LUẬN VĂN: Văn hóa kinh doanh ở Công ty phát hành sách Hà Nội trong cơ chế thị trường potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Văn hóa kinh doanh ở Công ty
phát hành sách Hà Nội trong cơ
chế thị trường

mở đầu

1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến quan
trọng, từ nền kinh tế hành chính tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Cơ chế
kinh tế mới khẳng định vai trò to lớn của các hoạt động thương mại, dịch vụ, các doanh
nghiệp và doanh nhân nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Trong cơ chế thị trường, phát
hành sách (PHS) cũng là một trong số các hoạt động thương mại, có chi phí mua, chi phí
bán và sau quá trình đó là lợi nhuận (tiền lãi), vì vậy PHS cũng có nhiều điểm tương đồng
với các ngành kinh doanh khác. Tuy nhiên, kinh doanh xuất bản phẩm (XBP) là hoạt động
kinh tế đặc thù, vừa đảm bảo mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế vừa thực hiện mục tiêu tư tưởng -
văn hóa, vì sự tiến bộ và phát triển của xã hội, sự phát triển con người. Kinh doanh XBP có ý
nghĩa to lớn và giữ vị trí quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa và
phát triển tri thức khoa học cho nhân dân. Việc nhận thức đúng đắn về hoạt động kinh

các hình thức kinh doanh, thu hút sự quan tâm chú ý nhiều hơn của nhân dân Thủ đô là
một yêu cầu cấp bách. Trong phương hướng đổi mới thì việc xây dựng văn hóa kinh
doanh ở Công ty PHS Hà Nội trong cơ chế thị trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
quyết định sự vững mạnh của công ty trong thời kỳ mới.
Từ những vấn đề đặt ra ở trên, chúng tôi lựa chọn đề tài " Văn hóa kinh doanh ở
Công ty phát hành sách Hà Nội trong cơ chế thị trường ", làm luận văn tốt nghiệp hệ
đào tạo cao học, chuyên ngành lý luận văn hóa, nhằm góp phần nhận thức đúng đắn vai
trò của văn hóa kinh doanh trong hoạt động PHS hiện nay; đánh giá đúng thực trạng và
đề xuất các giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xây dựng văn hóa kinh doanh ở Công ty PHS Hà
Nội, đáp ứng được các yêu cầu mới của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
2. Tình hình nghiên cứu

Vấn đề xây dựng văn hóa, đạo đức trong xã hội nói chung trong kinh tế nói riêng
đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Sự quan tâm này càng được chú ý hơn khi nước
ta chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các phương diện văn hóa trong kinh tế ở
những góc độ khác nhau, do đó khi thực hiện đề tài "Văn hóa kinh doanh ở Công ty Phát
hành sách Hà Nội trong cơ chế thị trường" chúng tôi đã kế thừa được từ những nhà
nghiên cứu đi trước nhiều ý kiến và kinh nghiệm quý báu.
Thứ nhất là vấn đề văn hóa kinh doanh trong hoạt động kinh tế, thương mại. Trong
các công trình Tinh thần doanh nghiệp giá trị định hướng của văn hóa kinh doanh Việt
Nam (Trần Quốc Dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003), Xây dựng văn hóa doanh
nghiệp Việt Nam (Đào Duy Quát, Tạp chí Tư tưởng - văn hóa số 6/2003); Văn hóa và
kinh doanh (Phạm Văn Nghiêm, Vũ Hòa, Trần Trúc Thanh (chủ biên), Nxb Lao động, Hà
Nội, 2001); Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học (Đỗ
Huy, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001); Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh
(Đỗ Minh Cương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); Doanh nghiệp, doanh nhân
trong kinh tế thị trường (Vũ Quốc Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); Văn hóa
và phát triển (Trường Lưu chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1995); Văn hóa vì
phát triển (Phạm Xuân Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Văn hóa và kinh

