LUẬN VĂN: Vận dụng lý luận Mác - Lênin về sở hữu tư liệu sản xuất ở nước ta potx - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Vận dụng lý luận Mác - Lênin về sở hữu
tư liệu sản xuất ở nước ta MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sở hữu tư liệu sản xuất là một nhân tố cơ bản cấu thành hệ thống quan hệ sản
xuất trong từng chế độ kinh tế - xã hội. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,

cho nhiều người lầm tưởng đó là quá trình tư nhân hóa tư liệu sản xuất. Trong khi đó,
trên thực tế quá trình cổ phần hóa đang được đẩy mạnh, quá trình chuyển sở hữu tư nhân
sang sở hữu công cộng đã và đang diễn ra thường xuyên và phổ biến dưới nhiều hình
thức khác nhau. Thực trạng đó phải được lý giải về mặt lý luận để làm cơ sở cho việc chỉ
đạo hoạt động thực tiễn chuyển sở hữu tư nhân sang sở hữu công cộng trong quá trình
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đó là lý do để tác giả
lựa chọn “Vận dụng lý luận Mác - Lênin về sở hữu tư liệu sản xuất ở nước ta” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp sau quá trình học tập hệ cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn cấp thiết ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, trong hơn hai thập niên vừa qua, liên quan đến vấn đề sở hữu tư
liệu sản xuất đã có nhiều công trình nghiên cứu, cụ thể là:
- Luận văn thạc sĩ triết học của Vũ Hồng Sơn với đề tài: Đa dạng hoá sở hữu
ở nước ta hiện nay, xu hướng và vận dụng. Bảo vệ năm 1993, tại Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh.
- Luận án phó tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đình Kháng với đề tài: Sở hữu tư
liệu sản xuất trong nền kinh tế nhiều thành phần. Bảo vệ năm 1993 tại Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Luận án phó tiến sĩ kinh tế của Đỗ Trọng Bá với đề tài: Vấn về sở hữu
trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam. Bảo vệ năm 1994, tại Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
- Luận án phó tiến sĩ triết học của Lương Minh Cừ với đề tài: Quan niệm của
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về vấn đề sở hữu trong chủ nghĩa xã hội. Bảo vệ
năm 1996 tại Viện Triết học.

Năm 1998, Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản cuốn Vai trò của nhà
nước trong nền kinh tế trị trường, cũng năm này Nxb Chính trị quốc gia xuất bản
cuốn Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam do
PGS.PTS Nguyễn Tĩnh Gia chủ biên.

- Làm rõ những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vị trí, vai trò của sở
hữu tư liệu sản xuất và sự biến đổi quan hệ sở hữu tư nhân sang sở hữu công cộng
về tư liệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
về sở hữu tư liệu sản xuất ở nước ta giai đoạn trước và sau đổi mới.
- Đề xuất các giải pháp nhằm củng cố và phát triển sở hữu công cộng về tư
liệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
3.3.1. Về nội dung
Lý luận Mác – Lênin về sở hữu tư liệu sản xuất rất rộng lớn và trừu tượng,
bao hàm nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, song luận văn chỉ tập trung vào những luận
điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự biến đổi quan hệ sở hữu tư nhân sang sở
hữu công cộng về tư liệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tư liệu sản xuất bao gồm nhiều loại, nhưng luận văn chỉ phân tích làm rõ sự biến
đổi quan hệ sở hữu về những tư liệu sản xuất do lao động của con người tạo ra thông qua
sự chuyển hoá từ vốn tiền tệ thành tư liệu sản xuất và ngược lại.
3.3.2. Về thời gian
Nghiên cứu sự vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu tư liệu
sản xuất ở nước ta từ khi đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cho
đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận

- Những nguyên lý kinh tế, những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin về vấn đề sở hữu nói chung và sở hữu tư liệu sản xuất trong quá trình phát
triển kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết vấn đề sở hữu

Chương 1
NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VỀ SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT

