Đề tài : “Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh đối ngoại của các ngân hàng thương mại Việt Nam” pot - Pdf 15


1 ………… o0o…………
Đề tài : “Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu
quả kinh doanh đối ngoại của các ngân hàng thương
mại Việt Nam”
hàng TMCP Đại Dương 39
2.2.3.1 Thực trạng kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng 39
Chương 3 GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG CỦA NHTM TRƯỚC BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ
HIỆN NAY 47
3.1 GIẢI PHÁP TỔNG THỂ 48

3
3.1.1. Giải pháp về tổ chức và nhân sự 48
3.1.1.1 Điều chỉnh lại chức năng của từng bộ phận của Phòng kinh doanh tiền tệ
một cách hợp lý. 48 4
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng -môt ngành kinh tế tổng hợp , có vai trò đặc biệt
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân , đuợc coi là “ mạch
máu lưu thông của cơ thể “.
Hoạt động của ngân hàng có ý nghĩa hết sức to lớn đối với

hoạt động kinh doanh đối ngoại của các NHTM
Việt Nam 6

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
ĐỐI NGOẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NHTM
1. Khái niệm
Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng
thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng. Thị trường hoạt động của nó không phải là thị trường
hàng hoá thông thường mà là thị trường tiền tệ với mục tiêu là
tối đa hoá lợi nhuận.
2. Hoạt động của NHTM
Lịch sử của ngân hàng NHTM là lịch sử kinh donah tiền gửi
với phương thức là nhận gửi để giữ hộ và thu phí, sau phát triển
thành nhận gửi có trả lãi cho người gửi và sử dụng số tiền đó trong
khoảng thời gian “nhàn rỗi” để cho vay nhằm thu được lãi cao hơn.
các nhà kinh doanh tiền gửi này được hưởng một khoản chênh lệch
giữa lãi suất cho vay với lãi suáat trả cho người gửi tiền và một số
chi phí khác. Ngày nay, hoạt động của NHTM ngày càng đa dạng
phong phú và có phạm vi rộng lớn, có tác động mạnh đến sự phát

7
triển kinh tế của đất nước. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với mục đích thường xuyên là
nhận gửi sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch

Ngân hàng cũng có những hoạt động để đầu tư vốn của
mình như liên doanh hoặc mua chứng khoán. cung cấp các dịch
vụ để thu phí.
Tất cả các hoạt động trên là nhằm mang lại thu nhập cho
ngân hàng.
2.3. Hoạt động trung gian thanh toán.
Ngân hàng thực hiện mọi yêu cầu của khách hàng qua sự uỷ
thác của khách hàng như chuyển tiền, thu- chi hộ các khoản tiền
căn cứ vào chứng từ mà khách hàng giao cho. Ngân hàng thực
hiện việc thanh toán hộ, thanh toán không dùng tiền mặt với

9
hình thức tập trung sẽ giảm được chi phí, thời gian cho khách
hàng qua đó ngân hàng cũng được có lợi với một khoản phí.
Hiện nay, nền kinh tế thị trường đang trở thành một nền kinh
tế toàn cầu, vì thế vai trò của ngân hàng trong lĩnh vực thương
mại quốc tế là không thể thiếu trong việc kinh doanh ngoại hối
nhằm phụ trợ cho việc tạo nguồn để cho vay, hỗ trợ cho hoạt
động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian
thanh toán giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách
hàng được tiến hành an toàn, nhanh chóng tiện lợi và giảm bớt
chi phí thay vì thanh toán bằng tiền mặt. Ngân hàng bảo vệ của
khách hàng trong giao dịch thanh toán đồng thời tư vấn cho
khách hàng, hướng dãn về kỹ thuật nhằm giảm rủi ro, tạo sự an
tâm tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán
với nước ngoài. Mặt khác, trong quá trình thực hiện thanh toán
quốc tế, khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến sự tài
trợ của ngân hàng nhằm vay để thanh toán hàng xuất nhập khẩu,
ngân hàng bảo lãnh mở L/C, chiét khấu chứng từ xuất khẩu