mô hình tổ chức ngành PHS hiện nay đáp ứng yêu cầu xây dựng thể chế kinh tế thị
trường và mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế. Các ý kiến trong các công trình nghiên
cứu ở trên xới gợi những ý tượng quan trọng về hoạt động PHS trong cơ chế thị trường,
về văn hóa kinh doanh XBP giúp chúng tôi nghiên cứu sâu hơn về văn hóa kinh doanh
PHS trong cơ chế thị trường. Có thể nói các ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước về cơ
bản rất gần gũi và quan trọng đối với người thực hiện đề tài này. Chúng tôi tiếp thu được
ở đó sự xác định các quan niệm cơ bản về văn hóa, về văn hóa kinh doanh và những đặc
trưng cơ bản của PHS trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam Đến lượt mình chúng tôi sẽ tiến sâu hơn một bước trong việc nghiên cứu văn hóa
kinh doanh trong hoạt động PHS ở nước ta nói chung và ở Công ty PHS Hà Nội nói

riêng. Có thể xem đây là một vấn đề còn mới mẻ đối với những người nghiên cứu và hoạt
động trên lĩnh vực văn hóa, kinh doanh XBP.
3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Nhiệm vụ của luận văn
Để hoàn thành nội dung nghiên cứu, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể là:
- Xác định quan niệm về văn hóa, văn hóa kinh doanh, mối liên hệ giữa văn hóa
và kinh doanh ở doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh XBP.
- Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và văn hóa kinh doanh ở
Công ty PHS Hà Nội trong 5 năm gần đây.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao văn hóa kinh doanh ở Công ty
PHS Hà Nội trong thời gian tới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian, khuôn khổ luận văn cao học và trình độ người viết còn
hạn chế, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng văn hóa kinh doanh ở Công ty PHS Hà
Nội từ năm 1996 cho đến năm 2002, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp thúc đẩy việc xây
dựng văn hóa kinh doanh ở công ty trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn
được tiến hành nghiên cứu từ góc độ văn hóa học và các khoa học khác như: triết học,

nay.

- Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất
lượng hiệu quả văn hóa kinh doanh ở Công ty PHS Hà Nội trong thời gian tới.
Luận văn được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong
Khoa Sau đại học, Khoa Phát hành sách Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, các đồng chí
lãnh đạo và đồng nghiệp ở Công ty PHS Hà Nội, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của
TS. Nguyễn Duy Bắc, giảng viên Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo, các anh chị em đồng
nghiệp và những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện
để tác giả hoàn thành luận văn này.

Chương 1
Văn hóa kinh doanh và vai trò của văn hóa
kinh doanh đối với hoạt động kinh tế thương mại và
phát hành xuất bản phẩm trong cơ chế thị trường

1.1. quan niệm về văn hóa
Văn hóa là một khái niệm rất rộng và được nhiều học giả nghiên cứu tiếp cận từ
những góc độ khác nhau. Theo quan niệm ở phương Đông trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa
bao gồm văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ. Con người có thể đạt
được bằng cách tự tu dưỡng của bản thân và là cách thức cai trị đúng đắn của người cầm
quyền. Chữ "hóa" trong văn hóa là việc đem cái văn (cái đẹp, cái đúng, cái tốt) để cảm
hóa giáo dục và hiện thực hóa trong thực tiễn đời sống. Văn hóa chính là nhân hóa hay
nhân văn hóa.
Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ hoạt động vật chất và tinh thần mà loài
người sáng tạo ra trong lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích cuộc sống loài người mới sáng tạo ra và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về ăn mặc ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ sáng tạo và phát minh đó

Kinh tế thị trường và mở cửa với bên ngoài làm sống động nền kinh tế và các
hoạt đông xã hội, phát triển giao lưu hàng hóa, du lịch và các sản phẩm văn hóa, giúp
nhân dân ta mở rộng chân trời hiểu biết và kiến thức tiếp nhận từ bốn phương. Điều dễ
nhận thấy trong sự thay đổi này là tính năng động xã hội - kinh tế và tính tích cực của
công dân được khơi dậy và phát huy thay thế cho tâm lý thụ động ỷ lại trông chờ vào sự
bao cấp của Nhà nước. Không khí dân chủ cởi mở trong xã hội được nâng cao, năng lực
cá nhân của con người được khuyến khích, tôn trọng.

