LUẬN VĂN:
Văn hóa kinh doanh ở Công ty
phát hành sách Hà Nội trong cơ
chế thị trường mở đầu
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến
thế phát triển mới của toàn xã hội.
Hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung ngày càng được nhận thức không
chỉ có mục tiêu lợi nhuận, kinh tế mà còn phải hướng tới mục tiêu văn hóa. Đặc biệt
đối với ngành PHS là ngành kinh doanh các văn hóa phẩm có tính chất đại chúng. ở
đây, văn hóa kinh doanh có ý nghĩa quyết định sự thành bại trong phương hướng
phát triển của doanh nghiệp.
Công ty PHS Hà Nội là doanh nghiệp nhà nước vốn được bao cấp một thời
gian rất dài với mục đích chủ yếu là phục vụ công tác chính trị, tuyên truyền đường
lối chính sách của Đảng và Nhà nước, khi chuyển sang cơ chế thị trường đã phải đối
mặt với nhiều thách thức mới, đòi hỏi phải có những phương thức kinh doanh phù
hợp với tiến trình phát triển của xã hội. Việc đổi mới phương thức kinh doanh của
Công ty PHS Hà Nội nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kinh doanh, đẩy mạnh phát
triển sản xuất, đa dạng hóa các hình thức kinh doanh, thu hút sự quan tâm chú ý
nhiều hơn của nhân dân Thủ đô là một yêu cầu cấp bách. Trong phương hướng đổi
mới thì việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Công ty PHS Hà Nội trong cơ chế thị
trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự vững mạnh của công ty trong
thời kỳ mới.
Từ những vấn đề đặt ra ở trên, chúng tôi lựa chọn đề tài "Văn hóa kinh
doanh ở Công ty phát hành sách Hà Nội trong cơ chế thị trường", làm luận văn
tốt nghiệp hệ đào tạo cao học, chuyên ngành lý luận văn hóa, nhằm góp phần nhận
thức đúng đắn vai trò của văn hóa kinh doanh trong hoạt động PHS hiện nay; đánh
giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xây dựng văn hóa
kinh doanh ở Công ty PHS Hà Nội, đáp ứng được các yêu cầu mới của nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề xây dựng văn hóa, đạo đức trong xã hội nói chung trong kinh tế nói
riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Sự quan tâm này càng được chú ý
hơn khi nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các phương diện văn hóa
doanh của người Việt Nam trong lịch sử, đồng thời bước đầu chỉ ra phương hướng
và các giải pháp chủ yếu nhằm đưa các yếu tố văn hóa vào kinh tế, kinh doanh, xây
dựng văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, tinh thần doanh nghiệp, triết lý
doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.
Thứ hai là vấn đề kinh doanh XBP trong cơ chế thị trường. Các công trình
Nguyên lý hoạt động biên tập xuất bản sách (Ngô Sĩ Liên (chủ biên) - Trần Văn Hải
- Trần Đăng Hanh - Lê Đỗ Khanh - Quách Văn Lịch - Lê Thị Phúc, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1998); Lịch sử phát hành sách Việt Nam (Phạm Thị Thanh Tâm (chủ biên),
Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1994); Xuất bản và phát triển (Phi líp G.Altbach và
Đamtew Teferar (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999); Đại cương phát
hành xuất bản phẩm, Phạm Thị Thanh Tâm, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội,
2002, Đổi mới mô hình tổ chức ngành phát hành sách (Phạm Thị Thanh Tâm, Tạp
chí Sách và đời sống, số đặc biệt chào mừng 50 năm ngày truyền thống ngành xuất
bản - in - PHS Việt Nam, 9/2002) đã nêu rõ các vấn đề cơ bản của phát hành XBP
trong nền kinh tế thị trường, về thị trường XBP, những nghiệp vụ cơ bản của phát
hành XBP và một số giải pháp đổi mới mô hình tổ chức ngành PHS hiện nay đáp
ứng yêu cầu xây dựng thể chế kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu và hợp tác
quốc tế. Các ý kiến trong các công trình nghiên cứu ở trên xới gợi những ý tượng
quan trọng về hoạt động PHS trong cơ chế thị trường, về văn hóa kinh doanh XBP
giúp chúng tôi nghiên cứu sâu hơn về văn hóa kinh doanh PHS trong cơ chế thị
trường. Có thể nói các ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước về cơ bản rất gần gũi
và quan trọng đối với người thực hiện đề tài này. Chúng tôi tiếp thu được ở đó sự
xác định các quan niệm cơ bản về văn hóa, về văn hóa kinh doanh và những đặc trưng
cơ bản của PHS trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam Đến lượt mình chúng tôi sẽ tiến sâu hơn một bước trong việc nghiên cứu văn
hóa kinh doanh trong hoạt động PHS ở nước ta nói chung và ở Công ty PHS Hà Nội
nói riêng. Có thể xem đây là một vấn đề còn mới mẻ đối với những người nghiên
cứu và hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, kinh doanh XBP.
