Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
Học Viện Ngân Hàng
Khoa Tài chính- ngân hàng
Bài thảo luận
THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
Chủ đề 1: Vai trò của ngân hàng trung ương
trên thị trường tiền tệ và kinh nghiệm các nước.
NHÓM 6 (Ca 2 thứ 5 D8)
Phạm Thị Lan
Đàm Thị Hằng
Nguyễn Đình Tài
Nguyễn Thị Mai Hà
Đặng Thị Kim Ngân
Nguyễn Thị Diệu Hương
Hà nội, 2012
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 1 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự hình thành và phát triển của thị
trường tài chính là một vấn đề rất quan trọng. Sự phát triển năng động với tốc độ cao của
kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhu cầu thường xuyên và to lớn về nguồn tài chính để
đầu tư và tạo lập vốn kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong xã hội.
Thị trường tiền tệ được chuyên môn hoá đối với các nguồn tài chính được trao
quyền sử dụng ngắn hạn. Tuy nhiên quyền sử dụng các nguồn tài chính được trao cho chủ
thể khác sử dụng trong thời hạn bao lâu được gọi là ngắn thì còn phụ thuộc vào mỗi
nước. Nhưng thông thường trên thị trường tiền tệ người ta chuyển giao quyền sử dụng
nguồn tài chính có thời hạn từ một ngày đến một năm. Chính vì tính chất ngắn hạn đó
nên thị trường tiền tệ cung ứng các nguồn tài chính có khả năng thanh toán cao và những
người tham dự ít bị rủi ro.
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 3 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA NHTW TRÊN
THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
Ngân hàng trung ương là một cơ quan thuộc bộ máy nhà nước được độc quyền phát
hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ,
tín dụng và ngân hàng, với mục tiêu cơ bản là ổn định và an toàn trong hoạt động của hệ
thống ngân hàng. Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý không chỉ đơn
thuần bằng các luật lệ các biện pháp hành chính, mà còn thông qua các nghiệp vụ mang
tính kinh doanh sinh lời.
Ngân hàng trung ương có các khoản thu nhập từ tài sản của mình như: chứng khoán
chính phủ, cho vay chiết khấu, kinh doanh trên thị trường ngoại hối….Hầu hết các khoản
thu nhập của Ngân hàng trung ương, sau khi trừ các chi phí hoạt động đều phải nộp vào
ngân sách nhà nước.
TTTT là một bộ phận của thị trường tài chính, ở đó diễn ra sự trao đổi mua án các
công cụ tài chính (thường dưới 1 năm). Cũng có thể hiểu TTTT là thị trường ở đó diễn ra
việc chuyển giao các khoản vốn ngắn hạn giữa các chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu thanh
khoản và đầu tư ngắn hạn.
Chủ thể NHTW tham gia thị trường tiền tệ với vai trò điều tiết, quản lý thị trường,
điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, đảm bảo thị trường tiền tệ hoạt động theo đúng
mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia thông qua các công cụ quản lý tiền tệ như:
− Nghiệp vụ trưởng mở
− Lãi suất cho vay chiết khấu
− Dự trữ bắt buộc
− Chính sách tiền mặt
Mọi họat động của ngân hàng trung ương đều ảnh hưởng mật thiết đến cung ứng
tiền trong nền kinh tế. Cung ứng tiền thay đổi làm biến động giá cả, sản lượng quốc
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 4 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
gia, do đó một cách gián tiếp mọi họat động ngân hàng ảnh hưởng sâu sắc đến thị
chi tiêu và đầu tư, điều này dẫn đến tổng cầu giảm và giá cả hạ. Cái giá phải trả là
sản xuất bị thu hẹp, thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế rơi vào
tình trạng suy thoái.
Do đó cung ứng tiền là sức mạnh đầy quyền lực của ngân hành trung ương. Khi
ngân hàng trung ương điều tiết cung ứng tiền tức là nó bắt đầu tiến hành điều tiết
nền kinh tế.
