Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7 - Pdf 15

Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁO HIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ BÁO HIỆU
Chức năng chính của báo hiệu là thiết lập, giám sát và điều khiển việc truyền tin trên mạng
viên thông.
Với các phương pháp truyền dẫn:
• Truyền dẫn gói (Virtual circuit)
• Truyền dẫn kênh (Circuit)
Truyền dẫn kênh:
Kênh dành riêng cho cuộc gọi do đó không chúa thông tin điều khiển cuộc gọi, do vậy
các thông tin điều khiển thường độc lập với các thông tin cuộc gọi được gọi là báo hiệu sẽ
phải truyển một cách riêng biệt nhằm để thiết lập, duy trì, hủy bỏ kênh truyền tin.
Truyền dẫn gói:
Thông tin cuộc gọi được “đóng gói “ bao giờ cũng gồm 2 phần gắn kết với nhau :
o Phần Data : giữ thông tin cuộc gọi.
o Phần Header: chứa thông tin điều khiển cuộc gọi.
Do vậy không cần phải có thêm thông tin báo hiệu. Tuân thủ mô hình mạng truyền dữ
liệu được chuẩn hóa theo mô hình OSI.
Các phương pháp báo hiệu được phân biệt theo các tiêu chí khác nhau như:
• Loại tín hiệu báo hiệu
o Báo hiệu Analog (như DC, 1VF, 2VF, MF).
o Báo hiệu Digital (như CAS, DSS1, No 7).
• Thông tin báo hiệu:
o Báo hiệu trên đường thuê bao (user-net)
o Báo hiệu trên đường trung kế (net-net).
o Báo hiệu qua mạng (user-user)
• Chế độ báo hiệu
o Báo hiệu lựa chọn
o Báo hiệu đường.
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN

trước khi và sau khi kết thúc cuộc gọi). Dẫn đến sự lãng phí không thuận tiện nhất là
cho các cuộc gọi chiém nhiều thời gian (như các cuộc gọi truyền dữ liệu…
Vì sử dụng mã để báo hiệu nên số lượng các thông tin báo hiệu rất ít do đó hạn
chế các khả năng điều khiển , thông tin báo hiệu cho các dịch vụ giá trị gia tăng qua
mạng
Kênh báo hiệu được truyền kết hợp cùng tuyến với kênh cuộc gọi do vậy khả năng
tìm kiếm và định tuyến kém cho các đầu cuối không cố định, đồng thời làm tăng lưu
lượng mạng báo hiệu trong quá trình tìm kiếm thuê bao di động do đó hạn chế khả năng
ứng ngày càng cao của các dịch vụ giá trị gia tăng
Hình 1.2 Mô hình mạng báo hiệu CAS đi cùng với mạng viễn thông
Yêu cầu được đặt ra là cần phải có một mạng báo hiệu mới đáp ứng được mọi dịch vụ
mới của công nghệ mạng truyền thông (Cả về dịch vụ thoại và dữ liệu) ở thời điểm hiện tại và
trong tương lai, các đòi hỏi ngày một lớn hơn về nhiều mặt của khách hàng như đảm bảo chất
lượng dịch vụ, tính bảo mật, lưu lượng lớn và khả năng đáp ứng nhanh…
Một ví dụ cụ thể là vào năm 1960 những tổng đài được điều khiển theo chương trình
được lưu chữ sẵn (Store Program Control - SPS) với viêc truyền số liệu tốc độ cao giữa các
bộ vi xử lý, báo hiệu ở đây được truyền trên cả hai hướng trên một kênh số liệu
Tất cả những điều này dẫn đến sự ra đời của mạng báo hiệu mới là mạng báo hiệu kênh
chung CCS đáp ứng được hầu hết các dịch vụ giá trị ra tăng và những đòi hởi mới của mạng
viễn thống số hiện đại.
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
3
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
1.2.2 Báo hiệu kênh chung CCS
Báo hiệu kênh chung là báo hiệu mà kênh báo hiệu không dành riêng cho kênh cuộc gọi
nào. Đây là phương thức báo hiệu theo bản tin sao cho mỗi một bản tin được dùng trong báo
hiệu cho một cuộc gọi. Bản tin có khuôn dạng chung cho cho mọi cuộc gọi. trong đó bản tin
có thể được truyền trên kênh dành riêng cho báo hiệu cùng tuyến với cuộc gọi hoặc có thể
truyền trên 1 hoặc nhiều kênh chung trên các tuyến khác tuyến cuộc gọi. Do đó nó lập thành
một mạng báo hiệu độc lập với mạng truyền tin, song song và đè lên mạng truyền tin đó.