3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao văn hóa kinh doanh ở
Công ty PHS Hà Nội trong thời gian tới.
6. ý nghĩa của đề tài
Một trong những xu hướng nghiên cứu kinh tế, kinh doanh hiện nay là gắn
với văn hóa, vì vậy đề tài có thể có những đóng góp nhất định về lý luận văn hóa, về
văn hóa kinh doanh - một mắt khâu quan trọng trong quá trình xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Luận văn cung cấp các tư liệu, số liệu xác thực về văn hóa kinh doanh của
công ty PHS Hà Nội có thể giúp ích cho các ngành hữu quan trong công tác lãnh
đạo và quản lý văn hóa trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Thủ đô nói riêng, ở nước ta nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Văn hóa kinh doanh và vai trò của văn hóa kinh doanh với hoạt
động kinh tế, thương mại và phát hành XBP trong cơ chế thị trường.
- Chương 2: Thực trạng văn hóa kinh doanh ở Công ty PHS Hà Nội từ 1996
đến nay.
- Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
chất lượng hiệu quả văn hóa kinh doanh ở Công ty PHS Hà Nội trong thời gian tới.
Luận văn được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo
trong Khoa Sau đại học, Khoa Phát hành sách Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, các
đồng chí lãnh đạo và đồng nghiệp ở Công ty PHS Hà Nội, đặc biệt là sự hướng dẫn
tận tình của TS. Nguyễn Duy Bắc, giảng viên Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh.
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo, các anh chị em
đồng nghiệp và những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên,
tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này.
đặc biệt quan tâm hiện nay.
Đời sống xã hội có hai mặt: Vật chất và tinh thần. Nếu kinh tế là nền tảng
vật chất thì văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, và với tính cách như vậy văn
hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Quan
điểm chiếm ưu thế hiện nay coi mục tiêu phát triển là phải nâng cao chất lượng cuộc
sống con người với đảm bảo sao cho có sự kết hợp hài hòa đời sống vật chất và đời
sống tinh thần, giữa mức sống cao với lối sống và quan hệ xã hội tốt đẹp, không chỉ
cho một số ít người mà cho toàn thể xã hội. Để đạt được mục tiêu đó, nhất thiết phải
có sự phát triển cao về kinh tế, về cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ. Song chỉ
như thế chưa đủ và rất không đúng nếu hiểu xây dựng kinh tế chỉ là tăng trưởng đơn
thuần, tăng trưởng với bất kỳ giá nào, thậm chí hy sinh văn hóa, hy sinh phẩm giá
con người. Nếu hiểu như thế là hoàn toàn xa lạ với lý tưởng XHCN của chúng ta.
Trong thời đại ngày nay, nguồn gốc của sự giàu có không chỉ là tài nguyên thiên
nhiên, vốn, kỹ thuật mà yếu tố quan trọng và quyết định là nguồn lực con người, là
tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng này nằm trong văn hóa, trong trí tuệ,
đạo đức, nhân cách, tâm hồn, tài năng của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Vì vậy,
quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam là quá trình thực hiện chiến lược con
người và phát huy nguồn lực con người - nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của
phát triển.
Kinh tế thị trường và mở cửa với bên ngoài làm sống động nền kinh tế và
các hoạt đông xã hội, phát triển giao lưu hàng hóa, du lịch và các sản phẩm văn hóa,
giúp nhân dân ta mở rộng chân trời hiểu biết và kiến thức tiếp nhận từ bốn phương.