1.1. NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC -
LÊNIN VỀ SỞ HỮU VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN
XUẤT
1.1.1. Khái quát một số luận điểm chủ yếu về sở hữu theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin
Sở hữu luôn là một vấn đề được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin
quan tâm đặc biệt. Trong hầu hết các tác phẩm từ Tuyên ngôn của Đảng cộng sản
đến bộ “Tư bản”, dù không dành riêng một phần nào để nói về sở hữu, về chế độ sở
hữu trong chủ nghĩa xã hội, nhưng khi bàn về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, các ông luôn đặt sở hữu lên vị trí hàng đầu và
coi đó là vấn đề cơ bản mà các cuộc cách mạng xã hội phải giải quyết.
Qua nghiên cứu những tư tưởng đã được nêu lên trong các tác phẩm của các
nhà kinh điển xoay quanh các vấn đề về sở hữu, có thể rút ra những luận điểm chủ
yếu về sở hữu như sau:
Một là, sở hữu trước hết là quan hệ xã hội giữa người với người trong việc
chiếm hữu sản phẩm tự nhiên và của cải do con người tạo ra. Sở hữu chính là
phương thức chiếm hữu mang tính xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể đối
với những của cải vật chất và tinh thần được sử dụng trong quá trình sản xuất ra của
cải vật chất ấy, hoặc để thỏa mãn mọi nhu cầu sinh hoạt của con người. Theo Mác:
“Khoa kinh tế chính trị không nghiên cứu các vật phẩm, mà nghiên cứu mối quan
hệ giữa người với người, xét cho đến cùng là giữa giai cấp với giai cấp, nhưng các
quan hệ đó bao giờ cũng gắn với các vật phẩm và biểu hiện ra như là những vật
phẩm” [31, tr.615]. Cho nên, nói đến sở hữu là nói đến quan hệ xã hội giữa người
và người đối với vật.

Hai là, sở hữu được coi là điều kiện của nền sản xuất xã hội. Mác viết: “Bất

những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong
lòng bản thân xã hội cũ [31, tr.15-16].
Năm là, quan hệ sở hữu tư bản chủ nghĩa chuyển biến theo hướng xã hội hóa,
quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng. C.Mác chỉ ra rằng, chủ nghĩa tư bản trong quá
trình sản xuất, theo đuổi giá trị thặng dư đã tạo ra những nhân tố kinh tế mang tính
chất quá độ sang phương thức sản xuất mới là các công ty cổ phần và nhà máy hợp
tác của công nhân.
Những xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa, cũng như nhà máy hợp tác,
đều phải được coi là những hình thái quá độ từ phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể, nhưng chỉ có điểm khác nhau là:
trong những xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn được giải quyết
một cách tiêu cực, còn trong những nhà máy hợp tác, mâu thuẫn được giải
quyết một cách tích cực [36, tr.673].
Điều đáng chú ý là, khi nghiên cứu công ty cổ phần, C.Mác đã thấy “chức năng
tư bản tách rời với quyền sở hữu tư bản”, và Người cho rằng “đó là kết quả của sự phát
triển cao nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa” [36, tr.670, 668]. Sự tách rời đó
chính là sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng (quyền quản lý và quyền
kinh doanh). Điều này cũng được C.Mác đề cập rất kỹ khi nghiên cứu về tư bản cho
vay và địa tô. Với sự tách rời này cho phép huy động được nguồn vốn to lớn trong
xã hội cho sự phát triển sản xuất.
Sáu là, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc xóa bỏ chế độ tư hữu
phải là một quá trình lâu dài. Tư tưởng này được F.Ăngghen nêu rõ:
Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không? Trả
lời: Không, không thể được, cũng như không thể làm cho lực lượng sản
xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền
kinh tế công hữu. Cho nên, cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đang có
tất cả những triệu chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay
một cách dần dần, và chỉ khi nào đã tạo nên được một khối lượng tư liệu

sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ

Trong lịch sử, các cuộc cách mạng xã hội đã diễn ra bao giờ cũng gắn liền
với mục tiêu cải biến hoặc thay đổi chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất. Trong xã hội
có giai cấp, giai cấp nào nắm giữ sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội
thì giai cấp đó nắm giữ quyền thống trị xã hội về mặt kinh tế và do đó thống trị
chính trị, tư tưởng. Theo C.Mác: “Vấn đề sở hữu bao giờ cũng là vấn đề sống còn
của giai cấp này hay giai cấp khác - tùy thuộc vào trình độ phát triển của công
nghiệp” [29, tr.428].
Đối với những người cộng sản, sở hữu được coi là vấn đề hàng đầu, vấn đề cơ
bản của mọi phong trào cách mạng. Điều này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng
định trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản: “Tóm lại, ở tất cả mọi nơi, những người cộng
sản đều ủng hộ mọi phong trào cách mạng chống lại trật tự xã hội và chính trị hiện hành.
Trong tất cả phong trào ấy, họ đều đưa vấn đề sở hữu lên hàng đầu, coi đó là vấn đề cơ
bản của phong trào” [29, tr.645-646].
Xuất phát từ quan niệm cho rằng mọi cuộc cách mạng xã hội nhằm lật đổ chế
độ cũ và thiết lập chế độ xã hội mới bao giờ cũng phải đưa vấn đề chế độ sở hữu lên
hàng đầu, song mục đích của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ hoàn toàn
mọi thứ sở hữu, cũng không tước bỏ mọi quyền chiếm hữu sản phẩm xã hội của
người lao động, mà chỉ tước bỏ quyền chiếm hữu sản phẩm lao động ấy để nô dịch
lao động của người khác. Khi coi chế độ sở hữu tư sản hiện đại là thứ sở hữu dựa
trên “bóc lột lao động làm thuê”, thứ sở hữu vận động trong sự đối lập giữa hai cực:
Tư bản và lao động, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ:
Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở
hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản. Nhưng chế độ tư hữu hiện
thời, chế độ sở hữu tư sản lại là biểu hiện cuối cùng và hoàn bị nhất của
phương thức sản xuất và chiếm hữu dựa trên cơ sở những đối kháng giai cấp,
trên cơ sở những người này bóc lột những người kia. Theo ý nghĩa đó, những
người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất này là:
xóa bỏ chế độ tư hữu [29, tr.616].

Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, C.Mác đã chỉ rõ vị trí

phân phối. Sở hữu là mặt đầu tiên, là cơ sở cho các mặt khác của quan hệ sản xuất.
1.1.3.1. Sở hữu - cơ sở của các quan hệ tổ chức quản lý và phân phối
Trong một xã hội nhất định, giai cấp nào, tập đoàn nào nắm quyền sở hữu về
những tư liệu sản xuất chủ yếu thì giai cấp đó, tập đoàn đó nắm quyền chi phối việc
tổ chức quản lý sản xuất và phân phối kết quả sản xuất, quyết định hình thức thực
hiện lợi ích kinh tế có lợi cho mình. Ngược lại, những giai cấp khác, tập đoàn khác
không nắm được quyền quyết định về những tư liệu sản xuất chủ yếu sẽ bị rơi vào
tình trạng phụ thuộc và phục tùng, do đó mọi hoạt động sản xuất cũng như những
thành quả thu được bởi lao động của họ chỉ nhằm phục vụ trước hết cho lợi ích của
giai cấp thống trị.
Tuy nhiên, trên thực tế, từ khi quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng tư liệu
sản xuất thì mâu thuẫn giữa chủ sở hữu tư liệu sản xuất với người lao động sử dụng
tư liệu sản xuất xuất hiện. Vấn đề đầu tiên và cuối cùng mà người lao động quan
tâm là phân phối như thế nào, tức là vấn đề lợi ích kinh tế. Chỉ thông qua lợi ích,
các thành viên có liên quan trong hệ thống quan hệ sản xuất mới nhận thức đúng về
quan hệ sở hữu và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất. Quan hệ giữa người với người
đối với việc chiếm hữu tư liệu sản xuất là cơ sở quyết định vai trò cũng như việc
thực hiện lợi ích kinh tế của mỗi người, mỗi tập đoàn, giai cấp. Nói cách khác, lợi
ích là quan hệ phản ánh cái bản chất sâu thẳm bên trong của quan hệ sản xuất là
quan hệ sở hữu. Lịch sử cho thấy, con người từ xưa đến nay tranh giành quyền sở
hữu, quyền tổ chức quản lý sản xuất cuối cùng cũng chỉ để thực hiện lợi ích kinh tế
mà thôi.
Giai cấp bị trị xưa nay đi theo lực lượng tiến bộ thực hiện các cuộc cách
mạng xã hội để cuối cùng có được lợi ích chính đáng của mình. Xác định điều này
có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xác định mối quan hệ trực tiếp giữa quan hệ
sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối. Khi lợi ích của người lao
động không được bảo đảm thì sớm muộn gì cũng tạo ra mâu thuẫn với chủ sở hữu

mà trước hết là mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế rồi tất yếu sau đó là mâu thuẫn về
quyền lợi xã hội, chính trị.