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 6 -
Thị trường tiền tệ
R1
R2
R3
E1
E0
E1
LS1
LS2
L0
LS3
L1 L2
LD
Cung ứng tiền
Lãi suất
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
1.2. Phương thức điều tiết thị trường tiền tệ bằng cung ứng tiền của ngân
hàng trung ương.
Mục tiêu:
- Chính sách tiền tệ phải phục vụ cho mục đích đảm bảo cho nền kinh tế có
giảm lạm phát. Lãi suất cao hơn làm cho việc vay tiền trở nên khó khăn hơn do thế
sản xuất không dám tiêu dùng nhiều vốn và sản xuất có xu hướng giảm sút. Do lãi
suất cao nên người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và nhu cầu tiêu dùng giảm
xuống. Đường cầu AD0 dịch chuyển đến AD1. Tiêu dùng và đầu tư giảm làm giá cả
giảm từ P0 xuống P1, sản lượng tụt xuống Y1 và nền kinh tế đi vào tình trạng suy
thoái.
Ngược lại khi lãi suất hạ xuống R2, sản xuất sẽ tiêu dùng nhiều vốn hơn, sản
xuất được đẩy mạnh, lãi suất thấp người tiêu dùng sẽ tiết kiệm ít hơn và đầu tư và
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 8 -
P1
P2
P3
E1
E0
E2
Y0 Y1 Y2
AD0
GDP
Giá cả
AD1
AD2
45
0
Thị trường hàng hóa
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
chi tiêu nhiều hơn do đó cầu sẽ tăng lên. Giá cả cũng sẽ tăng và sản lượng quốc gia
do đó cũng tăng lên.
1.2.2. Dự trữ:
Khi ngân hàng trung ương sử dụng tỷ lệ dữ trự bắt buộc như một công cụ, nó tác
động trực tiếp đến cung ứng tiền. Lúc đó dự trữ bắt buộc là công cụ mà cung ứng
hơn trước ), do đó sẽ làm tăng GDP. Và khi đồng tiền nội tệ tăng giá sẽ làm tăng
nhập khẩu.
Do những lý do trên tỉ giá hối đoái có tác động đến kinh tế vĩ mô và nắm được tỉ
giá hối đoái này chính phủ cần ngân hàng trung ương điều tiết lượng cung ứng tiền.
1.3. Các công cụ điều tiết thị trường tiền tệ
1.3.1. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở có 2 lọai: được phép mua bán chứng khóan vào những
thời điểm nhất định sau khi nghiệp vụ được tiến hành và lọai không được phép mua
bán lại.
Khi ngân hàng trung ương đem chứng khóan ra thị trường mở để bán nó thu tiền
hay séc về, cho nên:
1. Giảm lượng cung tiền mắt trong lưu thông từ đó giảm khả năng cho vay của
các ngân hàng trung gian.
2.Khi ngân hàng trung gian mua chứng khóan của ngân hàng trung ương thì dự
trữ tiền của nó sẽ giảm xuống và khả năng cung ứng tiền của nó bị thắt chặt.
3. Lượng chứng khoán tăng lên, chứng khoán trở nên thừa và giá của nó sẽ giảm
xuống, lãi suất của nó sẽ tăng lên. Lãi suất chứng khoán tăng lên buộc các ngân hàng
phải tăng lãi suất để tránh tình trạng người dân rút tiền ra khỏi ngân hàng để đầu tư
vào chứng khoán. Lãi suất ngân hàng tăng làm lượng tiền cung ứng giảvà do đó tiền
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 10 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
trở nên khan hiếm, do đó tỉ giá và giá cả hàng hóa giảm xuống. Và ngược lại khi
ngân hàng trung ương ra thị trường mở để mua chứng khoán.
Như vậy khi ngân hàng trung ương thực hiện nghiệp vụ bán, nó thắt chặt cung
ứng tiền, tăng lãi suất, giảm tỉ giá và giá cả hạ xuống và ngược lại khi thực hiện
nghiệp vụ mua.