Điều dễ nhận thấy trong sự thay đổi này là tính năng động xã hội - kinh tế và tính
tích cực của công dân được khơi dậy và phát huy thay thế cho tâm lý thụ động ỷ lại
trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước. Không khí dân chủ cởi mở trong xã hội
được nâng cao, năng lực cá nhân của con người được khuyến khích, tôn trọng.
Văn hóa bắt nguồn từ yếu tố nguồn lực con người. Con người là chủ thể, là
linh hồn của sự sáng tạo, là nhân tố hàng đầu của văn hóa. Hội nghị liên Chính phủ
về chính sách văn hóa vì sự phát triển do UNESCO tổ chức tại Xtốckhôm (Thụy
thần. Nếu quên đi yếu tố văn hóa sớm muộn ở đó sẽ lụi bại không chỉ về lương tâm,
đạo đức mà còn lụi bại cả về kinh tế nữa.
Qua các phân tích trên có thể thấy định nghĩa của UNESCO về văn hóa như
một quan niệm phổ biến về văn hóa: "Văn hóa là tổng thể sống động mọi mặt của
cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng đang diễn ra trong hiện tại,
qua hàng bao nhiêu thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống giá trị, truyền thống
thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của
mình" (Federico -Mayor -1988) [Dẫn theo 17. tr. 52].
1.2. quan niệm về văn hóa kinh doanh
1.2.1. Quan niệm về kinh doanh
Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của con người xuất hiện cùng với kinh
tế hàng hóa và thị trường, ngay từ thời cổ đại đã có tầng lớp những người làm nghề
kinh doanh hay còn gọi doanh nhân. Kinh doanh bao gồm nhiều hình thức khác
nhau: Buôn bán (thương mại), sản xuất, dịch vụ, thông tin, tư vấn, Xét về lịch sử
kinh doanh thương mại thì mua bán, trao đổi và lưu thông hàng hóa là loại kinh
doanh xuất hiện đầu tiên và có liên quan đến sản xuất và trao đổi hàng hóa. Xét từ
góc độ công nghệ - kỹ thuật thì kinh doanh là một quá trình bao gồm nhiều công
đoạn khác nhau như đầu tư, sản xuất, marketing, dịch vụ bảo hành Đó là một hệ
thống hoạt động gồm nhiều chuyên ngành nghiệp vụ như: quản trị kinh doanh, công
nghệ và kỹ thuật sản xuất, chất lượng, mua hàng, bán hàng, kế toán tài chính, tư vấn
bảo hành Các dạng hoạt động trên đều có chủ thể hoạt động với các nghề nghiệp
chuyên môn. Mục đích của kinh doanh, với tư cách là một nghề, hay là một hoạt
động đều nhằm đem lại lợi ích cho chủ thể là người kinh doanh. Vì vậy, Luật doanh
nghiệp Việt Nam đưa ra định nghĩa kinh doanh từ đặc điểm bản chất của nó như
sau: "Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi" [22, tr. 7-8].
Mục đích chính của kinh doanh là kiếm lời, là đem lại lợi nhuận cho người
kinh doanh hay còn gọi là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh bao gồm các cá
Yếu tố văn hóa trong kinh doanh chính là hoạt động đem cái đẹp, cái tiện
lợi tới mọi nhà. Không thỏa mãn với những gì có hôm nay các nhà thiết kế mỹ
thuật, nhà sản xuất kinh doanh đã không ngừng cải tiến mẫu mã, ứng dụng những
thành tựu lớn nhất của khoa học và công nghệ vào quá trình chế tạo sản phẩm và
đội ngũ các nhà thương nghiệp không quản ngại đường sá xa xôi đưa sản phẩm tới
nơi tiêu thụ, từng bước hình thành mạng lưới kinh doanh xuyên quốc gia, xuyên lục
địa và cũng từ hoạt động này thúc đẩy xã hội tiến lên theo hướng văn minh, hiện
đại.
Văn hóa trong kinh doanh còn biểu hiện mối quan hệ giữa người
bán và người mua. Người mua có quyền lựa chọn sản phẩm mà mình có
nhu cầu với những chỉ tiêu về chất lượng, số lượng hàng hóa, phong cách phục
vụ. Người bán cố bày tỏ lòng hiếu khách, tôn trọng người mua, bởi họ hiểu
rằng, chính khách hàng là ân nhân, là sự sống của doanh nghiệp trên thương trường.