bên cạnh quá trình hợp tác theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi
giữa các quốc gia luôn kèm theo quá trình cạnh tranh gay gắt
khốc liệt. Cạnh tranh là sản phẩm của nền kinh tế thị trường. Nó
tồn tại một cách khách quan với tất cả các thành viên tham gia
thị trường. Năng lực cạnh tranh của hoạt động kinh doanh đối
ngoại của ngân hàng biểu hiện khả năng chiếm thị phần hoạt
động và chi phối một số thị trường quốc tế quan trọng, tỷ lệ vốn
đầu tư ngày càng tăng trong tổng số vốn nước ngoài đầu tư, ở
chi phí dịch vụ thấp hay cao, uy tín của ngân hàng.
Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và cũng là yếu tố cuối cùng
để kết thúc hoạt động sản xuất kinh doanh ở các nước phát
triển, hoạt động ngân hàng tìm kiếm thị trường bên ngoài lãnh
thổ quốc gia là nhằm chuyển vốn dư thừa tại chính quốc gia
sang các nước kém phát triển hơn với mục tiêu cuối cùng là tối
đa hoá lợi nhuận . Còn mục tiêu của các nước đang phát triển thì
là tìm kiếm các nguồn vốn từ các trung tâm tài chính để chuyển
về trong nước nhằm sử dụng có hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển
kinh tế. Như vậy,tìm kiếm lơi nhuận chính là mục tiêu hàng đầu,
quan trọng nhất trong chiến lược mở rộng thị trường ra bên
ngoài của các NHTM

12
Tuy nhiên,kinh doanh đối ngoại phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như năng lực tài chính, trình độ quản lý kinh doanh, uy tín, kỹ
thuật công nghệ, sự quản lý giám sát của NHNN và một số cấp
có liên quan,an ninh,chủ quyền kinh tế quốc gia. Đây là lý do
giải thích tại sao hệ thống NHTM của Việt Nam còn tương đối
“đóng”. Khái niệm biên giới “ mềm” trong lĩnh vực này còn
tương đối xa lạ .
2. Các nghiêp vụ (dịch vụ) kinh doanh đối ngoại.

giao lưu khác hết sức đa dạng giữa các nước với nhau. Thanh
toán quốc tế thường là những hoạt động dịch vụ đối ngoại đầu
tiên mà NHTM khi bước ra thương trường quốc tế đều phải tiến
hành với những đòi hỏi rất khắt khe, trong đó yêu cầu chuẩn xác
và nhanh chóng được đặt lên hàng đầu. Có 3 phương thức thanh
toán quốc tế được sử dụng phổ biến là : phương pháp chuyển
tiền, phương pháp nhờ thu, phương pháp tín dụng chứng từ L/C.

14
Thị trường quốc tế là thị trường chu chuyển vốn tiền tệ
nhưng không phải tiền tệ của mọi quốc gia mà bằng ngoại tệ tự
do chuyển đổi. Vì vậy hoạt động kinh doanh ngoại hối của các
NHTM trên thị trường tiền tệ quốc tế là tất yếu và thuộc loại các
giao dịch kinh doanh vốn ngắn hạn. Lưu lượng vốn chu chuyển
trên thị trường tiền tệ quốc tế chủ yếu được hình thành từ các
nguồn thuộc dự trữ lưu động do các NHTM được phép nắm
giữ và điều hành kinh doanh tác nghiệp.
Thực tế kinh doanh ngoại hối thì có hai hoạt động chính là :
- Kinh doanh chuyển đổi ngoại tệ: là loại kinh doanh diễn ra
hàng ngày tại một NHTM đối ngoại. Người ta còn gọi việc
chuyển đổi này là mua, bán ngoại tệ. Thị trường hối đoái trong
nước, mua bán ngoại tệ giữa NHTM và khách hàng đều tiến
hành thông qua đồng bản tệ. Còn mua, bán ngoại tệ trên thị
trường hối đoái quốc tế thực chất là sự chuyển đổi giữa các
ngoại tệ với nhau.
- Kinh doanh tiền gửi ngoại tệ: là quan hệ giữa tiền gửi giữa
các NHTM , quan hệ kinh doanh vay mượn với ngân hàng
thương maị và chủ thể cho vay, nguồn vốn ngoại tệ để cho vay
thông qua nghiệp vụ tiền gửi thường được tạo ra từ hai nguồn
kinh doanh hối đoái trong nước và huy động trong thị trương