nhau của các giai đoạn lịch sử xã hội. Sự biến đổi của quan hệ sở hữu là động lực
bên trong thúc đẩy sự thay đổi một hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội. Chính trị bắt
nguồn từ kinh tế, chính trị chẳng qua là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, do kinh
tế và vì kinh tế. Cho nên chế độ chính trị thực chất là một hệ thống thiết chế nhằm
bảo vệ chế độ sở hữu để thực hiện lợi ích kinh tế quyền sở hữu. Do vậy, sự biến đổi
của cơ sở kinh tế, của chế độ sở hữu sẽ kéo theo sự biến đổi của chế độ chính trị với
tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng.
Từ mối quan hệ tất yếu giữa chế độ sở hữu và chế độ chính trị cho phép
chúng ta tin tưởng vào dự báo khoa học về tính tất yếu của cách mạng vô sản và sự
ra đời của xã hội cộng sản văn minh. Một xã hội: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với
những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong
đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của
tất cả mọi người” [29, tr.628].
Logic này cho phép chúng ta khẳng định cách mạng xã hội chủ nghĩa lấy
việc xây dựng và phát triển chế độ công hữu về tư liệu sản xuất làm cơ sở là đúng
đắn, xa rời mục tiêu này sẽ không còn mang ý nghĩa là cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất không những là đặc trưng có ý nghĩa
quyết định để phân biệt xã hội chủ nghĩa với tư bản chủ nghĩa, mà còn là cơ sở để
các đặc trưng cơ bản khác của chủ nghĩa xã hội tồn tại và phát huy tác dụng. Trong
kiến trúc thượng tầng thì chế độ chính trị là một bộ phận quan trọng nhằm bảo đảm
quyền lực của giai cấp cầm quyền qua những thiết chế, thể chế tương ứng để thực
thi quyền lực về chính trị - kinh tế - xã hội, chủ yếu là thực hiện lợi ích kinh tế trong
đó vấn đề sở hữu là căn bản nhất. Không phải ngẫu nhiên mà tất cả các cuộc cách
mạng xã hội đều coi việc xác lập quyền thống trị của mình đối với tư liệu sản xuất -
tài sản quốc gia như là điều kiện tiên quyết để giữ vững những thành quả cách mạng
và phát triển kinh tế.

Như vậy, chế độ sở hữu và chế độ chính trị là những thành phần cốt lõi nhất
của một chế độ xã hội. Chế độ chính trị là một phạm trù lịch sử, nó biến động cùng
với sự biến động của cơ sở kinh tế, của chế độ sở hữu. Quan hệ sở hữu lại phụ thuộc

động tích cực của hệ thống chính trị giúp chúng ta có cơ sở phương pháp luận trong
việc hình thành những nguyên tắc và giải pháp hoàn thiện quan hệ giữa các loại
hình sở hữu trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay.
1.2. LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ SỰ BIẾN ĐỔI
QUAN HỆ SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.2.1. Những luận điểm chủ yếu về sự biến đổi sở hữu tư nhân của
những người sản xuất nhỏ sang sở hữu tư bản tư nhân
Sở hữu tư nhân cũng phát triển từ nhỏ đến lớn. Sự ra đời và phát triển của sở
hữu tư nhân từ sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ sang sở hữu tư bản tư
nhân gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hóa, từ sản xuất hàng
hóa nhỏ lên sản xuất hàng hóa lớn (còn gọi là sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa).
Cách thức thực hiện lợi ích của chủ sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất là kết hợp trực
tiếp sức lao động của bản thân với các thành viên trong gia đình với tư liệu sản xuất
của chính mình sản xuất ra các sản phẩm để sử dụng trực tiếp gọi là sản xuất nhỏ tự
cung tự cấp; hoặc thông qua trao đổi để sử dụng vào đời sống và sản xuất của gia
đình họ, cách thức thực hiện lợi ích đó gọi là sản xuất hàng hóa nhỏ.
Khi quy mô sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vượt quá khả năng sử dụng
của các thành viên trong gia đình thì chủ sở hữu phải sử dụng sức lao động của
những người ngoài gia đình để thực hiện lợi ích kinh tế quyền sở hữu các tư liệu sản
xuất. Trong lịch sử, việc thực hiện lợi ích kinh tế quyền sở hữu ấy đã diễn ra như
sau: thời cổ đại, chủ nô sử dụng lao động nô lệ; thời trung cổ, chủ sở hữu ruộng đất
- địa chủ sử dụng lao động tá điền; thời hiện đại, chủ sở hữu tư bản sử dụng lao
động công nhân làm thuê. Trong các thời đại ấy, sở hữu tư bản tư nhân là đỉnh cao
nhất, là hình thái cuối cùng của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.