Mạng báo hiệu SS7 về bản chất là một mạng chuyển mạch gói hoạt động riêng biệt và
song song với hệ thống mạng thoại. Các bản tin được truyền trên mạng thực hiện các chức
năng thiết lập, duy trì, giải phóng và quản trị mạng. Như trong hình 1.2, các node cấu thành
lên mạng báo hiệu được thiết kế, cấu tạo gồm có: các điểm báo hiệu SP, các điểm chuyển tiếp
báo hiệu TP, các điểm vừa báo hiệu vừa chuyển tiếp báo hiệu STP được kí hiệu như trong
hình 1.3 dưới đây:
Hình 1.3 : Các loại trạm báo hiệu CCS
1.3.1. Điểm báo hiệu (signalling point)
Điểm báo hiệu (SP) là một node (đầu cuối báo hiệu) trên mạng thực hiện việc chuyển
mạch thoại cho các kênh thoại và thực hiện việc chuyển mạch gói cho các gói tin của báo hiệu
SS7. Điểm báo hiệu giữ vai trò như một tổng đài (chức năng truyền dẫn và định hướng lưu
lượng qua mạng) trong mạng viễn thông
Mỗi điểm báo hiệu được xác định duy nhất bởi một mã điểm (Point Code - PC). Các mã
điểm (point code) được mang bên trong bản tin báo hiệu để xác định mã điểm nguồn
(Origination PC - OPC) và mã điểm đích ( Destination PC - DPC). Mỗi điểm báo hiệu sử
dụng bảng định tuyến để chon đích đến chính xác cho mỗi bản tin báo hiệu.
Các dạng của điểm báo hiệu
Điểm chuyển tiếp dịch vụ: (Service Switching Point – SSP)
Một điểm SSP gửi những bản tin báo hiệu tới các SSP khác để thiết lập, quản lý, và giải
phong kênh cuộc gọi được yêu cầu để hoàn tất 1 cuộc gọi. một SSP cũng có thể gửi bản tin tới
điểm điều khiển dịch vụ (SCP) để xác định làm thế nào để định tuyến một cuộc gọi.
Điểm chuyển tiếp báo hiệu: (Signaling Transfer Points - STP)
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
5
ST
Điểm chuyển tiếp báo hiệu (chỉ chuyển tiếp, không có chức năng xử lý)
SP
Điểm báo hiệu (điểm đầu cuối báo hiệu)
ST
Điểm chuyển tiếp báo hiệu (vừa có chức năng đầu cuối vùa có