trong kinh doanh khi một loại ngoại tệ có sẵn đang có xu hướng
mất giá so với ngoại tệ khác. Các NHTM thường thanh toán hộ
theo yêu cầu khách hàng nên trong nghiệp vụ kinh doanh hầu
hết các ngân hàng còn thực hiện các hoạt động ngoại hối theo
hình thức liên ngân hàng, có nghĩa là các NHTM trực tiếp mua
bán với nhau không liên quan tới nghiệp vụ khách hàng. Mục
đích của hoạt động này đối với các NHTM là lợi nhuận thu được
trên cơ sở chênh lệch tỷ giá của các giao dịch ngay trên thị
trường hối đoái hoặc từ việc tích trữ đầu cơ ngoại hối hoặc từ
việc thu phí.
Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước cũng là
mục tiêu quan trọng nhất trong chiến lưọc mở rộng thị trường ra
bên ngoài của các NHTM Việt Nam, bởi vì nó đóng vai trò
trung gian chuyển vốn từ các trung tâm tài chính quốc tế về
trong nước nhằm góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Mở rộng hoạt động kinh doanh đối ngoại có những lợi ích:

17
Một là, tranh thủ được các nguồn vốn trên thị trường quốc tế
thông qua ngân hàng nước ngoài hoặc các chi nhánh của họ,
ngân hàng liên doanh với nước ngoài tại Việc Nam để đầu tư
phát triển kinh tế đất nước.
Hai là, có điều kiện và học hỏi công nghệ ngân hàng tiên
tiến, nhất là ở các khâu thanh toán kinh doanh ngoại hối, thẩm
định dự án ngừa phòng rủi ro kiểm soát nọi bộ và giám sất tài
chính. Hợp tác kinh doanh tạo cơ hội cho ta có điều kiện tìm
kiếm bạn hàng, khách hàng, đào tạo cán bộ qua các ngân hàng
liên doanh như INDOVINABANK, FIRSTVINABANK, VID
PUBLIC các NHTM Việt Nam sẽ th được nhiều kinh nghiệm,
19 CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐỐI NGOẠI
CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG
1. Một số thành tựu đã đạt được
Qua hơn 10 năm đổi mới cùng với sự phát triển chung của
nền kinh tế,trong đó có kinh tế đối ngoại của các NHTM Viêt
Nam dần có những khởi sắc. Cũng như nhưng hoạt động kinh
doanh tiền tệ ngân hàng trong nước,chuyển từ cơ chế độc quyền
của NHNN sang cơ chế thi trường, đa dạng hoá các loại hình
kinh doanh tiền tệ -tín dụng-ngoại hối’trong đó vai trò chủ đạo
và chủ lực vẫn thuộc các tổ chức tín dụng nhà nước. Hoạt động
kinh doanh đối ngoại của NHTM Viêt Nam từng bước được xác
lập vị thế trên thương trường.