Sự chuyển hóa sở hữu tư nhân của những người sản xuất hàng hóa nhỏ sang
sở hữu tư bản tư nhân được thực hiện trước hết là do sự tác động của quy luật giá trị
đã làm phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ. Quy luật này đòi hỏi: trong
quá trình sản xuất hàng hóa, người sản xuất phải thực hiện nguyên tắc hao phí lao

lực lượng đáp ứng yêu cầu của họ về tích lũy nguyên thủy tư bản. Trong trường hợp
này, nhà nước có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi sở hữu tư nhân của
những người sản xuất nhỏ sang sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Đó là vai trò “bà
đỡ” cho sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng việc đưa ra các chính
sách đẩy mạnh quá trình tích lũy nguyên thủy của tư bản.
Thực chất của tích lũy nguyên thủy tư bản là dùng bạo lực để tước đoạt
quyền sở hữu tư liệu sản xuất của những người sản xuất nhỏ, nhất là người nông
dân để tập trung tiền của vào tay các nhà tư bản và biến họ thành những người lao
động làm thuê. Điển hình của quá trình này là ở nước Anh, giai cấp tư sản dựa vào
nhà nước phong kiến dùng bạo lực đuổi nông dân, biến đồng ruộng thành bãi chăn
cừu. Đồng thời, ban hành các đạo luật hà khắc để buộc những người nông dân bị
mất đất phải vào làm thuê trong các xí nghiệp tư bản. Tích lũy nguyên thủy tư bản
còn được thực hiện bằng việc đi chinh phục và bóc lột thuộc địa, buôn bán nô lệ da
đen từ Châu Phi đến các vùng đất mới ở Châu Mỹ, thực hiện thương mại không
bình đẳng,v.v…
Tóm lại, quá trình chuyển sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của những
người sản xuất nhỏ sang sở hữu tư nhân tư bản được thực hiện thông qua tác động
của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa nhỏ và thông qua tích lũy nguyên
thủy tư bản. Trong đó, tác động của quy luật giá trị là nguyên nhân sâu xa làm xuất
hiện sở hữu tư nhân tư bản; tích lũy nguyên thủy tư bản là nhân tố trực tiếp tạo ra sở
hữu tư bản tư nhân quy mô lớn và làm xuất hiện phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa từ cuối thế kỷ XVII.
1.2.2. Những luận điểm chủ yếu về sự biến đổi sở hữu tư bản tư nhân
thuần túy sang sở hữu tư bản độc quyền và sở hữu tư bản độc quyền sang sở
hữu tư bản độc quyền nhà nước

Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh, C.Mác đã chỉ rõ: tự do
cạnh tranh sinh ra tích tụ sản xuất; tích tụ sản xuất phát triển tới một mức nào đó sẽ
dẫn tới sự xuất hiện các tổ chức độc quyền, cạnh tranh tự do sẽ nhường chỗ cho độc
quyền. C.Mác cũng xác định sự hình thành các công ty cổ phần và chế độ độc

phát triển nhanh của lực lượng sản xuất và việc ứng dụng những thành tựu khoa
học, kỹ thuật mới vào sản xuất đòi hỏi nguồn vốn lớn, cùng với nó là các cuộc
khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ ở hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa. Những
nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản hàng loạt, còn các nhà tư bản lớn thì phát tài và
tăng quy mô tư bản một cách nhanh chóng hơn trước. Thêm vào đó, sự ra đời
nhanh hơn của các cơ cấu tài chính trung gian như tín dụng, ngân hàng; sự hoạt
động của các công ty cổ phần và chế độ liên hợp sản xuất đã thúc đẩy nhanh hơn
quá trình tích tụ sản xuất trong các công ty lớn.
Lênin giải thích: tích tụ sản xuất có nghĩa là tập trung sản xuất vào những xí
nghiệp lớn, nhưng không phải chỉ là kết quả của tập trung tư bản mà mà là kết quả
của cả hai quá trình: tích tụ và tập trung tư bản. Các xí nghiệp cá biệt đã qua quá
trình tích tụ tư bản (tích lũy nội bộ, nhờ tư bản hóa giá trị thặng dư) nay lại diễn ra
quá trình tập trung thành những xí nghiệp khổng lồ và dẫn đến sự thay đổi quan
trọng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX: đó là sự hình thành các tổ
chức độc quyền.
Lênin khẳng định rằng: hình thức tích tụ sản xuất là “một đặc điểm cực kỳ trọng
yếu mà người ta gọi là chế độ liên hợp hóa, nghĩa là sự tập trung vào trong tay một xí
nghiệp duy nhất nhiều ngành công nghiệp khác nhau” [20, tr.398].
Các công ty cổ phần lớn và các xí nghiệp liên hợp tạo cơ sở vật chất để tự do
cạnh tranh chuyển thành độc quyền. Khi mỗi ngành sản xuất còn phân tán trong
hàng trăm, hàng ngàn xí nghiệp độc lập nhỏ bé thì không thể có sự thỏa thuận để chi
phối thị trường. Do tích tụ sản xuất, trong mỗi ngành nổi lên năm, bảy xí nghiệp
kếch sù nắm đại bộ phận sản xuất của ngành đó và cạnh tranh nhau gay gắt thì lúc
đó xuất hiện xu hướng thỏa thuận, liên minh với nhau để “điều tiết việc sản xuất”,
“quy định giá cả”, vì trong điều kiện mới, cạnh tranh khó khăn và ác liệt, tư bản cố