Còn nhà sản xuất coi sự thành đạt trong kinh doanh là nguyên nhân chính đưa đến
sự phát triển sản xuất, nên họ cũng rất tôn trọng quan hệ mua bán trên thị trường.
Chính việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh có thể làm lành mạnh hóa quan
hệ xã hội, bởi nó thúc đẩy quá trình phát triển của xã hội. Lợi nhuận do kinh doanh
đem lại tạo nên tiềm lực kinh tế, khoa học - kỹ thuật cho quốc gia và mỗi đơn vị, cá
nhân tham gia kinh doanh, từ đó mọi người thông cảm và hiểu biết nhau hơn, có
điều kiện để sống có văn hóa hơn trong sự điều tiết có tính khách quan của cơ chế
thị trường năng động. Văn hóa trong kinh doanh là cơ sở để điều tiết mọi mối quan
hệ trong kinh doanh. Tuy nhiên, phải nhìn nhận yếu tố văn hóa trong kinh doanh
một cách dung dị và chấp nhận phản đề của sự kiện. Bởi lẽ, mục đích kiếm lời của
mọi hoạt động kinh doanh là như nhau, nếu thua lỗ thì không thể tồn tại, do đó xuất
hiện các nghệ thuật kinh doanh, thủ đoạn kinh doanh vừa có tính hướng thiện, vừa
có tính cạnh tranh quyết liệt để tồn tại và phát triển. Do đó, yếu tố văn hóa và phản
văn hóa tiềm ẩn trong mỗi nhà kinh doanh. Vấn đề ở chỗ, nhà kinh doanh nào thực
tài thì có đối sách thích hợp để gặt hái thành công trên thương trường. Ai có trí có
lực thì vượt qua những biến động ghê gớm khó lường trước được của thị trường và
Cách kinh doanh thứ nhất xuất phát từ mục đích cho rằng kinh doanh là
kinh doanh: lợi nhuận là mục tiêu tối thượng trong kinh doanh. Không cần đạo đức
người ta cạnh tranh bằng mọi giá, tìm kiếm lợi nhuận bằng sự bóc lột quá sức người
lao động, khai thác bừa bãi tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, làm
hàng giả, hàng kém chất lượng, buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo, đầu cơ Để đạt được
lợi nhuận tối đa họ có thể dùng mọi biện pháp mánh khóe xấu xa, thậm chí đe dọa
tính mạng người khác. Đây là cách kiếm tiền biểu hiện sự tồi tệ của giới kinh doanh
chụp giật, vô đạo đức, thiếu văn hóa, phản tự nhiên. Họ coi đồng tiền là trên hết,
giẫm đạp lên lương tâm, nghĩa vụ, danh dự, coi thường lợi ích của người khác và
của xã hội. Đối với họ chuẩn mực đạo đức của văn hóa kinh doanh không gì khác
ngoài tư lợi.
Kiểu kinh doanh như trên chỉ làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng vô
chính phủ, tạo ra hiểm họa đe dọa sự tồn tại, phát triển của thị trường, đe dọa sinh
tồn của người tiêu dùng và ngay bản thân lợi nhuận của nhà kinh doanh. Cách kiếm
lợi nhuận này không thể tồn tại lâu bền do sự thiển cận và sai lầm của bản thân và
nhận được sự phán quyết của xã hội. Mặt khác, khi đạt được tới lợi nhuận tối đa,
nhà kinh doanh chưa hẳn đã đạt được hạnh phúc. Thực tế cho thấy không ít nhà
kinh doanh giàu có, sở hữu một tài sản kếch sù mà vẫn thấy bất hạnh bởi tình cảm
giữa con người cạn kiệt, gia đình bất ổn, đạo đức suy đồi, sa ngã vào tệ nạn xã hội.
Đây chính là yếu tố báo trước nguy cơ hủy hoại nền tảng của chính xã hội mà họ
đang sống. Theo ông Kim Woo Choong, nguyên Chủ tịch tập đoàn Daewoo, một
trong những tập đoàn kinh doanh lớn nhất Hàn Quốc thì: "Người nào ít tiền biết
cách sử dụng của cải vì lợi ích của người khác mới là người giàu có và hạnh phúc
thực sự" [2, tr. 5].
