Dấu phẩy trong Tiếng Việt - Pdf 15

Dấu câu là phương tiện ngữ pháp dùng trong chữ viết. Tác dụng của nó là làm rõ trên mặt chữ viết một cấu
tạo ngữ pháp, bằng cách chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần của câu đơn, giữa các vế của câu ghép,
giữa các yếu tố của ngữ và của liên hợp. Nói chung, nó thể hiện ngữ điệu lên trên câu văn, câu thơ. Cho nên, có
trường hợp nó không phải chỉ là một phương tiện ngữ pháp, mà còn là phương tiện để biểu thị những sắc thái tế
nhị về nghĩa của câu, về tư tưởng, về cả tình cảm, thái độ của người viết.
Dấu câu dùng thích hợp thì bài viết được người đọc hiểu rõ hơn, nhanh hơn. Không dùng dấu câu, có thể gây
ra hiểu lầm. Có trường hợp vì dùng sai dấu câu mà thành ra sai ngữ pháp, sai nghĩa.
Cho nên, quy tắc về dấu câu cần được vận dụng nghiêm túc.
Tuy vậy, cũng có trường hợp vận dụng quy tắc dấu câu cũng ít nhiều có tính chất linh hoạt. Nói chung, đó là
khi mà dù không dùng dấu câu, ranh giới cũng đã rõ, và không gây ra lầm lẫn.
Hiện nay, tiếng Việt dùng mười dấu câu là:
1. dấu chấm .
2. dấu hỏi ?
3. dấu cảm !
4. dấu lửng …
5. dấu phẩy ,
6. dấu chấm phẩy ;
7. dấu hai chấm :
8. dấu ngang –
9. dấu ngoặc đơn ()
10. dấu ngoặc kép “ ”
CÁCH SỬ DỤNG DẤU CÂU
TRONG TIẾNG VIỆT
Dấu câu là một trong những phương tiện ngữ pháp (thay cho ngữ điệu
khi nói). Nó có tác dụng làm cho nội dung của câu văn mạch lạc, khúc
chiết; ngăn cách các thành phần trong cấu tạo câu.
Dùng dấu câu không chuẩn xác hoặc dùng dấu câu không phù hợp
trong văn bản sẽ làm cho câu sai hoặc có nội dung mơ hồ.
Trong tiếng Việt có các dấu câu sau đây:
1. Dấu chấm
Dấu chấm dùng để kết thúc câu tường thuật (câu kể) trên văn bản.

4. Dấu chấm lửng
Khi nói, dấu chấm lửng được thay thế bằng từ vân vân. Khi viết cũng có
thể dùng từ này (viết tắt “v.v…”) hoặc dùng 3 dấu chấm (…). Dấu chấm
lửng dùng để:
a. Đặt cuối câu khi người nói không muốn nói hết ý mình.
VD: Sự thể là vậy nhưng hắn nào có muốn…
b. Đặt cuối đoạn liệt kê khi người nói không muốn liệt kê hết sự vật,
hiện tượng,… trong một chủ đề.
VD: Câu trên cũng là 1 ví dụ.
VD khác: Năm nay, các loại rau cỏ như: rau muống, mồng tơi, su hào,
bắp cải,… đều lên giá.
c. Đặt sau từ, ngữ biểu thị lời nói đứt quãng.
VD: Tôi… không… còn… đủ… sức… nữa!
d. Đặt sau từ tượng thanh để biểu thị sự kéo dài âm thanh.
VD: Phù… Thế là xong!
e. Đặt sau đoạn biểu thị sự châm biếm, hài hước.
VD: Đẹp trai không bằng… chai mặt.
5. Dấu hai chấm
Dấu hai chấm dùng để:
a/ Liệt kê thành phần vị ngữ của câu đơn có động từ là hoặc trong
thành phần vị ngữ có các từ biểu thị sự liệt kê ở sau các từ: sau đây,
như sau, để,…
VD: Một số yêu cầu khi viết bài trên diễn đàn là:
- Viết đúng chính tả;
- Trình bày dễ nhìn;
- Không sử dụng các ngôn từ thiếu văn hóa.
b/ Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết minh cho một phần
trước đó
VD: Cầu vồng có bảy màu cơ bản: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.
c/ Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép) hay

