là không nguy
hiểm chết người.
Nguyên nhân gây ra bướu máu hiện nay người ta chưa biết
rõ. Chỉ biết rằng hiện nay người ta chia ra làm 2 loại bướu
máu:
• Bướu máu trẻ nhỏ (Infantile hemangioma): thường xuất
hiện khi bé được vài tuần tuổi đến vài tháng tuổi, dưới
dạng một vết đỏ như mụn ruồi son, phát triển lớn dần
đến khoảng được 6 tháng tuổi thì dừng lại, duy trì như
vậy từ 6 tháng đến 2 tuổi, sau đó thoái hoá dần đến 6
tuổi thì hoàn toàn biến mất.
• Bướu máu bẩm sinh (congenital hemangioma):
• Loại này xuất hiện từ trong bào thai, do đó khi sinh ra là
đã thấy có, trong loại này người ta lại chia ra làm 2
dạng:Dạng thoái triển (Rapid Involuting Congenital
Hemangioma) gọi tắt là RICH: một khối màu đỏ tía
lớn nhỏ tuỳ trường hợp, và tiến triển cũng giống như
loại bướu máu trẻ nhỏ.
• Dạng không thoái triển (Non Involuting Congenital
Hemangioma) gọi tắt là NICH: thật là không may cho
bé nào bị loại dạng này, bướu phát triển lớn dần, những
cũng ở mức độ nào đó thì ngưng phát triển, và sẽ tồn
tại mãi không thoái hoá.
PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH U MÁU TRẺ EM
Chẩn đoán bướu máu rất dễ, chỉ cần nhìn là biết ngay, nhưng
chẩn đoán loại bướu máu nào thì trên thực tế rất khó biết,
phải biết chính xác bướu lúc nào xuất hiện, cần phải kết hợp
với siêu âm, và kinh nghiệm lâm sàng của bác sĩ chuyên

gặp ngay sau sinh hoặc sau vài tháng. Đa phần bệnh sẽ tự hết
hoặc phát triển chậm lại. Tuy nhiên cũng có nhiều biến
chứng do u máu như lác mắt, sụp mí (nếu u máu ở mắt),
chảy máu niêm mạc, các bệnh về răng (nếu u máu ở hàm
trên, hàm dưới)… U máu được chia làm 3 loại là u máu mao
mạch, máu dạng hang, u hỗn hợp. Sau khi xuất hiện, u máu
có thể lớn dần lên, từ một vết nhỏ như nốt ruồi son, nó trở
thành một mảng hồng đậm màu, thậm chí có thể gồ lên thành
mảng. U thường lớn dần, phát triển nhanh hay chậm tùy theo
từng vị trí. Điều trị bệnh u máu cần phải thận trọng cho dù
can thiệp bằng phẫu thuật hay chạy tia vì nguy có tái phát,
chảy nhiều máu, để lại tật, sẹo. Vì vậy nếu thấy trẻ có những
dấu hiệu trên, bạn hãy đưa trẻ tới bác sĩ nhi khoa khám và
điều trị.
U máu quả thật không nguy hiểm đúng không nào. Các bậc
cha mẹ cũng đừng vì thế mà chủ quan nhé, nếu có dấu hiệu
gì bất thường hoặc nghi ngờ không phải u máu thì nên đi
đến các trung tâm y tế để được chuẩn đoán.
Bác sĩ trả lời:
Điều trị bệnh U máu
ở trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh,
những điều cần biết.
U máu là bệnh thường gặp ở trẻ, tuy u máu
không nguy hiểm và theo thời gian sẽ biến mất,
có 1 số u máu mọc ở mặt thì sẽ gây mất thẩm mỹ.
Các bậc cha mẹ cũng không nên quá lo lắng.
Dưới đây là bài viết về cách điều trị u máu ở trẻ
sơ sinh và trẻ em.
Hỏi: Con trai tôi hiện được 3 tuôi. Từ lúc mới sinh trên vai
cháu có một vết giống bầm (đi khám BV Nhi Đồng BS nói là