Qua đó chúng ta thấy rằng, ý nghĩa của cuộc sống con người nói chung và của
nhà kinh doanh nói riêng không chỉ ở sự giàu có mà quan trọng hơn là giá trị văn
hóa đạo đức và nhân văn.
Cách kinh doanh thứ hai trái với kiểu kiếm lợi nhuận trên, nhiều nhà kinh
doanh lại quan niệm rằng nội dung chủ yếu của kinh doanh là phải vừa nâng cao
ở mọi lĩnh vực: sản xuất, mua, bán, Cách giải quyết các mâu thuẫn đó không thể
không liên quan đến vấn đề văn hóa và kinh doanh; cạnh tranh có văn hóa là cạnh
tranh lành mạnh, chân chính.
Vấn đề văn hóa kinh doanh được đặt ra và giải quyết trong mối quan hệ
tương hỗ về lợi ích giữa ba chủ thể chính của nền kinh tế thị trường là người tiêu
dùng - nhà doanh nghiệp - Nhà nước. Ba chủ thể đó có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau và ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình kinh tế. Nhà nước ban hành và thực hiện
những mục tiêu chiến lược của mình. Đương nhiên những chủ trương, biện pháp của
Nhà nước tác động đến các hoạt động của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có
trách nhiệm tuân thủ theo đúng pháp luật, chính sách của Nhà nước, thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước. Người tiêu dùng được thụ hưởng (từ việc mua) các
sản phẩm có giá trị vật chất và tinh thần từ các doanh nghiệp được Nhà nước quản lý
và điều tiết với giá cả hợp lý
Nhà nước là chủ thể quan trọng trong nền kinh tế thị trường, sự điều tiết của
Nhà nước thông qua chủ trương chính sách và luật lệ có tác động tích cực hoặc tiêu
cực đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Do đó mỗi chính sách, chủ trương trước
khi được ban hành cần được phân tích kỹ lưỡng và xây dựng trên luận cứ khoa học
chắc chắn, có tính đến quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Mỗi chính sách
đúng đắn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và của
các doanh nghiệp nói riêng. Một chính sách thiếu chính xác sẽ làm ảnh hưởng sâu
sắc tới sự phát triển của xã hội.
Đối với người tiêu dùng - trung tâm của thị trường cũng cần phải thấy nhu
cầu chính đáng để có tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh
hướng tới những nhu cầu văn hóa, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Ngược
lại, những nhu cầu phi lý, có thể đẩy doanh nghiệp vào con đường làm ăn phi pháp,
vi phạm văn hóa kinh doanh, đối lập với lợi ích xã hội.
Đối với người kinh doanh hay một tổ chức kinh doanh cụ thể thì văn hóa
tồn tại tiềm ẩn trong họ như nguồn lực, hệ giá trị mà muốn khơi dậy, phát huy
được cần có thời gian, môi trường và sự tác động phù hợp, tạo ra bản sắc riêng của
khác nhau. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Huy: "Bản chất của văn hóa kinh doanh là làm
cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng, cái tốt, cái đẹp" [19, tr. 211]. Vì lý do đó
người ta nói kinh doanh có văn hóa bao chứa cả trí tuệ của nhà triết học, lòng dũng
cảm của người lính và tài năng của nhà nghệ sĩ.
Để cái lợi gắn với cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong kinh doanh nhằm thỏa
mãn có chất lượng nhu cầu và thị hiếu của con người trong môi trường sống, mỗi xã
hội, mỗi nền văn hóa đều hình thành các truyền thống văn hóa kinh doanh trong nền
văn hóa chung. Bản chất văn hóa kinh doanh gắn với văn hóa đạo đức. Văn hóa đạo
đức là sự phản ánh lợi ích của cộng đồng. Khi nhà kinh doanh làm cho giá trị của đạo
đức cộng đồng được củng cố thì bản thân cũng có sức mạnh bởi sự tín nhiệm của cộng
đồng. Chữ "tín" là nội lực phát triển của nghề kinh doanh.: "Văn hóa kinh doanh được
thống nhất trong bản thân nó các giá trị đạo đức, giá trị kinh tế và được các giá trị
này điều hòa" [20, tr. 217].