phần chính của câu.
VD: Tôi quen anh (rất tình cờ) qua một người bạn thân.
b. Sự khác nhau giữa dấu gạch ngang và dấu ngoặc đơn có khi không
được rõ. Theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng dấu kia đối
với thành phần chú thích. Tuy vây, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại
dấu này có sự khác nhau như sau:
- Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước
nó, thì thường dùng dấu ngang; nếu quan hệ đó không rõ thì thường
dùng dấu ngoặc đơn.
VD: Chồng chị – anh Nguyễn Văn Dậu – tuy mới hai mươi sáu tuổi
nhưng đã học nghề làm ruộng đến mười bảy năm.
(Ngô Tất Tố)
Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên (Có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
(Giang Nam)
- Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để giải nghĩa
cho một từ hoặc một yếu tố ngôn ngữ không thông dụng.
VD: – Italia (Ý), Hàn Quốc (Nam Triều Tiên)
- Tiếng trống của phìa (lý trưởng) thúc gọi nộp thuế vẫn rền rĩ.
(Tô Hoài)
8. Dấu ngoặc kép
a/ Dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp. Trước
dấu ngoặc kép, trong trường hợp này, thường dùng dấu hai chấm.
VD: Thiếu úy Trần Văn Phương đã hô: “Thà hy sinh chứ không chịu mất
đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân
chủng Hải quân”.
b/ Dùng để trích dẫn một danh ngôn, một khẩu hiệu. Trong trường hợp

cao, đêm đã khuya lắm.
(Nguyễn Đình Thi)
1.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm. Dấu chấm là chỗ có quãng
ngắt tương đối dài hơn, so với dấu phẩy, dấu chấm phẩy.
2. Dấu hỏi
2.1. Dấu hỏi dùng ở cuối câu nghi vấn.
2.1.1. Thường gặp là trường hợp dấu hỏi dùng trong đoạn văn đối thoại,
có người hỏi, có người đáp.
Ví dụ:
- Anh ốm, sao lại đi làm?
- Ốm xoàng thôi.
2.1.2. Có trường hợp tự đặt ra câu hỏi và tự trả lời, trong lời đối thoại
nghệ thuật.
- Chông ai chết trong tố cộng?
- Chồng tôi.
- Con ai chết trong dinh điền?
- Con tôi.
(Tế Hanh)
2.1.3. Có trường hợp, một vế của câu ghép được cấu tạo theo kiểu câu
nghi vấn nhưng không phải để hỏi mà để nêu lên tiền đề; trong trường
hợp này không dùng dấu hỏi.
Ví dụ:
Văn học nghệ thuật là gì, xưa nay người ta định nghĩa nhiều rồi.
(Phạm Văn Đồng)
2.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu hỏi, và nói chung, có lên giọng.
2.3. Dấu hỏi có thể đặt trong dấu ngoặc đơn (?) để biểu thị thái độ hoài
nghi đối với một lời trích thuật. Nếu dấu chấm (hay tương đương) ngắt
câu ở cùng chỗ, thì dấu này đặt sau dấu chấm.
Ví dụ:
Bọn xâm lược Mĩ làm ra vẻ ngạc nhiên. Chúng chối biến rằng chúng

biểu thị rằng người viết đã không diễn đạt hết ý.
Ví dụ:
Lũ làng đi rửa tay thật sạch rồi cầm lên từng thứ, coi đi coi lại, coi Bok
Hồ đi làm rẫy, coi cái áo Bok Hồ mặc…
(Nguyên Ngọc)
4.2. Dấu lửng còn được dùng:
4.2.1. Để biểu thị bằng lời nói bị đứt quãng vì xúc động, hay vì lí do
khác.
Ví dụ:
Sâm đè tay lên ngực, hít lấy mấy hơi mới nói được:
- Quên rút chốt
(Phan Tứ)
4.2.2. Để biểu thị một chỗ ngắt đoạn dài giọng với ý châm biếm, hài
hước.
Ví dụ:
Giơ tay hàng tuốt quân ta
Té ra công sự chỉ là công toi
(Tú Mỡ)
4.2.3. Để ghi lại một chỗ kéo dài của âm thanh.
Ví dụ:
Ù ù ù
Tầm một lượt
(Võ Huy Tâm)
4.3. Khi đọc, phải tuỳ trường hợp mà ngắt đoạn. Nói chung, ở dấu lửng,
sự ngắt đoạn kéo dài
4.4. Hiện nay có cách dùng dấu lửng trong ngoặc đơn: ( ), để chỉ ra
rằng người trích dẫn có lược bớt câu văn trích dẫn.
5. Dấu phẩy
5.1. Dấu phẩy được dùng để chỉ ranh giới bộ phận nòng cốt với thành
phần ngoài nòng cốt của câu đơn và câu ghép.