20
Hiện nay, lĩnh vực này không còn độc quyền Nhà nước do
Vietcombank đảm trách như thời tập trung bao cấp nữa,và bản
thân Vietcombank trong cơ chế mới cũng đã trở thành một

thống NHTM được phép kinh doanh ngoại hối đã đẩy lùi được
cơn sốt nóng này.
Từ sau khi đổi mới đến 1997 xuất khẩu nước ta tăng trưởng
vói tỷ lệ cao, hàng năm từ 20- 25%. Đấy là nhờ tiềm lực kinh tế
đất nước phát triển được tác động bởi các chủ trương chính sách
vĩ mô của Đảng và chính phủ dành cho xuất khẩu ngày càng đi
vào cuộc sống. Ngân hàng cũng đã có nhiều đóng góp đắc lực về
vốn tín dụng thanh toán đối ngoại tạo nhiều thuạn lợi cho xuất
khẩu.
Những năm gần đây với hoạt động của NHTM nhằm đẩy
mạnh huy động vốn và cho vay phục vụ CNH, HĐH đất nước
phát huy nội lực, tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài phục vụ
mục tiêu phát triển đất nước.

22
2. Tình hình hoạt động .
Mặc dù đã có những thành tựu như trên nhưng hoạt động
kinh doanh đối ngoại của các NHTM Việt Nam còn có một số
tồn tại:
Chưa đa năng hoá theo cơ ché thị trường, điều đó được thể
hiện ngay cả trong nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn
ngoại tệ. Các hình thức huy động còn đơn điệu, chưa có các hình
thức huy động dài hạn, chưa thu hút được các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài hay các cá nhân nước ngoài, ngân hàng
nước ngoài mở tài khoản ngoại tệ. Còn bị động trong huy động
vốn và sử dụng, điều này thể hiện rất rõ trong năm 97 khi bị ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực và nhất
là trong năm 99- 2000 người dân có khuynh hướng chuyển dịch
tiền gửi từ VND sang USD. Hậu quả là, các NHTM có dư số
tiền gửi ngoại tệ tăng nhanh mà không sử dụng hết được số vốn

tài khoản tiền gửi nngoại tệ bằng tiền mặt nhưng lại không cho

24
phép vay bằng ngoại tệ, khách hàng chỉ mua bán ngoại tệ với
NHTM khi thật cần thiết.
Các NHTM Việt Nam huy động vốn bằng ngoại tệ mà
không thể cho vay được nên phải gửi ngoại tệ ra nước ngoài
nhằm hưởng lãi cao và biến ngoịa tệ tièn mặt thành ngoại tệ
chuyển khoản ( có lợi ích được sử dụng trong thanh toán quốc tế
). Việc các NHTM gửi ngoại tệ ra ngân hàng nước ngoài là hoạt
động kinh doanh bình thường được luật pháp cho phép và phù
hợp với thông lệ quốc tế, góp phần làm tăng GDP tăng lãi cho
NHTM và người gửi. Song là kinh doanh tiền tệ nên hoạt động
này có lãi và cũng có rủi ro, đòi hỏi NHTM phải chú trọng tới
hiệu quả, an toàn dù số dư tiền gửi nhiều hay ít. Sẽ là tốt hơn
nếu NHTM dùng nguồn vốn ngoại tệ huy dộng được để dầu tư
trong nước. Vì đứng trên góc độ quản lý vĩ mô việc gửi ngoại tệ
ra nước ngoài tiếp tục gia tăng sẽ có những tác động không tốt
đến nguồn vốn phát triển kinh tế của nước ta. đối với nguồn vốn
trong nước không phát huy hết hiệu quả, không được khai thác
triệt để nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh, còn đố với nguồn
vốn từ nước ngoài cũng giảm sút vì lãi suất ở Việt Nam (nước
tiếp nhận vốn đầu tư) thấp hơn so với lãi suất quốc tế. Hơn nữa,
việc các NHTM gửi ngoại tệ ra nước ngoài, không cho vay trong
nước cũng làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào

25
sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, càng làm
xấu đi hoạt động thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài vốn
đã có chiều hướng giảm sút gần 3 năm nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status