Văn hóa kinh doanh không thể tách rời văn hóa chính trị. ở nhiều nước phát
triển không những bản thân nhà kinh doanh là những chính khách và thủ đoạn
thương trường của họ nhiều lúc còn vượt qua cả chính khách. ở nước ta văn hóa
kinh doanh phải thống nhất với các mục tiêu của văn hóa chính trị. Chúng ta đang
làm cho kinh tế thị trường ngày càng được mở rộng và vận hành khách quan hơn.
Song nó phải được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Văn hóa chính trị ở nước ta xác lập một hệ thống luật pháp và chính sách đảm
bảo cho cơ sở kinh doanh thành công về mặt kỹ thuật, kinh tế, đồng thời Nhà nước
làm chủ được thị trường, điều tiết sự tự do cạnh tranh (hoang dã), tạo cơ hội kinh
doanh ngang nhau cho mọi thành phần kinh tế.
Thuật ngữ về văn hóa kinh doanh mới xuất hiện gần đây. Trước đây, khi
bàn về vấn đề này người ta chỉ nói kinh doanh có văn hóa hoặc văn hóa trong kinh
doanh. Sự xuất hiện thuật ngữ "văn hóa kinh doanh" bao hàm sự thay đổi sâu sắc về
yếu tố văn hóa trong hoạt động quản lý điều hành của doanh nghiệp. Trong xu thế
toàn cầu hóa và hội nhập với nền kinh tế tri thức văn hóa kinh doanh của doanh
nghiệp là mối quan tâm chú ý đặc biệt của doanh nghiệp nhằm khẳng định vị trí và
mực mang tính đạo đức của thị trường văn minh nông nghiệp. Như vậy khái niệm
thị trường xuất hiện chậm hơn khái niệm "chợ".
Trong nền văn minh công nghiệp, sản xuất hàng hóa phát triển mạnh mẽ,
quan hệ trao đổi được mở rộng hơn và vì thế khái niệm thị trường càng được mở
rộng. Từ chỗ thị trường là địa điểm trao đổi hàng hóa cụ thể, nó trở thành một lĩnh
vực trao đổi hàng hóa mang tính xã hội, biểu hiện mối quan hệ kinh tế, mối quan hệ
giữa người và người, là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu. Theo Philip G.Altbach thì thị
trường, trong nghĩa đơn giản của nó là "tập hợp những người mua hàng hiện có và
sẽ có" [31, tr. 21].
Cùng với sự phát triển của sản xuất, thị trường cũng phát triển dưới các
dạng khác nhau như thị trường hàng tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất, thị
trường sức lao động và dịch vụ, thị trường khoa học công nghệ, thị trường tiền tệ,
thị trường bất động sản Sự phát triển của thị trường trong nền văn minh công
nghiệp đã làm cho nền kinh tế xã hội đã có những thay đổi lớn. Nhiều ngành nghề
mới xuất hiện trong đó có ngành kinh doanh tiền tệ (thị trường tiền tệ, thị trường
chứng khoán ).
Việc ngành kinh doanh tiền tệ ra đời cho thấy từ công thức chung: Tiền (T)
- hàng (H) - tiền (T) nảy sinh công thức mới (T) - (T). Công thức này cho phép nhà
kinh doanh thu lợi nhanh chóng hơn.
Chủ thể thị trường được chia thành hai lực lượng tham gia trao đổi, đó là
người bán và người mua. Người có hàng bán trên thị trường luôn muốn bán với giá
cao, ngược lại người mua muốn mua hàng với giá thấp. Đó là hai ý chí độc lập. Lúc
này lợi ích của mỗi cá nhân có điều kiện thỏa mãn tối đa thông qua cạnh tranh với
phương pháp, biện pháp hữu hiệu. Nhưng nhận thức và hành động thường không
giống nhau. Nguồn gốc của sự khác nhau chính là chỗ đứng văn hóa khác nhau.
Những kẻ chỉ lo thu vén cho lợi ích riêng tư, cục bộ bao giờ cũng tiến hành những
thủ đoạn cạnh tranh bất chấp lẽ phải, luật pháp, đạo lý xã hội. Đó là người kinh
doanh vô văn hóa. Những người quan tâm đến lợi ích toàn cục cùng hợp tác kinh
doanh, cùng chia lợi nhuận một cách hài hòa, xử lý các mối liên hệ thương mại theo