Luận văn
Một số biện pháp nhằm
đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ
sản phẩm của Công ty
TNHH in bao bì Thái Lợi
LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21. Thế kỷ của khoa học công nghệ - thông tin. Mọi
thành tựu khoa học công nghệ được đáp ứng vào trong sản xuất hàng hóa và
dịch vụ, năng suất trong sản xuất tăng nhanh, hàng hóa sản xuất ra ngày càng
nhiều. Sự cạnh tranh giữa các công ty, các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và
khốc liệt. Các doanh nghiệp luôn cố gắng, nỗ lực tìm cho mình một vị thế,
chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị phần sản phẩm, nâng cao uy tín
của doanh nghiệp đối với khách hàng, có như vậy mới tồn tại và phát triển
được. Chính vì lý do đó mà đề tài “đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm” luôn có tầm
quan trọng và tính thời cuộc đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
nào.
1. Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nối trung gian
giữa một bên là sản phẩm sản xuất và phân phối với một bên là tiêu dùng.
Trong quá trình tuần hoàn các nguồn vật chất, việc mua và bán được thực
hiện. Giữa sản xuất và tiêu dùng, nó quyết định bản chất của hoạt động lưu
thông và thương mại đầu vào, thương mại đầu ra của doanh nghiệp. Việc
chuẩn bị hàng hóa sản xuất trong lưu thông. Các nghiệp vụ sản xuất ở các
khâu bao gồm: phân loại, lên nhãn hiệu sản phẩm, bao gói, chuẩn bị các lô
hàng để bán và vận chuyển theo yêu cầu khách hàng. Để thực hiện các quy
trình liên quan đến giao nhận và sản xuất sản phẩm hàng hóa đòi hỏi phải tổ
chức hợp đồng ký kết lao động trực tiếp ở các kho hàng và tổ chức tốt công
tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu về mặt hàng về chủng loại sản
phẩm của doanh nghiệp.
Như vậy, tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện pháp về tổ chức kinh tế
và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường.
Nó bao gồm các hoạt động: Tạo nguồn, chuẩn bị hàng hóa, tổ chức mạng lưới
bán hàng, xúc tiến bán hàng cho đến các dịch vụ sau bán hàng.
Tóm lại: hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bao gồm 2 quá
trình có liên quan:
Một là: Các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất, chuẩn bị, tiếp nhận, phân loại
bao gói, lên nhãn mác, xếp hàng vào kho, chuẩn bị đóng bộ, vận chuyển theo
yêu cầu khách hàng.
Hai là: Các nghiệp vụ kinh tế, tổ chức và kế hoạch hóa tiêu thụ sản
phẩm nghiên cứu thị trường, tổ chức bán hàng, đào tạo bồi dưỡng và quản trị
lực lượng bán hàng.
2. Vai trò của công tác tiêu thụ sản phẩm
Thị trường sản phẩm là một khâu vô cùng quan trọng đối với bất cứ
một doanh nghiệp sản xuất hay một doanh nghiệp thương mại nào. Có thể nói
sự tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào công tác tiêu thụ sản
phẩm. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm chi phối các khâu nghiệp vụ khác.
Thứ hai: Mục tiêu vị thế của doanh nghiệp:
Vị thế doanh nghiệp biểu hiện ở phần trăm doanh số hoặc số lượng
hàng hóa được bán ra so với toàn bộ thị trường. Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa
quyết định đến vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Tiêu thụ mạnh làm
tăng vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
Thứ ba: Đảm bảo tái sản xuất liên tục:
Quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: Sản xuất - phân phối - trao đổi -
tiêu dùng , nó diễn ra trôi chảy. Tiêu thụ sản phẩm nằm trong khâu phân phối
và trao đổi. Nó là một bộ phận hữu cơ của quá trình tái sản xuất. Do đó, thị
trường có ý nghĩa quan trọng đảm bảo quá trình tái sản xuất được diễn ra liên
tục, trôi chảy.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm.