Ví dụ:
Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động cần phải xung phong
gương mẫu trong sản xuất và công tác.
-Giữa các yếu tố của một liên hợp song song có tính chất ổn định hoá,
dấu phẩy cũng thường được lược bớt.
Ví dụ:
Hầm chông hố chông trong ruộng lúa tựa như được nước lụt che,
thằng giặc chẳng biết đâu mà mò.
(Anh Đức)
5.3. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép (song
song hay qua lại).
Ví dụ:
Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục
chiến đấu, quét sạch nó đi.
(Hồ Chí Minh)
Đáng chú ý là:
Khi có dùng kết từ trong câu ghép song song hay qua lại thì có thể lược
bớt dấu phẩy giữa các vế.
Ví dụ:
Chú Hai đã đi làm phu cao su ở Hớn Quản, lại ra làm thợ mỏ ở Đông
Dương vàchú còn đi những chân trời góc bể đâu khác.
(Tô Hoài)
Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn thì Đảng vẫn đau
thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ.
(Hồ Chí Minh)
5.4. Dấu phẩy có thể dùng để chỉ ranh giới giữa phần đề và phần
thuyết trong những trường hợp sau đây:
5.4.1. Khi phần đề làm thành một đoạn khá dài.
Ví dụ:
Một trong những công việc cần phải thực hiện cấp tốc lúc này, là

hình thức.
Ví dụ:
Chị Thuận nấu cơm cho anh em ăn, làm người chị nuôi tần tảo; chị
chăm sóc anh em ốm và bị thương, làm người hộ lí dịu dàng, ân cần
(Nguyễn Trung Thành)
Trong câu ghép song song mà vế sau có tác dụng bổ sung cho vế trước,
cũng có thể dùng dấu chấm phẩy giữa hai vế.
Ví dụ:
Sáng tạo là vấn đề rất quan trọng; không sáng tạo không làm cách
mạng được
(Lê Duẩn)
6.2. Dấu chấm phẩy cũng có thể dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố
trong một liên hợp song song bao gồm những ngữ.
Ví dụ:
Phải thực hiện bằng được chủ trương hoàn chỉnh các hệ thống thuỷ
nông; đẩy mạnh tốc độ cơ giới hoá nông nghiệp; đẩy mạnh cải tạo
giống gia súc và cây trồng nhằm thực hiện thâm canh trên toàn bộ diện
tích trồng trọt
(Báo Nhân dân)
6.3. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm phẩy; quãng ngắt dài hơn, so
với dấu phẩy, nhưng ngắn hơn, so với dấu chấm.
Cách sử dụng dấu câu
Một nguyên tắc quan trọng của nghề báo là quan tâm tới bạn đọc (tạo sự dễ dàng cho bạn
đọc khi họ đọc báo). Nguyên tắc này hay bị xem nhẹ. Một số phóng viên chỉ viết sao cho thuận
tiện cho mình, không chịu sửa lỗi, cho rằng đó là việc của tòa soạn. Một số biên tập viên, vì
nhiều lý do - trong đó có lý do được viện dẫn nhiều nhất là “không có thời gian” - đã để cho
các sai sót xuất hiện trên mặt báo. Các ban biên tập thì chưa chú ý đúng mức đến chuyện
này.
Nhà báo có thể quan tâm tới bạn đọc bằng nhiều cách, trong đó chủ yếu là bằng cách kiểm tra
hình thức, kiểm tra nội dung. Ngoài ra, còn phải kiểm tra mức độ dễ hiểu, khó hiểu của thông