là hơn 100 trung kế dẫn đến lãng phí lớn.
Hình 1.5 Phương pháp báo hiệu kiểu kết hợp
• Kiểu bán kết hợp (Quassi – Associated Mode)
Các đường liên kết báo hiệu không kết nối trức tiếp và song song với đường thoại
giữa 2 tổng đài. Mà trái lại nó là những tuyến liên kết báo hiệu được quá giang qua
nhiều điểm truyền báo hiệu STP. Điều này làm tăng hiệu suất báo hiệu của mạng, tăng
tính kinh tế do tận dụng hết lưu lượng báo hiệu của các đường liên kết báo hiệu.
Hình 1.6 phương pháp báo hiệu kiểu bán kết hợp
Sự phân cấp của mạng báo hiệu :
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển của mạng viễn thông, và đảm bảo chất lượng báo
hiệu cho mỗi cuộc gọi thì mạng báo hiệu SS7 được phân cấp. Các tổng đài số hiện đại đáp
ứng cả chức năng của điểm báo hiệu và điểm chuyển tiếp báo hiệu.
Khi xây dựng mạng viễn thông việc quyết định số mức điểm truyền báo hiệu STP trong
mạng là rất quan trọng. Nếu chỉ giới hạn về mặt chất lượng của mạng thì việc xây dựng mạng
có một mức STP được xem là thích hợp hơn cả. Tuy nhiên để đảm bảo độ tin cậy gần như
tuyệt đối thì cần chọn lựa giải pháp có từ 2 mức trở lên. Các hướng dẫn sau được đề xuất bởi
tổ chức ITU – T.
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
7
Đường thoại
Đường liên kết báo hiệu
Đường liên kết báo hiệu
SP SP
Đường thoại
ST
SP SP
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
Phân cấp mạng báo hiệu có một mức STP :
+ Mỗi SP ở cùng một thời điểm phải kết nối với ít nhất là hai STP.
+ Các STP phải kết nối với tất cả với các STP lại.

Cũng như mô hình OSI, lơp này chỉ liên quan đến việc truyền dẫn các bản tin từ các trạm này
đén trạm tiếp theo trong mạng mà không liên quan đến việc định tuyến các gói tin trên mạng.
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
9
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
1.4 .3. MTP-3 lớp mạng
Lớp 3 cung cấp các chức năng xử lý bản tin và quản trị mạng. Chức năng xử lý bản tin
là những chức năng định tuyến, phân loại, điều khiển lưu lựong và phân phối bản tin. Chức
năng quản trị mạng gồm các chức năng quản trị kênh, quản trị lưu lượng, và định tuyến.
1.4 .4. Lớp 4 – lớp người dùng
Lớp 4 được chia thành các mức con khác nhau, với các giao thức khác nhau. Bao gồm chính ở
đây là phần người dùng (ISUP, TUP), phần ứng dụng (TCAP, SCCP, OMAP).
Hình 1.10 Các lớp của báo hiệu SS7
1.4.4 .1. Phần điều khiển kết nối báo hiệu SCCP ( Signalling Connection Control Part)
Phần điều khiển kết nối báo hiệu SCCP cung cấp các chức năng bổ xung cho MTP để
cung cấp các chức năng chuyển giao giữa các thành phần như TCAP, OAMP, ASE, ISUP.
MTP chỉ sử dụng định mã điểm để xác định đích đến của bản tin. Tuy nhiên với SCCP sử
dụng nhiều hơn các phương pháp lý thuyết địa chỉ để bảo đảm dữ liệu có thể tìm đến những
đích của nó. SCCP cung cấp các khả năng định tuyến end to end và point to point, trong khi
MTP chỉ có khả năng định tuyến point to point, SCCP còn cung cấp các chức năng phiên dịch
địa chỉ để định tuyến chính xác các bản tin truyền trên mạng tới đích đến. SCCP sử dụng cà 2
phương thức truyền dẫn có kết nối và phương pháp truyền dẫn không kết nối.
SCCP kết hợp với MTP gọi là phần dịch vụ mạng NSP (Network Service Part) tương
đương với ba tầng thấp nhất trong mô hình OSI.
1.4.4.2. Phần ứng dụng khả năng giao dịch TCAP (Transaction Capabilities Application Part)
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
10
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
TCAP cung cấp một hệ thống chung và tổng quát cho việc truyền thông tin giữa
hai nút. Nó đảm bảo nhiều loại ứng dụng khác nhau và hữu ích ở các tổng đài và các