4.1. Những nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
Hàng hóa tiêu thụ trong kỳ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như số
lượng, chất lượng, giá bán và việc tổ chức công tác tiêu thụ.
4.1.1. Khối lượng sản phẩm hàng hóa.
Doanh nghiệp muốn đạt được khối lượng tiêu thụ cao thì trước hết phải
có đủ sản phẩm, hàng hóa cung cấp cho tiêu thụ.
Khối lượng sản
phẩm
= Số sản phẩm +
Số hàng hóa mua
vào
-
Số xuất khác
Khối lượng sản
phẩm hàng hóa
đơn vị sản phẩm kinh doanh định đoạt. Nhìn chung giá bán của đơn vị hàng
hóa cao thì khối lượng tiêu thụ giảm và ngược lại. Trong điều kiện bình
thường, giá cả và lượng hàng hóa tiêu thụ có quan hệ ngược chiều nhau.
Đường cong biểu thị mối quan hệ giữa cầu và giá có dạng như sau:
Hình 1.2. Đồ thị biểu thị giữa cầu và giá
Giá
Sản lượng
Y
1
Y
2
Y
1
, Y
2
: là đường cong bán hàng tùy theo giá. Khối lượng hàng hóa
thay đổi nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
hàng hóa.
ứng với thị trường và làm tăng sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đó.
Quá trình nghiên cứu thị trường được thực hiện qua 3 bước:
- Thu thập thông tin
- Xử lý thông tin
- Ra quyết định
5.2. Xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò rất quan
trọng có ý nghĩa sống còn đến một doanh nghiệp. Muốn thực hiện tốt công tác
tiêu thụ sản phẩm phải xác định được một chiến lược tiêu thụ sản phẩm phù
hợp. Chiến lược tiêu thụ sản phẩm bao gồm chiến lược sản phẩm (thể hiện
mối quan hệ sản phẩm và thị trường), đặt hàng sản xuất, chính sách giá cả
hàng hóa, khối lượng sản xuất, phân phối hàng hóa cho các kênh tiêu thụ sản
phẩm. Các doanh nghiệp cần đưa ra thị trường những sản phẩm mà người tiêu
dùng cần chứ không phải là đưa ra cái mà doanh nghiệp có.
5.3. Chính sách giá bán
Việc định ra chính sách giá bán linh hoạt, phù hợp với cung cầu trên thị
trường sẽ giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu kinh doanh của mình như:
tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lượng tiêu thụ hoặc thâm nhập và mở rộng thị
trường bởi vậy, chính sách giá của doanh nghiệp phù hợp với xu thế thị
trường sẽ có tác dụng tốt đến sự phát triển của doanh nghiệp ở hiện tại cũng
như trong tương lai. Chính sách giá hướng chủ yếu vào các vấn đề sau:
- Xác định các giới hạn và độ linh hoạt cần thiết
- Các chính sách định giá bán
5.4. Tổ chức các kênh tiêu thụ sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường, việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện
bằng nhiều kênh khác nhau, theo đó các sản phẩm được bán và vận động từ
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đến tận tay người tiêu dùng.
Mặt khác cũng có rất nhiều hình thức tiêu thụ nhưng đại đa số các sản
là những máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng trong quá trình
tiêu thụ, nói chung đều thông qua một số kênh chủ yếu. Việc thực hiện kế
1. Lịch sử hình thành phát triển của Công ty Thái Lợi
Công ty In bao bì Thái Lợi ra đời và đi vào hoạt động vào ngày
7/9/1999. Công ty có tài khoản riêng, có con dấu để giao dịch và hoạt động.
Trụ sở chính của Công ty đặt tại 42/128 Giảng Võ – Ba Đình – Hà Nội.
Trong buổi đầu sơ khai, với quy mô là một xưởng in nhỏ, cơ sở vật chất
kỹ thuật còn nghèo nàn, phương tiện, dụng cụ sản xuất còn lạc hậu nên hiệu
quả sản xuất còn rất thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, mẫu mã còn đơn
điệu. Sau một thời gian hoạt động hiệu quả Công ty đã phục vụ tốt nhu cầu
của thị trường và phát triển sản phẩm ngày một đa dạng hơn.