định to lớn, không thể dễ dàng di chuyển tự do từ ngành này sang ngành khác. Cho
nên, nghiên cứu quá trình tích tụ sản xuất, Lênin rút ra kết luận quan trọng: tích tụ
và tập trung sản xuất tất yếu “dẫn thẳng đến độc quyền. Vì vài chục xí nghiệp
khổng lồ có thể dễ dàng thỏa thuận với nhau; mặt khác chính quy mô to lớn của các

nhận xét: chiến tranh đã thúc đẩy nhanh chóng, phi thường sự chuyển hóa của chủ
nghĩa tư bản độc quyền thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
Nếu “tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi
phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền” [38, tr.402], các tổ chức độc
quyền dựa trên sở hữu tập thể tư nhân tư bản chủ nghĩa, thì tập trung sản xuất cao hơn
nữa làm cho tính xã hội hóa của lực lượng sản xuất phát triển, trình độ quốc tế hóa của
sản xuất cao hơn nữa làm cho sở hữu tập thể của tư bản tư nhân trở nên không còn phù
hợp, tất yếu ra đời chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Nội dung chủ yếu của nó là
sự liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức độc quyền với nhà nước tư sản về kinh tế và chính
trị để chi phối trên tất cả các mặt của quan hệ sản xuất, qua đó tăng sức mạnh của độc
quyền và mở rộng vai trò kinh tế của nhà nước tư sản, biến nhà nước tư sản thành
người đại diện lợi ích của các tổ chức độc quyền.
Sự biến đổi từ sở hữu độc quyền của tập thể các tư nhân sang sở hữu độc quyền
nhà nước là để thích ứng với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất. Khi đã đạt trình độ
xã hội hóa cao, đòi hỏi phải có một lực lượng kinh tế mới là tư bản độc quyền nhà nước
điều hòa phối hợp quá trình sản xuất xã hội thông qua việc nhà nước kế hoạch hóa sự
phát triển các ngành kinh tế; nhà nước đầu tư vào những ngành mà tư nhân không có
khả năng đầu tư hoặc không muốn đầu tư nhưng lại rất cần cho sự phát triển; nhà nước
đại diện cho lợi ích các tổ chức độc quyền trong quan hệ kinh tế quốc tế; nhà nước ban
hành các chính sách nhằm ổn định xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp tư sản
phát triển, v.v
Xét về bản chất của sở hữu tư bản độc quyền nhà nước thì sở hữu của nhà
nước tư sản là sở hữu tập thể của toàn bộ giai cấp tư sản, sở hữu độc quyền là sở
hữu tập thể của tư nhân trong các tổ chức độc quyền. Khi chúng xâm nhập vào nhau

hình thành tư bản độc quyền nhà nước thì hoạt động của nhà nước phụ thuộc vào
các tổ chức độc quyền, phải phục tùng lợi ích của các tổ chức độc quyền và biến
thành nhà tư bản tập thể của các tổ chức độc quyền. Vì theo Ăngghen: “Nhà nước
hiện đại…là nhà nước của các nhà tư bản, là nhà tư bản tập thể lý tưởng. Nhà nước
ấy càng chuyển nhiều lực lượng sản xuất thành tài sản của nó bao nhiêu thì nó lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status