1.3.2. Lãi suất cho vay chiết khấu
Được ngân hàng trung ương quyết định trong cả hai trường hợp:
1. Cho vay bình thường với kí quỹ khi ngân hàng trung gian kẹt thanh toán.
2. Cho vay dưới hình thức cứu cánh cuối cùng.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH THỊ TRƯỜNG TIỀN
TỆ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2012
2.1. Diễn biến thị trường dưới sự quản lý, điều tiết của NHNN VN
Trong năm 2010, góp phần trong các kết quả khả quan của kinh tế cả nước, NHNN
đã điều hành CSTT chủ động, linh hoạt và thận trọng, phù hợp với Nghị quyết Quốc hội,
chỉ đạo của Chính phủ và bám sát tình hình thực tế, góp phần quan trọng để thực hiện các
mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, năm 2011, trước dự báo của các tổ chức quốc tế về tình hình kinh tế thế
giới tăng trưởng không mấy khả quan, thậm chí còn có thể chậm hơn năm 2010, bất ổn
kinh tế vĩ mô và biến động phức tạp của thị trường tài chính tiền tệ toàn cầu dự kiến tiếp
tục gây khó khăn cho quá trình phục hồi kinh tế thế giới. Trong khi, kinh tế trong nước
đang phải đối mặt với những vấn đề nan giải như lạm phát, nhập siêu ở mức cao, tình
trạng đô-la hóa trong nền kinh tế, một số bộ phận của khu vực tài chính (thị trường bất
động sản, chứng khoán, ngoại hối ) diễn biến còn phức tạp Để tháo gỡ dần các khó
khăn đó, đồng thời góp phần thực hiện thành công Nghị quyết số 51/2010/QH12 ngày
8/11/2010 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, ngay từ đầu
năm, Chính phủ chỉ đạo sát sao các Bộ, ngành chức năng trong nền kinh tế, đặc biệt là
ngành ngân hàng tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã
hội. Chủ trương của Chính phủ được thể hiện rõ nét thông qua Nghị quyết 02/NQ-CP
ngày 09/01/2011 của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số
15/TB-VPCP ngày 14/02/2011 về điều hành CSTT và đặc biệt là Nghị quyết 11/NQ-CP
ngày 24/02/2011 của Chính phủ.
Trên cơ sở đó, ngay từ đầu năm 2011, NHNN đã xác định mục tiêu định hướng
trong việc điều hành CSTT là điều hành CSTT chủ động, linh hoạt và thận trọng nhằm
mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần tăng trưởng
kinh tế. Các công cụ CSTT và các biện pháp điều hành được thực hiện phù hợp với quy
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 13 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
định của Luật NHNN, chỉ đạo của Chính phủ và điều kiện thực tế của thị trường tài chính
- tiền tệ.
thực hiện tương đối tốt vai trò là lãi suất định hướng trên thị trường (lãi suất trên thị
trường OMO dao động bình quân trong khoảng 13 - 14%; lãi suất trên thị trường liên
ngân hàng dao động từ 12 - 13,18%). Nhờ đó mà hoạt động điều tiết thị trường của
NHNN qua thị trường mở trong những tháng đầu năm vận hành tương đối trôi chảy, giữ
vững được thanh khoản cả hệ thống, kết hợp hài hòa giữa thị trường và quản lý. Thành
công đầu tiên phải kể đến đó là hiện tại NHNN đã hút về gần hết lượng tiền cung ứng
phục vụ Tết Nguyên đán (toàn bộ lượng tiền cung ứng cho dịp Tết khoảng 130 nghìn tỷ
đồng đã được NHNN rút về hơn 100 nghìn tỷ đồng) khi mà lượng tiền gửi dịp Tết 2011
tăng mạnh so với Tết 2010, NHNN đã quyết định tăng mức tiền mặt ra lưu thông và
chuyển tiền đến những khu vực có nhu cầu lớn.
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 15 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
1.1.1.1. Lượng tiền cung ứng ròng
Thông qua OMO, NHNN tiến hành những động thái bơm tiền ra và hấp thụ về
nhằm tác động đến vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng.