Đến năm 2000 trước yêu cầu của việc đổi mới nền kinh tế, Công ty đã
thực hiện sản xuất kinh doanh đáp ứng theo nhu cầu của thị trường, đảm bảo
nâng cao đời sống công nhân viên. Đặc biệt trong giai đoạn này, đất nước ta
mở rộng hợp tác về kinh tế. Về nhiều mặt với các nước trên thế giới, mở ra
cho mọi thành phần kinh tế tầm nhìn mới, thị trường mới, do đó sản phẩm của
Công ty cũng đòi hỏi có nhiều đổi mới về chất lượng, mẫu mã một cách đa
dạng nhằm quản cáo giới thiệu sản phẩm về các ngành khác.
Hiện nay mặc dù với quy mô sản xuất không lớn nhưng Công ty luôn
luôn vươn lên tự hoàn thiện và khẳng định mình. Công ty thường xuyên đầu
tư máy móc thiết bị có tính năng tác dụng cao áp dụng vào sản xuất. Song
song với việc đầu tư, Công ty không ngừng tiến hành sửa chữa, nâng cấp tính
năng sử dụng của máy móc thiết bị cũ một cách kịp thời, hiệu quả và hợp lý,
góp phần không nhỏ vào việc làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Công ty. Đồng thời Công ty cũng lấy việc tổ chức học tập, đào tạo nâng cao
tay nghề cho công nhân viên làm tiền đề cơ bản cho quá trình đổi mới và phát
triển.
2. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH In Bao bì Thái Lợi
Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm: Ban giám đốc, các phòng ban
nghiệp vụ và xưởng sản xuất, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Công ty từng bước điều chỉnh, hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý của mình
ngày càng khoa học hơn. Công ty là một thể thống nhất trong đó các bộ phận
kinh doanh
Phòng
kỹ
thuật
công
nghệ
KCS
Phòng
kỹ
thuật
cơ
điện
Văn
phòng
Công ty
Phòng
kế
toán
tài
chính
Phòng
kế
hoạch
vật tư
Phòng
thị
trường
GIÁM ĐỐC
Phó G
cáo, tiếp thị, cung cấp hàng hoá tối ưu đến tay khách hàng, Ngoài ra phòng
thị trường còn lên kế hoạch sản xuất và soạn thảo hợp đồng tiêu thụ sản
phẩm.
Phòng kế hoạch vật tư căn cứ vào hợp đồng tiêu thụ sản phẩm lập kế
hoạch nhu cầu về vật tư, mua sắm vật tư, nhiên liệu nhập kho, tổ chức chế
biến nguyên liệu, quản lý kho tàng và các phương tiện vận tải.
Phòng kỹ thuật công nghệ, thực hiện kiểm tra chất lượng vật tư, bán
thành phẩm, thành phẩm, nguyên vật liệu nhập kho, đảm bảo chất lượng sản
phẩm, đào tạo công nhân kỹ thuật.
3. Môi trường kinh doanh của Công ty Thái Lợi
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ của Công ty chính là các
nhân tố tạo điều kiện hoặc gây khó khăn cho Công ty trong trong việc đáp
ứng nhu cầu thị trường và sự cạnh tranh với các đối thủ khác.
3.1 Môi trường kinh doanh bên ngoài của Công ty
Các nhân tố khách quan tác động đến khả năng tiêu thụ của Công ty
chính là môi trường kinh doanh của Công ty.
3.1.1. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta tăng trưởng với tốc độ
cao dẫn đến khả năng thanh toán của khách hàng cũng tăng và do đó sức mua
cũng lớn hơn. Đây chính là cơ hội cho Công ty In Bao bì Thái Lợi có điều
kiện đẩy mạnh sản xuất, mở rộng danh mục sản phẩm, thị trường tiêu thụ
tăng, tăng doanh thu và tăng khả năng cạnh tranh.