đối tượng sử dụng cùng loại trên mạng. Nói cách khác, MTP cung cấp một hệ thống truyền
thông tin tin cậy và có nhiệm vụ : xử lý lỗi, cấu hình lại mạng khi có liên kết lỗi, nhận biết
bản tin, phân bố và định tuyến.
2.1. MTP-1 LIÊN KẾT DỮ LIỆU BÁO HIỆU
MTP-1 xác định các đường liên kết báo hiệu của mạng báo hiệu SS7. Nó xác định các
đặc tính vật lý, đặc tính điện và các đặc tính chức năng của đường số liệu báo hiệu. Nó cung
cấp các đường truyền dẫn song công, có thể hoạt động trên cả hai hướng thuật và ngược với
cùng một tốc độ truyền.
Kênh truyền dẫn báo hiệu có thể là kênh số hoặc kênh analog. Kênh số là những kênh
có tốc độ cơ bản là 64kbps cùng với các chuyển mạch số. Với kênh analog dựa trên tần số
thoại 4KHz và các Modem.
Giao thức này xác định những tính chất về điện, vật lý và những đặc điểm của kênh
truyền báo hiệu. Nó giống như lớp một của mô hình mạng truyền dữ liệu OSI. Khoảng thời
gian đâu thực hiện việc truyền báo hiệu trên các đường dây analog với băng thông 4khz
(300khz->3,4 khz). Các thông tin báo hiệu phải được điều chế khác điều chế của dữ liệu để
phân biệt dữ liệu và báo hiệu. Ở đây sử dụng điều chế khóa dịch chuyển tần sô (FSK) cho báo
hiệu, B = 300khz->3,4khz làm cho tốc độ báo hiệu 1,2kbps/2,4kbps cho một kênh cuộc gọi.
Trên các đường trung kế 32 kênh có tốc độ kênh báo hiệu 2Mbps, và sử dụng phương pháp
điều chế biên độ chực giao QAM.
Ngày nay việc truyền báo hiệu được truyền trên các đường trung kế số, hoặc là trên các
đường truyền sử dụng sóng vi ba. Với đường truyền sử dụng sóng vi ba sử dụng phương pháp
điều chế M-QAM và tốc độ báo hiệu đạt được là 2Mbps. Với đường truyền số sử dụng Fram
Relay hoặc sử dụng các kênh ATM để truyền báo hiệu và sử dụng mã 2B1Q để mã hóa.
2.2. MTP-2 LỚP LIÊN KẾT BÁO HIỆU
Ở lớp này chứa các chức năng liên kết báo hiệu, điều khiển luông lớp 2 và chỉ thị độ ưu
tiên ở mức 3 các chức năng chính của báo hiệu gồm , chức năng về giới han, phát hiện lỗi và
đồng bộ. Mức 2 cũng chứa các chức năng điều khiển cho việc truyền, nhận và điều khiển
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
12
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7

bắt đầu và kết thúc của một đơn vị bản tin. Cờ kết thúc của một đơn vị bản tin này cũng
là cờ bắt đầu của bản tin đơn vị kế tiếp. Tập hợp các bít xen giữa hai cờ là chiều dài toàn
bộ bản tin, ngoài ra cờ cũng được sử dụng cho mục đích đồng bộ, mẫu định dạng duy
nhất là 01111110.
Để tránh lặp lại giá trị cờ này trong các thành phần khác của MSU, ta sử dụng quá
trình nhồi bít. Mỗi bộ nhồi bít sẽ chèn thêm bít 0 sau 5 bit 1 liên tiếp để loại trừ trường
hợp 6 bít một liên tiếp. phía bên thu sẽ thực hiện quá trình ngược lại, quá trình này sẽ
đếm 5 bít 1 liên tiếp và loại bỏ bít 0 tiếp theo.
Trường kiểm tra độ dư thừa vòng (CRC)
Sử dụng phương pháp kiểm tra CRC 16 bít để kiểm tra, xác định và chỉnh sửa các
lỗi bít trong quá trình truyền tin. Các bít kiểm tra là những bít bỗ sung được thêm vào
trong bản tin MSU. Ở phía nhận MTP dựa vào những bít kiểm tra này để xác định xem
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
14
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
các bản tin đựợc truyền có lỗi trên đường truyền hay không. Trên cơ sở đó sẽ có bản tin
trả lời xác nhận thông tin nhận được đúng hay sai.
Khi sử dụng phương pháp kiểm tra kiểu CRC 16bit, cả hai bên phát và bên thu
phải sử dụng chung một đa thức sinh F(x). Trong CRC chuỗi các bít dư thừa gọi là số
dư CRC được bổ sung vào cuối đơn vị dữ liệu sao cho đơn vị dữ liệu mới chia chính
xác cho số nhị phân đã được quy định trước. Ở nơi nhận, đơn vị dữ liệu tới cũng được
đem chia cho cùng một số, nếu phép chia không dư, đơn vị dữ liệu được xem là không
lỗi và sẽ được nhận. Còn nếu có dư, nghĩa là đơn vị dự liệu đã bị lỗi và không được
nhận. Vì sử dụng trường 16bit nên đa thức sinh (theo chuẩn CRC - ITU) là :
F(x) = X
16
+ X
12
+ X
5