Bảng 1: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm 2008 2009 2010 06/2011
Cung ứng 1.014.196 966.879 2.108.715 2.300.062
Hấp thụ 913.692 844.049 1.814.411 2.287.006
Cung ứng
ròng
100.504 122.830 294.304 13.056
(Nguồn: NHNN)
NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt với quyết tâm kiềm chế lạm
phát, điều này thể hiện ở lượng tiền cung ứng ròng trong 6 tháng đầu năm 2011.
Từ bảng 1 ta thấy, từ năm 2008 NHNN đã bơm ròng 100.504 tỷ đồng, năm 2009
cũng bơm ròng tới 122.830 tỷ đồng, năm 2010 bơm ròng 294.304 tỷ đồng. Trong khi đó,
6 tháng đầu năm 2011 chỉ bơm ròng 13.056 tỷ đồng. Điều này chứng tỏ NHNN quyết
tâm thực hiện CSTT thắt chặt, nhằm mục đích kiềm chế lạm phát. Lãi suất NVTTM (hay
phiên giao dịch mua có kỳ hạn. Để đảm bảo khả năng thanh khoản cho các TCTD nên
NHNN chỉ chào các phiên giao dịch mua có kỳ hạn và chủ yếu là kỳ hạn ngắn, chỉ có 7
ngày và tất cả các phiên đều đấu thầu khối lượng.
Doanh số giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở liên tục tăng, năm sau cao hơn
năm trước theo cả hai chiều mua và bán. Năm 2008, tổng doanh số trúng thầu là
1.036.066 tỷ đồng, đến cuối năm 2010, tổng doanh số trúng thầu là 2.108.715 tỷ đồng.
Trong các hình thức giao dịch thị trường mở thì hình thức NHNN mua các GTCG -
“bơm” tiền ra là chủ yếu, có thời điểm là 100% trong tổng doanh số trúng thầu như 6
tháng đầu năm 2009 và năm 2010. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2011, NHNN lại “hút” là
chủ yếu, (tháng 5 và 6); NHNN chỉ bơm ra khoảng 13.056 tỷ đồng. Điều này cho thấy
thị trường mở là một “kênh” cung ứng hoặc thu hút tiền về quan trọng của NHNN nhằm
thực hiện mục tiêu của CSTT. Khối lượng giao dịch trong từng phiên cũng ngày càng
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 17 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
tăng từ bình quân 2.577 tỷ đồng/phiên năm 2008 lên 3.240 tỷ đồng/phiên năm 2010 và
9.544 tỷ đồng/phiên năm 2011.
Các chủ thể tham gia thị trường trong 6 tháng đầu năm 2011 cũng tăng mạnh, gần
như các chủ thể đăng ký tham gia thị trường, nếu có đủ điều kiện đều được giao dịch và
đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời. Các chủ thể tham gia gồm: 05 NHTM Nhà nước, 32
NHTMCP, 01 ngân hàng liên doanh, 07 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 04 công ty tài
chính.
Như vậy, khi các TCTD thiếu hụt nghiêm trọng vốn khả dụng thì thị trường mở thực
sự là “phao” hỗ trợ cho các TCTD này, bảo đảm khả năng thanh toán cho các TCTD
trong trường hợp thị trường có những biến động đột xuất. Điều này đã góp phần ổn định
thị trường tiền tệ ngay tức thì, đáp ứng yêu cầu điều tiết vốn khả dụng của các thành viên
tham gia thị trường mở.