3.1.2. Nhóm nhân tố về chính trị và pháp luật
Sự ổn định về chính trị cùng với việc ban hành luật pháp, chính sách
trong nước tạo ra khuôn khổ pháp lý hướng bước đi của xã hội. Đường lối
kinh tế mở cho phép Công ty có điều kiện tiếp xúc với nước ngoài, tìm kiếm
thị trường công nghệ kỹ thuật mới, thu thập thông tin mua bán trao đổi, học
tập kinh nghiệm để áp dụng vào thực tiễn của Công ty. Trong thời gian qua
Công ty có nhiều mối quan hệ mua bán nguyên vật liệu từ nhiều nước, nhờ có
đường lối kinh tế mở đã giúp Công ty tránh bị ép giá, đảm bảo chất lượng sản
lắm nhưng đòi hỏi người lao động phải nắm bắt được những kỹ năng cơ bản
của công việc. Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo hiệu quả
công việc và chất lượng sản phẩm, Công ty căn cứ vào độ phức tạp của công
việc để phân công cho phù hợp với trình độ tay nghề của người lao động.
Trình độ đại học chiếm 10%, trung cấp chiếm 20%. Đặc biệt số lao động là
những người trẻ khoẻ chiếm 70%, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Công
ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặc dù là một công ty TNHH, nhưng
Công ty đã thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, chế độ khen thưởng
cho các cán bộ công nhân viên. Trong những năm qua, thu nhập trung bình
của người lao động trong Công ty đã không ngừng được nâng cao đều đạt
mức trung bình khá so với nhiều doanh nghiệp cùng ngành khác và cải thiện
đời sống ở mức trung bình hiện nay là 800.000 đồng/người/tháng. Tuy nhiên
thu nhập của người lao động chưa cao vì một số nguyên nhân cơ bản sau:
Số lượng lao động tương đối lớn so với yêu cầu của sản xuất cộng
thêm tình trạng sử dụng người lao động chưa hợp lý dẫn đến năng suất lao
động bình quân không cao.
Thiết bị công nghệ sản xuất lạc hậu, công suất nhỏ dẫn đến các chỉ
tiêu tiêu hao lớn, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thấp khó cạnh
tranh. Những điều này dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả ở Công ty.
Biểu số 3
Số lượng lao động và thu nhập của người lao động
của Công ty In bao bì thái lợi trong các năm qua
Chỉ tiêu Đơn vị 2001 2002 2003
Số lao động bình quân Người 50 50 50
Thu nhập bình quân đ/ng/tháng 640.000 720.000 800.000 Công ty cũng đã bước đầu quan tâm đến công tác bồi dưỡng, đào tạo
đội ngũ cán bộ cán bộ và lao động. Công ty cũng đã đưa ra các chương trình
khuyến khích để thu hút những người lao động có trình độ về làm việc. Hiện
chất kỹ thuật và đội ngũ lao động tương đối ổn định làm tiền đề cho những
bước tiến trong tương lai. Khả năng về vốn là yếu tố vật chất nền tảng để
Công ty đầu tư và nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Tình hình tài chính lành mạnh cho phép Công ty đẩy mạnh sản xuất, duy trì
và mở rộng thị trường kinh doanh trong tương lai.
Bảng 1: Bảng giá trị đầu tư máy móc thiết bị của
Công ty TNHH In Bao bì Thái Lợi
Đơn vị : triệu đồng
Năm Nguyên giá Giá trị còn lại
2001 6.472,3 5.478,5
2002 7.995,3 4.579,9
2003 8.600,0 5.074,6
Bảng 2: Bảng nguồn vốn kinh doanh các năm
Đơn vị : Triệu đồng
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
-Vốn Kinh doanh 799.815.230
859.472.923
887.152.990
-Vốn tự bổ sung 459.842.230
509.134.027
541.354.490Như vậy có thể khẳng định rằng, việc đầu tư máy móc thiết bị và tăng
vốn kinh doanh là yếu tố then chốt cho Công ty để nâng cao sản lượng sản
nhuận của Công ty, cùng với sự tăng lên của tổng doanh thu, giá vốn hàng
hoá bán cũng tăng lên, năm 2002 giá vốn hàng hoá tăng 44.8 triệu đồng so với
năm 2001 và giá vốn hàng hoá tăng 54.41 triệu đồng phản ánh mức độ tăng
đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Đồng thời khi doanh thu tăng lên có kèm theo
sự tăng lên của giá vốn hàng bán thì có nghĩa là việc doanh thu tăng lên một
phần là do tăng mức đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp của Công ty cũng tăng lên theo thời
gian từ năm 2001 đến năm 2002 tăng 31.67 triệu đồng và từ năm 2002 đến năm
2003 chi phí quản lý tăng 8 triệu đồng ta thấy mức độ tăng của khoản mục chi
phí này giảm dần, tạo nên khả năng tiết kiệm chi phí của Công ty để tăng lợi
nhuận.