với dấu chấm và các dấu khác.
“Chúng tôi đã chuyển thư của ông phản ảnh về việc doanh nghiệp chậm trễ phát quà khuyến
mãi đến báo Sài Gòn Tiếp thị, là tuần báo phục vụ người tiêu dùng.” Dấu phẩy sau từ “Tiếp
thị” và từ “là” không được chỉnh. Nên viết “ Sài Gòn Tiếp thị là tuần báo phục vụ người tiêu
dùng.”; hoặc “ Sài Gòn Tiếp thị, tuần báo phục vụ người tiêu dùng.”
“Ông Trần Kiều, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục cho biết, từ năm 1990, Bộ GD - ĐT đã
triển khai thực nghiệm môn tin học tại hơn 100 trường PTTH.” Ở đây, “Viện trưởng Viện
Khoa học giáo dục” là thành phần chú thích cho “ông Trần Kiều”. Trước và sau cụm từ này
đều có dấu phẩy để làm ranh giới.
Có báo dùng không đúng cả dấu phẩy lẫn dấu ngang: “Trước thềm năm học mới, chúng tôi đã
trao đổi với ông Bùi Đức Tráng - Giám đốc BHYT TP Hồ Chí Minh, về một số vấn đề liên
quan đến hoạt động bảo hiểm y tế học sinh sinh viên năm học 2001 - 2002 ” Ở đây, đã dùng
dấu ngang ở đầu thành phần chú thích thì phải tiếp tục dùng dấu này ở cuối thành phần chú
thích, chứ không thể dùng dấu phẩy. Cũng có thể dùng dấu phẩy thay thế cho dấu ngang.
Ngoài ra, còn gặp trên các báo những kiểu sai và lạm dụng dấu câu như sau:
1. Đánh dấu chấm hỏi sau những câu không phải là câu hỏi; không đánh dấu hỏi sau
những câu nghi vấn trực tiếp
“Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào người ta cũng hỏi ý kiến Văn phòng KTST ?”
Cuối câu này phải dùng dấu chấm. Đây không phải là câu hỏi trực tiếp. Không phải cứ thấy
“hỏi” là tự động đánh dấu chấm hỏi (KTST là viết tắt của kiến trúc sư trưởng).
“Tiền đâu để đền bù giải tỏa, di dời, xây dựng khu ở mới cho cả ngàn hộ dân ” Câu này thiếu
dấu hỏi, thừa dấu chấm lửng. Đây là câu nghi vấn trực tiếp, từ “đâu” biểu hiện cho loại câu
hỏi.
“Học sinh làm bài xong chưa ?” thì phải đánh dấu hỏi, còn “Thầy giáo muốn biết học sinh đã
làm xong bài chưa” thì không cần vì là câu nghi vấn gián tiếp.
2. Đánh dấu chấm than sau những câu không phải là câu cảm thán hay cầu khiến
“Nếu hướng dẫn của các bộ ngành liên quan chưa phù hợp hoặc trong quá trình thực hiện có
những vấn đề phát sinh vượt quá thẩm quyền các bộ ngành thì Bộ Thương mại phải tổng hợp
báo cáo Thủ tướng xem xét quyết định!”. Câu này là câu tường thuật.
Câu cảm thán là loại câu được dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất định những tình