đầu hay truyền lại. trường chỉ thị hướng thuận chỉ bao gồm một bit duy nhất đảm
nhiệm chức năng này.
Trường thứ tự hướng thuận (FSN – Forward Sequence Number) : Mỗi đơn vị
báo hiệu ở ngõ ra được chỉ định và gắn vào một số thứ tự bản tin hướng đi. Ở phía
nhận FSN được dùng để kiểm tra trình tự đúng đắn của đơn vị bản tin báo hiệu, để
chống ảnh hưởng của lỗi đường truyền, các con số thứ tự có giá trị từ 0 đến 127.
trường FSN chỉ bao gồm bẩy bít.
Trường chỉ thị hướng ngược (BIB – Backward Indicator Bit) : Sử dụng cho
thủ tục sửa lỗi cơ bản, được dùng để yêu cầu truyền lại các đơn vị bản tin được
phát hiện là hư hỏng. Trường này cũng chỉ báo gồm một bit
Trường thứ tự hướng ngược (BSN-Backward Sequence Number) : Chứa các
thông tin trả lời xác nhận trong các thủ tục giám sát, sửa lỗi các bản tin. Số thứ tự
của các bản tin trên đường hướng về cũng có thể sử dụng để trả lời xác nhận cho
một trình tự của các đơn vị báo hiệu.
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
16
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
Hinh 2.5 Ví dụ về một bản tin nhận chuẩn của MSU
Hình 2.6 Ví dụ cho việc yêu cầu truyền lại bản tin khi mất khung MSU
Trường chỉ thị độ dài (LI – Length Indicator)
Trường chỉ thị độ dài được dùng để phân biệt giữa 3 loại đơn vị bản tin. Độ dài ở đây
được tính từ sau trường CK đến trường LI, giá trị của LI là như sau :
o LI = 0 : Bản tin FISU
o LI = 2 : Bản tin LSSU
o LI > 2 : Bản tin MSU
LI cũng biểu thị độ dài của trường SIF và SIO trong MSU, nếu SIF và SIO dài hơn 64
bytes thì LI sẽ luôn có giá trị mặc định bằng 63.
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
17
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7