- Lợi nhuận của Công ty tăng lên qua các năm và mức tăng lớn dần. Từ
năm 2001 đến năm 2002 tăng 14.24 triệu đồng, từ năm 2002 đến năm 2003
tăng 21.5 triệu đồng. Kết quả này phản ánh tốc độ tăng lên của chi phí thấp
hơn tốc độ tăng lên của doanh thu qua các năm nên lợi nhuận tạo ra tăng dần.
Qua đó ta có thể nhận định sơ bộ rằng hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty đang trên đà phát triển, bộc lộ những khả năng mở rộng sản xuất
kinh doanh tốt trong tương lai. Lợi nhuận của Công ty biến động tăng qua các
năm thông qua việc tăng doanh thu và tiết kiệm chi phí kết hợp với tăng đầu
tư cho quá trình sản xuất kinh doanh.
2. Cơ sở vật chất trang thiết bị:
Hiện nay, quy mô và năng lực sản xuất của Công ty ngày càng phát
triển theo hướng đa dạng hoá công nghệ, tự chủ trong sản xuất kinh doanh kết
hợp đầu tư cho dịch vụ sau này:
- Tổng diện tích mặt bằng nhà xưởng của công ty là 639 m2.
- Các loại máy móc thiết bị mà công ty dùng để sản xuất ra sản phẩm là
các hệ thống máy chuyên dùng cho ngành sản xuất bao bì màng ghép phức
hợp, gồm có các hệ thống máy như sau:
Hệ thống máy in ống đồng sản xuất tại Đài Loan theo công nghệ của
Đức và Nhật: gồm có 7 bộ phận in, chỉnh và chồng màu tự động. Công suất
màng
TẠO
MẪU
CHIA
CUỘN
Thành
phẩm
Làm túi Túi 3 biên
Túi dán
lưng 2. Về số lượng sản phẩm - tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH In
Bao bì Thái Lợi
Ngày nay cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, sản
phẩm chế biến ngày càng đa dạng do đó nhu cầu về sản phẩm bao bì cũng
ngày càng tăng. Ngoài việc bảo quản sản phẩm tốt chế biến bên trong bao bì
còn làm đẹp về mẫu mã bên ngoài của sản phẩm.
Sản phẩm của Công ty tương đối đa dạng về kích thước, mẫu mã nhưng
03 Bao bì trà cà phê 14
15
15
7,14
0
04 Các sản phẩm khác 5
6
6,5
20
8,33Qua bảng ta thấy chỉ có sản phẩm bao bì mì ăn liền năm 2003 có giảm
so với năm 2002 còn lại các sản phẩm khác năm sau đều bằng hoặc tăng hơn
so với năm trước. Sản phẩm bao bì mì ăn liền tiêu thụ năm 2002 tăng 2,94%
so với năm 2001, năm 2003 lại giảm 8,57% so với năm 2002. Sản phẩm bao
bì bánh kẹo tiêu thụ năm 2002 tăng 30,77% so với năm 2001 và năm 2003
tăng 5,88% so với năm 2002. Sản phẩm bao bì trà cà phê tiêu thụ năm 2002
tăng 7,14% so với năm 2001 nhưng năm 2003 không tăng so với năm 2002.