Ngoặc kép được dùng để đánh dấu lời nói được trích dẫn trực tiếp, đóng khung tên riêng, tên
tác phẩm; đánh dấu những từ ngữ được hiểu theo nghĩa khác. Người viết còn dùng nó để lưu ý
người đọc về một từ, cụm từ nào đó (mà ở đó người viết có thể biểu thị thái độ mỉa mai, châm
biếm).
Nhưng lắm lúc, do vốn từ nghèo nàn, người viết đã dùng ngoặc kép để đánh dấu từ ngữ, buộc
bạn đọc phải hiểu những từ ngữ được đánh dấu đó theo nghĩa bóng, đẩy khó khăn về phía bạn
đọc.
Có báo - chỉ trong một số báo - đã dùng quá nhiều ngoặc kép trong các tít, tít phụ : Không thể
“sống chung với tham nhũng” !; Phong trào “Quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc” (tít phụ) ;
Chương trình “3 giảm” góp phần an dân và làm thay đổi bộ mặt thành phố; Có gì mới trong
việc “bắt buộc đội nón bảo hiểm”?; Làm “sáng” lại những quán “đèn mờ”; Nhức nhối “cà phê
công nghiệp”; “Ngôi sao” 13 ngày tuổi; NOVA VoiceCenter “Đường dây nóng” giữa khách
hàng và doanh nghiệp; Từ “đọc chậm” đến “đọc nhanh”; Thị trường xe gắn máy “bội thực”
(tít phụ) ; Đâu rồi vai trò quản lý Nhà nước ? ; Khi hiệp hội là “cầu nối”. Hầu hết các ngoặc
kép ở đây đều không cần thiết.
6. Lạm dụng dấu chấm hỏi và dấu chấm than
Nhiều tờ báo đang để cho dấu chấm hỏi xuất hiện một cách vô nguyên tắc, thừa thãi, đặc biệt
trong tít. Ngày nào giở báo ra cũng thấy có dấu hỏi.
“Đăng ký kết hôn với người nước ngoài ?”. Đăng ký như thế nào thì phải cho biết luôn (một
cách tóm tắt).
“Hình dáng nào cho SaPa ?”. Tốt hơn hết là nên nói rõ ra: khuyến khích xây nhà vườn, hạn
chế nhà phố (ý chính của bài).
“Kinh tế phát triển chậm nhưng lại bội thu ngân sách - Mừng hay lo ?”. Lo thì nói lo, mừng thì
nói mừng, đừng hỏi.
“Doanh nghiệp Việt Nam sẽ ‘tranh tụng’ với Mỹ về cá basa ?”. Đây là tít của một bài báo
trong đó nói rõ rằng Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam đã thuê công ty luật
White & Case của Mỹ làm tư vấn cho vụ kiện chống phá giá cá basa. Vụ kiện này do Hiệp hội
các Chủ trang trại Cá nheo Mỹ đâm đơn tại Mỹ. Hiệp hội này cho rằng phía Việt Nam đã bán
phá giá cá basa và cá tra tại Mỹ ( bán phá giá có nghĩa là bán một sản phẩm nào đó với giá
thấp hơn tại thị trường nước ngoài so với giá mình bán tại thị trường trong nước).

Lời trăn trối mang hồn người sắp chết
Vọng qua vách, trang nghiêm và thống nhất.
(Nguyễn Dân Trung)
5.2. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong liên hợp, nhất là liên hợp qua lại.
Ví dụ:
Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp lâu dài và gian khổ, song nhất định thắng lợi.
(Hồ Chí Minh)
Đáng chú ý là:
- Giữa các yếu tố của một liên hợp song song, khi đã dùng kết từ thì thường lược bớt dấu phẩy.
Ví dụ:
Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động cần phải xung phong gương mẫu trong sản xuất và công tác.
-Giữa các yếu tố của một liên hợp song song có tính chất ổn định hoá, dấu phẩy cũng thường được lược bớt.
Ví dụ:
Hầm chông hố chông trong ruộng lúa tựa như được nước lụt che, thằng giặc chẳng biết đâu mà mò.
(Anh Đức)
5.3. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép (song song hay qua lại).
Ví dụ:
Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi.
(Hồ Chí Minh)
Đáng chú ý là:
Khi có dùng kết từ trong câu ghép song song hay qua lại thì có thể lược bớt dấu phẩy giữa các vế.
Ví dụ:
Chú Hai đã đi làm phu cao su ở Hớn Quản, lại ra làm thợ mỏ ở Đông Dương và chú còn đi những chân trời góc bể đâu khác.
(Tô Hoài)
Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ.
(Hồ Chí Minh)
5.4. Dấu phẩy có thể dùng để chỉ ranh giới giữa phần đề và phần thuyết trong những trường hợp sau đây:
5.4.1. Khi phần đề làm thành một đoạn khá dài.
Ví dụ:
Một trong những công việc cần phải thực hiện cấp tốc lúc này, là nâng cao dân trí.