phương tiện được trao đổi giữa các lớp 2 của MTP qua thông tin giám sát, cũng
như khôi phục lại một kênh báo hiệu có lỗi đã được sửa chữa
 Sự liên kết : liên kết các đường truyền dẫn báo hiệu là quá trình xử lý đồng bộ dữ
liệu liên kết giữa hai điểm báo hiệu kết nối trực tiếp. Nó được áp dụng thoạt tiên
khi bật nguồn thời gian và trong suốt thời gian theo sau của một sự thất bại trong
liên kết. Sự sắp hàng là dựa trên sự cưỡng ép trao đổi của thông tin trạng thái để
làm tăng khả năng thực hiện.
Hinh 2.10 Sơ đồ thể hiện sự thành công sắp xếp của một liên kết
Thông thường, thủ tục liên kết thành công được miêu tả theo như hình trên.
Một điểm báo hiệu ban đầu bắt đầu bởi việc gửi LSSU, cái mà được mang trong
trạng thái được chỉ ra ”0” (out of alignment.). Điều này được tiếp tục cho tới khi
trạm đích nhận được một LSSU cùng với hoặc là trạng thái ”0 ” hoặc là trạng thái
”N” (normal alignment).
2.2.1.3. Đơn vị tín hiệu chèn ( FISU – Fill In Signal Unit)
Đơn vị tín hiệu chèn được sử dụng như là làm đầy các tín hiệu để chấp nhận FISU
thực hiện như một cái cờ trong mạng SS7, khi không có tải được truyền thì FISU được
gửi vào trong mạng SS7 để nhận các thông báo một cách tức thời về sự cố của đường
báo hiệu, có nghĩa là nó được truyền đi để thay thế MSU và LSSU. Trường quan trọng
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
19
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
nhât của FISU là trường CK (CheckSum) dùng đẻ giám sát lỗi trên kênh báo hiệu. Ở
mạng SS7, để duy trì mức tin cậy cao thì FISU được sử dụng.
2.3. CÁU TRÚC MTP-2
Hình 2.11 Cấu trúc MTP-2
Các phần chính của MTP2 được chỉ ra trong hình trên. LC (Link control) sẽ điều khiển
các chức năng của đơn vị bản tin MTP2. Đầu tiên, nó tương đương phần truyền của bản tin.
LC cũng quản lý sự hoạt động của các đường liên kết. Nó truyền cùng với chính MTP3, chấp
nhận yêu cầu trạng thái đường liên kết (C), và thông báo lại thông tin trạng thái liên kết cùng
với sự chỉ dẫn (I). Cuối cùng, LC truyền cùng với LC tại điểm cuối của đường liên kết, sử

định (negative acknowleggment).
Điều khiển luồng được điều khiển bằng cách sử dụng các bản tin LSSU. Khi một bên
không kiểm soát được luồng dữ liệu do bên kia gửi đến, nó liền gửi một bản tin LSSU với các
chỉ báo bận trong trường trạng thái tới các nơi phát. Khi nơi truyền nhận được thông tin đó nó
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
21
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
sẽ ngường việc truyền các MSU lại và khi tình hình trở lại thì nó gửi lại nơi phát bằng một
bản tin LSSU khác. Khi một phía không có dữ liệu để phát nó sẽ gửi FISN để trả lời.
Cơ chế này nói chung không được áp dụng cho những mức cao hơn (mức MTP 3). Tuy
nhiên nếu tắc nghẽn vẫn tiếp tục kéo dài và không thông báo được cho mức mạng báo hiệu,
thì hoạt động của mức mạng báo hiệu có thể bị ngường lại. Nếu mức mạng nhận ra tắc nghẽ
thì các gói tin được định tuyến quanh điểm tắc nghẽ.
Để giả quyết tình trạng bận dẫn đến tắc nghẽn trên các node có một bộ đếm thời gian có
trách nhiệm điều khiển cho đến khi tình trạng bận chấm dứt. có ba quy định về thời gian cho
ba bộ đếm.
• Nếu nơi nhận trở lên quá tải, nó phải gửi một bản tin với thông tin báo bận để yêu cầu
phía phát ngừng lại. Nơi nhận từ chối trả lời MSU để nó bắt đầu trạng thái điều khiển
tắc nghẽ và với tất cả các MSU nhận được trong trạng thái bận này. Nếu trạng thái qúa
tải vẫn tiếp tục tiếp diễn thì tại node nhận phải lặp lại một chỉ báo bận trong khoảng
thời gian T5 (có giá trị trong khoảng 80 – 120 ms, và phía bên truyền lại tiếp tục
ngừng truyền trong khi tình trạng tắc nghẽn vẫn tiếp diễn.
• Khi tình trạng tắc nghẽn đã giảm bớt tại nơi nhận, nó sẽ thông báo cho đầu kia được
biết rằng việc trả lời khảng định cho các MSU tiếp theo.
• Mặc dù có những thông báo bận trong mỗi đơn vị thời gian T5, một node sẽ thông báo
cho mức mạng là một kênh sẽ ngừng phục vụ (out of service) sau một khoảng thời
gian là T6 (có giá trị trong khoảng 3 đến 6).
2 .4.2 Điều khiển lỗi
Có hai phương pháp điều khiển lỗi được dùng trong mạng SS7 là :
 Phương pháp cơ bản (Basic Method) : được áp dụng trong các tuyến một chiều có độ