Còn sản phẩm các loại bao bì khác năm 2002 tiêu thụ tăng 20% so với 2001
và năm 2003 tăng 8,33% so với 2002.
Việc phân tích tình hình tiêu thụ theo mặt hàng sẽ giúp Công ty biết
được mặt hàng nào bán được, mức cầu thị trường theo mặt hàng là bao nhiêu,
mặt hàng nào không bán được đó tìm hướng kinh doanh có hiệu quả.
Vì vậy, ta có thể xem xét tình hình tiêu thụ mặt hàng của Công ty trong 3
năm 2001 - 2003 qua bảng sau.
Bảng 5: Doanh thu tiêu thụ theo sản phẩm 2001- 2003
Đơn vị tính: Triệu đồng
% tăng
Các chỉ tiêu 2001 2002 2003
02/01 03/02
Tổng doanh thu
6.851,5 6.969,9 7.689,8
16,84 10,33
Bao bì mì ăn liền 2.195,4 2.256,3 2.084,2 2,77 -7,63
Bao bì bánh kẹo 1.772,3 1.823,7 2.014,4 2,9 10,46
Bao bì trà cà phê 1.918,9 2.094,5 2.454,2 9,15 17,17
Các sản phẩm khác 964,9 795,4 1.137 -17,57 42,95
Qua bảng trên ta thấy: Doanh thu của sản phẩm bao bì mì ăn liền năm 2002
tăng 2,77% so với năm 2001 nhưng năm 2003 giảm 7,63% so với năm 2002 do số
lượng sản phẩm tiêu thụ giảm. Do biến động giá sản phẩm bao bì bánh kẹo nên mặc
dù sản lượng tiêu thụ năm 2002 có tăng 30,77% so với năm 2001 nhưng doanh thu
chỉ tăng 2,9% nhưng năm 2003 sản lượng tiêu thụ tăng 5,88% nhưng doanh thu lại
tăng 10,46%. Tương tự như vậy doanh thu từ sản phẩm bao bì trà cà phê năm 2002
tăng 9,15% so với năm 2001 và năm 2003 tăng 17,17% so với năm 2002.
5. Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của vòng chu chuyển vốn của Công ty.
Sản phẩm hàng hóa chỉ được coi là tiêu thụ khi Công ty xuất kho sản phẩm
gửi đi tiêu thụ và được thu tiền hoặc được khách hàng chấp nhận thanh toán.
Công ty áp dụng phương pháp so sánh để phân tích, đánh giá khái quát tình
xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…) có tác động trực tiếp đến giá
thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
Còn đối với thị trường đầu ra quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ
sở chấp nhận hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp; thị trường đầu ra sẽ quyết
định tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tạo vòng quay vốn nhanh hay chậm từ đó tác
động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Công ty đã chú trọng đến biểu mẫu của các loại loại sản phẩm, có hình
thức giảm giá cho khách hàng mua số lượng nhiều. Các hoạt động sau bán
hàng nhằm duy trì, củng cố và mở rộng hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng như
thị trường cũng đã được quan tâm. Tuy nhiên hoạt động sau bán hàng của
Công ty còn nhiều hạn chế như Công ty chỉ giảm giá cho khách hàng ký kết
những hợp đồng lớn mà chưa có các chương trình khuyến khích khách hàng
có hợp đồng nhỏ lẻ.
Chủng loại sản phẩm của công ty vẫn còn hạn chế mới chỉ dừng lại ở 3
loại sản phẩm chính: bao bì mì ăn liền, bánh kẹo, trà và cà phê, các sản phẩm
khác còn nhỏ lẻ. Chính vì vậy đã hạn chế việc công ty mở rộng thị trường,
khai thác các thị trường tiềm năng.
Từ trước đến nay thị trường truyền thống của công ty vẫn là thị trường
trong Thành phố Hà nội, trong khi thị trường tại các tỉnh lân cận đầy tiềm năng
mặc dù đã có sự mở rộng nhưng vẫn chưa được khai thác đúng mức. Nguyên
nhân là do sản phẩm Công ty không cạnh tranh được với sản phẩm của các đối