Trong gần 3 năm trở lại đây, NHNN chủ yếu thực hiện đấu thầu khối lượng với khối
lượng được công bố trước trong những phiên chào mua. Khối lượng giao dịch bình quân
trong từng phiên tăng dần trong các năm chứng tỏ nghiệp vụ thị trường mở ngày càng
đóng vai trò quan trọng tác động đến tổng lượng tiền trong nền kinh tế (M2).
hình thức khuyến mại. Lãi suất đầu vào tăng sẽ tác động làm lãi suất đầu ra gia tăng và
nếu không được kiểm soát kịp thời thì sẽ có tác động xấu đến mục tiêu tăng trưởng kinh
tế của đất nước. Trước thực tế đó, NHNN đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc
chấp hành chủ trương duy trì trần lãi suất huy động và nghiêm túc xử lý các TCTD vi
phạm quy định này. Hiện tại, lãi suất cho vay VNĐ bình quân thực tế khoảng 18,3%/năm
(tăng thêm 2%/năm so với lãi suất bình quân 16,23% của quý I, tăng 3%/năm so với cuối
năm 2010); trong đó lãi suất cho vay nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu 16,5 -17%/năm;
đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác từ 18 - 20%/năm; đối với lĩnh vực phi sản
xuất từ 22 - 25%/năm.
Nhìn chung, mặt bằng lãi suất trên vẫn được đánh giá là còn cao, tuy nhiên trong bối
cảnh hiện này, khi lạm phát ở mức cao thì thực tế này là một điều không thể tránh khỏi,
và điều đó cũng đã được Chính phủ nhận định rõ trong Nghị quyết số 83 về phiên họp
Chính phủ thường kỳ tháng 5/2011: lãi suất cao tác động đến sản xuất và kinh doanh của
doanh nghiệp và hộ gia đình là điều không thể tránh khỏi. Bởi không có quốc gia nào lạm
phát cao mà lãi suất lại thấp cả. Để giảm tổng cầu thì lãi suất phải cao, phải giảm tốc độ
tăng trưởng tín dụng. Và NHNN chỉ có thể sử dụng các công cụ điều hành để tác động
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 20 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
giảm dần lãi suất theo hướng đạt được sự ổn định tương đối vững chắc khi chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) giảm dần.
2.1.2. Điều hành tỷ giá ổn định, linh hoạt phù hợp với diễn biến của thị
trường, tăng cường quản lý ngoại hối tập trung, đảm bảo tính thanh khoản
ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối; Kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh
vàng, thị trường vàng trong nước theo sát thị trường vàng thế giới.
Công tác quản lý ngoại hối trong thời gian qua được đánh giá là có những bước
chuyển biến lớn, đã thể hiện sự chủ động của NHNN trong công tác đón đầu những rủi ro
tiềm ẩn của thị trường ngoại hối. Quyết định số 230/2011/QĐ-NHNN điều chỉnh tỷ giá
bình quân liên ngân hàng nhằm thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP về những giải pháp
chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 và
nhằm tăng tính thanh khoản của thị trường ngoại hối được nhìn nhận là văn bản pháp lý
biện pháp quản lý chặt chẽ như cấm kinh doanh ngoại tệ trên thị trường tự do, cấm kinh
doanh vàng miếng, yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải bán ngoại tệ cho tổ
chức tín dụng, điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ thêm 1 điểm phần trăm, từ
6% lên 7% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng, lãi
suất huy động tối đa bằng USD từ 1%/năm xuống còn 0,5%/năm đối với tổ chức và
3%/năm xuống còn 2%/năm đối với cá nhân. Những giải pháp có phần hành chính trên
đã khiến thị trường ngoại hối tự do liên tục giảm và xoay quanh tỷ giá chính thức với
mức chênh lệch rất nhỏ (0.5%), thậm chí có thời điểm giao dịch thấp hơn tỷ giá bình
quân của các ngân hàng thương mại.