trên giá trị của FSN, cái mà trội hơn FSN của bản tin MSU nhận được gần đây nhất một
đơn vị.
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
23
Tổng quan về hệ thống báo hiệu số 7
Đây là một kỹ thuật dùng cho tuyến có độ trễ lớn, với các tuyến này thì các đơn vị
bản tin thường tương đối ngắn và kênh truyền có thể ỏ trạng thái rỗi trong phần lớn thời
gian. Chính vì thế khi không có MSU hay LSSU truyền đi thay vì truyền FISU thì nó sẽ tự
động phát lại các MSU trong bộ đệm phát lại của nó và bắt đầu với MSU có FSN thấp
nhất, mà không cần một chế độ xác nhận khảng định hay phủ định nào. Các bản tin đã
được nhận sẽ bị xóa tại đầu thu, còn MSU bị lỗi hay mất thì nó vẫn xử lý bình thường.
Một khung báo hiệu mới cần phát đi thường có mức yêu tiên cao hơn những khung
trong bộ đệm phát lại. khi số khung báo hiệu không được nhận biết bị chất đống lại, không
một khung mới nào được phát đi và các khung không được nhận biết sẽ được phát lại bắt
buộc theo chu kỳ. Trong thực tế việc phát lại các bản tin thường nhanh hơn sửa một bản
tin bị lỗi, chính vì thế phương pháp này được dùng nhiều hơn phương pháp cơ bản.
c) So sánh giữa phưong pháp PCR và phưong pháp sửa lỗi cơ bản
PCR được sử dụng trên các đường liên kết cùng với thời gian lan truyền lớn nó vượt
qúa 40ms, bởi vì phương pháp lỗi cơ bản dựa trên kết qủa liên kết trong việc trễ xếp hàng
MSU cái mà không thể chấp nhận cho điều khiển cuộc gọi ứng dụng ở (TUP, ISUP).
Nhưng mặt khác, phưong pháp sửa lỗi cơ bản là được ua thích hơn trên các liên kết
báo hiệu cùng với thời gian lan truyền dưới 40ms, bởi vì nó cho phép một lượng lớn hơn
việc truyền tải MSU trên các đường liên kết báo hiệu hơn PCR
2 .4.3. Phương pháp kiểm soát lỗi
Khi các liên kết báo hiệu ỏ trong dịch vụ, mỗi LC theo dõi nhịp độ lỗi của những đơn vị
tín hiệu nhận được. Khi một trong những điều kiện sau đây xuất hiện, MTP3 trong điểm báo
hiệu được báo hiệu với một chỉ định thất bại mối liên kết
 Sáu mươi bốn đơn vị tín hiệu liên tiếp đã được nhận được với những lỗi.
 Nhịp độ lỗi của những đơn vị tín hiệu nhận được vượt hơn một lỗi 256 đơ vị báo hiệu.
 Một mẫu bít “không thể đạt được”, cái mà được nhận, và một cờ không được xác định

nhận được bit lỗi. nếu bộ đếm chưa vượt quá ngưỡng cho phép trước lúc chu kỳ thử
nghiệm bắt đầu thì chu kỳ phục vụ sẽ bị bỏ qua. Trong trường hợp thất bại thủ tục chu
kỳ thử nghiệm này có thể thử lại 5 lần, nếu cả 5 lần đều lỗi thì kết nối đấy là không tin
cậy.
2 .4.4 Vấn đề đồng bộ
Như đã nói ở trên đồng bộ là một trong những chức năng quan trọng của lớp 2 cùng với
những chức năng khác như giới hạn và phát hiệ lỗi.
Đại Học Công Nghệ -ĐHQGHN
25

Trích đoạn GIỚI THIỆU CHƯƠNG 4 PHẦN NGƯỜI DÙNG PHẦN NGƯỜI DÙNG THOẠI (TUP)
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status