Văn hóa bắt nguồn từ yếu tố nguồn lực con người. Con người là chủ thể, là linh
hồn của sự sáng tạo, là nhân tố hàng đầu của văn hóa. Hội nghị liên Chính phủ về chính
sách văn hóa vì sự phát triển do UNESCO tổ chức tại Xtốckhôm (Thụy Điển) đã khẳng
định: "Sự sáng tạo văn hóa là động lực tiến bộ của loài người; Sự đa dạng của văn hóa là
kho tàng quý báu nhất của nhân loại và là một yếu tố cần thiết của sự phát triển" [Dẫn
theo 42, tr. 51]. Quan điểm đó đã góp phần khắc phục được cách nhận thức của một số
người chỉ nhấn mạnh vai trò của kinh tế, coi văn hóa thuộc loại phi sản xuất, là lĩnh vực
thứ yếu, là hoạt động đứng ngoài kinh tế, văn hóa sống được là nhờ vào trợ cấp của Nhà
nước và ăn theo kinh tế, chịu sự quy định một cách đơn giản của kinh tế ít chú ý đến các
giá trị và vai trò của văn hóa.
Thực tiễn ngày càng giúp chúng ta nhận thức đầy đủ hơn vị trí vai trò của văn
hóa trong phát triển. Sự hiểu biết và trí tuệ do con người tích lũy được, cùng đạo lý tốt
đẹp trong mối quan hệ của con người và cộng đồng, với tự nhiên được bồi đắp nên suốt
chiều dài lịch sử, là các thành tố cấu thành văn hóa, làm nên nền tảng tinh thần xã hội,
giữ vai trò cực kỳ quan trọng vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội. Như sự nhấn mạnh về văn hóa được đưa ra trong Hội nghị liên Chính phủ về
chính sách văn hóa do UNESCO tổ chức tại Thụy Điển trong thời gian gần đây: "Sự phát
triển của xã hội chính là sự phát triển của văn hóa;và sự thăng hoa của văn hóa là đỉnh
cao nhất của sự phát triển" [Dẫn theo 42, tr. 51].
Văn hóa là thuộc tính bản chất của con người, văn hóa dùng để chỉ đặc điểm và
nhân tố nhân tính, nhân văn chung của loài người, văn hóa có trong bất cứ lĩnh vực hoạt
động nào của con người:kinh tế, chính trị, nghiên cứu, giao tiếp, lao động, sáng tạo nghệ

một nghề, hay là một hoạt động đều nhằm đem lại lợi ích cho chủ thể là người kinh
doanh. Vì vậy, Luật doanh nghiệp Việt Nam đưa ra định nghĩa kinh doanh từ đặc điểm
bản chất của nó như sau: "Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lợi" [22, tr. 7-8].

Mục đích chính của kinh doanh là kiếm lời, là đem lại lợi nhuận cho người kinh
doanh hay còn gọi là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh bao gồm các cá nhân, tổ
chức, doanh nhân có hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa trên thị trường. Khách thể kinh
doanh là những khách hàng của chủ thể bao gồm người tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp và
cả những nhà kinh doanh khác trong mối quan hệ bạn hàng hoặc cùng hợp tác kinh doanh.
Trong mối quan hệ đó, người tiêu dùng (khách thể) giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Họ là
trung tâm của thị trường, là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Lợi nhuận của
doanh nghiệp phụ thuộc vào sức mua của người tiêu dùng nên người kinh doanh phải căn cứ
vào nhu cầu, thị hiếu, sở thích của khách hàng để cung cấp cho họ một lượng hàng hóa hay
dịch vụ nào đó nhằm thu lại một lượng tiền với mức lợi nhuận nhất định. Vì vậy việc
quyết định sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng có chấp nhận hàng
hóa, sản phẩm đó hay không.
Như vậy, kinh doanh không trái với phục vụ nhưng đây là sự phục vụ có mục
đích vì lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất phát triển ngày càng cao hơn và các dịch vụ kèm
theo sản phẩm cũng được chú trọng hơn. Trong nền kinh tế thị trường thì kinh doanh cần
cho cuộc sống cũng như cuộc sống cần cho kinh doanh. Kinh doanh là một nghề chính
đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động xã hội tạo ra.
Vấn đề là kinh doanh như thế nào? Kinh doanh bằng cách nào? Đấy là nội dung của vấn
đề văn hóa trong kinh doanh và kinh doanh có văn hóa.
1.2.2. Văn hóa trong kinh doanh và kinh doanh có văn hóa
1.2.2.1. Văn hóa trong kinh doanh
Bản thân hoạt động kinh doanh thương mại là một hoạt động văn hóa, bởi nó đáp
ứng nhu cầu hưởng thụ hay thưởng thức của con người. Và khi con người là đối tượng
hưởng thụ văn hóa chân chính cũng là con người đích thực của xã hội biết phân biệt cái