Năm 2011 cũng là năm đánh dấu hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt kết
qủa khả quan, thực hiện tốt hơn các chỉ tiêu đề ra và tạo sự hỗ trợ lớn cho việc ổn định tỷ
giá. Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan công bố tổng kim ngạch xuất khẩu trong 11
tháng năm 2011 đạt gần 87,36 tỷ USD, tăng 35% so với cùng kỳ và vượt so với chỉ tiêu
kế hoạch cả năm đề ra là 10%. Tương tự, kim ngạch nhập khẩu đã đạt gần 96,2 tỷ USD,
tăng 26,5% so với cùng kỳ và vượt mức kế hoạch cả năm là 2,9%. Điều đáng mừng là tỷ
trọng nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu đã giảm rất mạnh so với các năm trước
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 22 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
và dưới khá xa so với mục tiêu phấn đấu do Quốc hội và Chính phủ đưa ra. Bên cạnh đó
kiều hối cũng đang góp phần đáng kể trong việc cải thiện dự trữ ngoại hối, ước tính vừa
công bố của Ngân hàng Thế Giới (WB) cho thấy lượng kiều hối chuyển về Việt Nam
trong năm 2011 đạt gần 9 tỷ USD. Với con số này, Việt Nam thuộc top 10 các nước nhận
được nhiều kiều hối nhất theo con đường chính thức (gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Mexico,
Philippines, Pakistan, Bangladesh, Nigeria, Ai Cập và Liban). Điều này chứng tỏ sự hấp
dẫn và ổn định của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là rất cao.
Năm vừa qua Việt Nam cũng chứng kiến những cơn sốt vàng gây náo loạn thị
trường. Theo đà tăng của thế giới, giá vàng tại Việt Nam bắt đầu leo thang từ đầu tháng
8. Ban đầu, giá vàng mới nhích lên 42 triệu, rồi thẳng tiến đạt mức 45-46 triệu
đồng/lượng. Cơn sốt vàng thực sự bùng nổ vào ngày 23/8/2011, khi giá vàng đạt đỉnh:
trên 49 triệu đồng/lượng. Cả xã hội náo loạn với vàng. Để hạ nhiệt cơn sốt này, Ngân
chủ động bán ngoại tệ tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu hợp pháp như đi công tác, học
tập, chữa bệnh… của cá nhân theo các quy định của pháp luật. Đồng thời, ngày
29/4/2011, NHNN cũng đã ban hành Thông tư số 11/2011/TT-NHNN quy định về chấm
dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD.
Mặc dù diễn biến thị trường ngoại hối là ổn định nhưng để tăng cường tính chủ
động trong công tác điều hành chính sách tỷ giá trong điều kiện nhập siêu còn lớn, lạm
phát gia tăng, vốn FDI có xu hướng giảm,… cuối tháng 5/2011, NHNN đã ban hành
những chính sách mới với kỳ vọng là sẽ hỗ trợ tốt cho công tác điều hành CSTT để kiềm
chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô theo chủ trương của Chính
phủ, tiếp tục duy trì được sự ổn định cho tỷ giá, tăng cường dự trữ ngoại hối, giảm mức
độ đô-la hóa, cụ thể gồm có:
+ Thông tư số 13/2011/TT-NHNN ngày 31/5/2011 quy định các tập đoàn, tổng công
ty nhà nước có nghĩa vụ bán ngoại tệ cho TCTD được phép hoạt động ngoại hối theo quy
định của pháp luật từ ngày 1/7/2011.
Vai trò NHTW trên TTTT và kinh nghiệm các nước. - 24 -
Bài thảo luận môn: Thị trường tiền tệ
+ Quyết định số 1209/2011/QĐ-NHNN ngày 1/6/2011 điều chỉnh tăng 1% tỷ lệ dự
trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, áp dụng kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng
6/2011.
+ Thông tư số 14/2011/TT-NHNN ngày 1/6/2011 giảm mức trần lãi suất huy động
USD của cá nhân từ mức 3% xuống 2%, của tổ chức từ 1% xuống 0,5%.
+ Trong Quý II/2011 trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh
doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh
doanh vàng miếng trên thị trường tự do; ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu vàng
qua biên giới.
2.1.3. Quyết tâm thực hiện hiệu quả công cụ hạn mức tín dụng, hạn chế
cung tiền thông qua kênh tín dụng, kết hợp hài hòa với công cụ lãi suất
nhằm thực hiện mục tiêu giảm tổng cầu theo tinh thần của Nghị quyết 11
Quyết tâm đó được thể hiện rõ nét thông qua các mục tiêu cụ thể để kiểm soát tín
dụng trong Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 01/3/2011 về thực hiện giải pháp tiền tệ và hoạt