Sáng tạo là vấn đề rất quan trọng; không sáng tạo không làm cách mạng được
(Lê Duẩn)
6.2. Dấu chấm phẩy cũng có thể dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong một liên hợp song song bao gồm những ngữ.
Ví dụ:
Phải thực hiện bằng được chủ trương hoàn chỉnh các hệ thống thuỷ nông; đẩy mạnh tốc độ cơ giới hoá nông nghiệp; đẩy mạnh
cải tạo giống gia súc và cây trồng nhằm thực hiện thâm canh trên toàn bộ diện tích trồng trọt
(Báo Nhân dân)
6.3. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm phẩy; quãng ngắt dài hơn, so với dấu phẩy, nhưng ngắn hơn, so với dấu chấm.

7. Dấu hai chấm
7.1. Nói chung, dấu hai chấm dùng để báo hiệu một điều trình bày tiếp theo sau và có tác dụng thuyết minh đối với một điều đã
trình bày trước.
7.1.1. Điều thuyết minh là một lời thuật lại theo lối trực tiếp.
Ví dụ:
Khoa kêu to:
Mình về đây!
(Nguyễn Khải)
Hay theo lối gián tiếp:
Ví dụ:
Kha nghĩ: ba giờ đi.
(Nguyễn Đình Thi)
7.1.2. Điều thuyết minh có tác dụng bổ sung, giải thích một từ hay một vế ở trước.
Ví dụ:
Chiến công kì diệu mùa xuân 1975 đã diễn ra trong thời gian rất ngắn: 55 ngày đêm.
(Võ Nguyên Giáp & Văn Tiến Dũng)
Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya
(Xuân Diệu)
7.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu hai chấm, và cần có ngữ điệu thích hợp đối với điều thuyết minh.

8. Dấu ngang

Ví dụ:
Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tôi làm thuê ở Pa-ri, khi thì làm cho một cửa hàng phóng đại ảnh, khi thì vẽ "đồ cổ mĩ
nghệ Trung Hoa" (do một xưởng của người Pháp làm ra!).
(Hồ Chí Minh)
9.2. Sự khác nhau giữa dấu ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ; theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng
dấu kia, đối với thành phần chú thích.
Tuy vậy, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu đó có sự khác nhau sau đây:
Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước nó, thì thường dùng dấu ngang; nếu quan hệ đó không rõ
thì thường dùng dấu ngoặc đơn.
Ví dụ:
Tôi vừa gặp lại anh Thân – người chỉ huy đơn vị của tôi, hồi chiến tranh chống thực dân Pháp.
Anh ấy không đến dự đám cưới của Lan (bảo là bận!) nhưng mọi người đều hiểu anh ấy không tán thành đám cưới này.
Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để đóng khung cho một từ hay một ngữ có tác dụng chú thích cho
một từ không thông dụng (từ cổ, từ địa phương ).
Ví dụ:
Tiếng trống của phìa (lí trưởng) thúc gọi nộp thuế vẫn rền rĩ.
(Tô Hoài)
Một loại dấu đôi nữa, có mở ra rồi có đóng vào giống như dấu ngang và dấu ngoặc đơn, và cũng được dùng để chú thích thêm
trong một số trường hợp đặc biệt, là dấu móc: [].
Trong trường hợp nhắc lại một văn bản, mà cần chú thích, đồng thời lưu ý người đọc rằng chú thích đó là ở ngoài văn bản thì
dùng dấu móc.
Ví dụ:
Mậu thân Thuận Thiên năm thứ nhất [1428] người Minh đã về nước, vua bèn thống nhất thiên hạ, lấy năm ấy là năm dẹp yên.
(Dịch "Đại Việt Sử kí toàn thư")
3. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu ngoặc đơn và cũng như trong trường hợp dấu ngang, ngữ điệu phải thích hợp đối với thành
phần chú thích.

10. Dấu ngoặc kép
10.1. Dấu ngoặc kép dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp.
Ví dụ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status