Nguyên nhân chính xác của bướu máu hiện nay còn chưa rõ.
Bướu máu không phải là bệnh di truyền và nó không liên
quan gì đến bệnh tật, thuốc men hay thức ăn của bà mẹ trong
lúc mang thai. Khoa học không khuyên bà mẹ kiêng cữ điều
gì trong lúc mang thai để phòng ngừa bướu máu.
BƯỚU MÁU XUẤT HIỆN KHI NÀO?
Thường bướu máu ít khi thấy có ngay từ khi mới sinh, mà
phải sau 7 đến 10 ngày. Những trường hợp thấy có ngay từ
khi sinh thường là bướu máu phẳng, hoặc là các dị dạng
mạch máu. Những trường hợp xuất hiện ở người lớn thường
không phải là bướu máu.
BƯỚU MÁU PHÁT TRIỂN NHƯ THẾ NÀO?
Từ khi xuất hiện, bướu máu có thể “đứng yên”, không phát
triển, chỉ to ra theo tỉ lệ phát triển của đứa trẻ (bướu máu
phẳng). Trong các dạng khác, thường gặp hơn, bướu phát
triển to dần từ khi xuất hiện, sau đó đột ngột to nhanh từ khi
trẻ được 2,5 tháng tuổi cho đến 9 tháng tuổi. Đây là giai
đoạn tăng trưởng của bướu. Sau đó bướu phát triển chậm dần
và bắt đầu đi vào thời kỳ thoái hóa, diễn ra rất chậm: bướu
máu sẽ chuyển dần thành bướu sợi – mỡ hoặc hòa lẫn vào
mô mỡ bình thường. Sự thoái hóa được 50% khi trẻ khoảng
5 tuổi, 70% khi trẻ 7 tuổi, kết thúc khi trẻ 10 – 12 tuổi.
Trong giai đoạn tăng trưởng, bướu máu có màu đỏ tươi, bề
mặt căng và có nhiệt độ “nóng” khi sờ vào. Trong giai đoạn
thoái triển, bướu máu chuyển màu sậm hơn, bề mặt xuất hiện
những đường nhăn nheo do khối lượng bướu giảm xuống. Sờ
vào bướu thấy “độ nóng” giảm dần.
ĐIỀU TRỊ BƯỚU MÁU CÓ MẤY CÁCH?
Có 3 cách điều trị bướu máu:
• Cách 1: Phá hủy bướu: dùng nhiệt (đốt điện), lạnh (đốt

• viêm da tiết bã nhờn,
• phản ứng da do côn trùng đốt.
Eumovate có thể dùng như điều trị duy trì giữa các đợt điều
trị bằng corticoid tại chỗ mạnh hơn.
Eumosone-G được chỉ định trong các trường hợp như trên,
nhưng khi có, hoặc nghi ngờ có, hoặc dễ xảy ra, nhiễm
khuẩn thứ phát.
Eumosone-M được chỉ định trong tất cả các trường hợp được
chỉ định cho Eumovate, nhưng khi có, hoặc nghi ngờ có,
hoặc dễ xảy ra, nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn hoặc do
nấm.
Trong quá trình điều trị nếu xảy ra bất kỳ vấn đề gì, bạn nên
trao đổi trực tiếp với các bác sĩ, không nên tự ý sử dụng bất
kỳ loại thuốc gì khi chưa có chỉ định của bác sĩ điều trị.
BƯỚU MÁU VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
Các u mạch máu được chia làm 2 loại dựa vào đặc điểm của
các khối u:
- Tổn thương mạch máu mắc phải (hemangioma): loại tổn
thương này gặp ở trẻ em nhiều hơn người lớn. Khối u mạch
ở trẻ em diễn biến qua 2 thời kỳ tăng sinh và thoái triển. Quá
trình tăng sinh phát triển mạnh nhất khi trẻ 12 tháng tuổi rồi
giảm dần và dừng lại lúc trẻ 2 tuổi. Khoảng 50% khối u
mạch thoái triển sau 5 tuổi và hết hoàn toàn vào độ tuổi 7
đến 10.
- Bệnh lý mạch bẩm sinh (vascular malformation): hay gặp
nhất là dị dạng mạch máu bẩm sinh, bắt nguồn từ sự sai lạc
về cấu tạo mạch máu ở thời kỳ phôi thai, luôn được tìm ra
ngay sau khi sinh. Những tổn thương này phát triển ngày
càng rộng theo thời gian.
Có nhiều loại u mạch máu khác nhau, nhưng có chung một

u nhỏ, có ranh giới rõ.
Trường hợp u to, ranh giới không rõ, nguy hiểm; nếu phẫu
thuật, ta có thể tiêm gây xơ bằng thuốc tiêm xơ.
Điều trị nội khoa được áp dụng cho những u máu ở trẻ em
trong giai đoạn tiến triển: có thể dùng corticoid, interferon,
vincristine, propranolone.
Laser được dùng làm biến chất các huyết sắc tố, làm đông
đặc các mạch máu mà không làm tổn hại đến lớp thượng bì
để lấy bỏ những u máu còn khu trú. Phương pháp dùng laser
có nhiều triển vọng, nhất là đối với những bớt sẫm màu,
nhưng có nhược điểm là gây đau đớn cho bệnh nhân.
Không cần quá lo lắng nhé các bậc cha mẹ, u máu là u lành
tính nên có thể chữa khỏi hoàn toàn. chúc các bé luôn khỏe
mạnh.

Trích đoạn máu thường gặp ở trẻ dưới một tuổi, đa số tự tiêu nhưng cũng có một số u máu liên tục máu là bệnh khá phổ biến, thường gặp ở trẻ sơ sinh Đa phần u máu lành tính, chỉ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status