Do đó, yếu tố văn hóa và phản văn hóa tiềm ẩn trong mỗi nhà kinh doanh. Vấn đề ở chỗ,

nhà kinh doanh nào thực tài thì có đối sách thích hợp để gặt hái thành công trên thương
trường. Ai có trí có lực thì vượt qua những biến động ghê gớm khó lường trước được của
thị trường và vươn lên. Lúc này yếu tố văn hóa trong kinh doanh chính là bản lĩnh của
người kinh doanh. Nhiều tấm gương thành đạt của doanh nhân nổi tiếng đã chứng minh
điều đó.
Phạm trù văn hóa trong kinh doanh chính là nỗ lực chủ quan của người kinh
doanh, họ thực sự đã đóng góp công sức cho sự tiến bộ xã hội. Song cũng chính họ nếu
không đủ tài lực, nhân trí sẽ có hành vi phản văn hóa trong kinh doanh. Do đó, điều tiết
mối quan hệ này chính là các hoạt động nhân văn với sự chi phối của gia đình, truyền
thống dân tộc, thể chế nhà nước (quốc gia) và các chuẩn mực quốc tế hướng tới sự tiến
bộ của xã hội.
1.2.2.2. Kinh doanh có văn hóa
Hoạt động kinh doanh diễn ra trên khắp thế giới, cả trong thời chiến và thời bình
với nhiều quy mô và hình thức khác nhau. Có thể nói một cách hình ảnh rằng cả thế giới
như một cái chợ, chỗ này buôn bán lương thực, thực phẩm, chỗ kia buôn bán văn hóa
phẩm, chỗ khác buôn bán vũ khí Bởi lẽ tất cả các nơi đó đang diễn ra quá trình thỏa
mãn nhu cầu của mối quan hệ cung - cầu, mua - bán, trao đổi. Cái khác nhau cơ bản của
hoạt động kinh doanh nhìn dưới góc độ văn hóa chính là "đối tượng" và "phương thức"
của quá trình kinh doanh trên thị trường.
Trong phạm trù "kinh doanh có văn hóa" yếu tố cái thiện, cái ác là thước đo giữa văn
hóa và phản văn hóa, giữa văn minh và man rợ mà biểu hiện của phạm trù này chính là vật
được đem đi trao đổi giữa kẻ bán và người mua.
Nói đến kinh doanh là nói đến việc đầu tư cho việc sản xuất buôn bán phân phối
hàng hóa và dịch vụ nhằm mục đích kiếm tìm lợi nhuận tối đa, thu được lợi nhuận để từ
đó tái đầu tư, đảm bảo lợi ích cho người kinh doanh và người lao động, nhờ đó doanh
nghiệp mới tồn tại và phát triển được.

Người ta có thể kiếm lợi nhuận bằng nhiều cách khác nhau nhưng thực tế phát

doanh, vừa nâng cao nhân tố trí tuệ; coi trọng nhân tố đạo đức của người sản xuất, tiếp thị
và quản lý tài chính. Theo họ kinh doanh không những vì lợi ích của mình mà ngay từ
đầu phải tính đến lợi ích và phát triển của xã hội.
Từ quan niệm như vậy mà văn hóa kinh doanh cũng được xác định theo nguyên
tắc mới, đó là: Một mặt phải đảm bảo cho nhà kinh doanh xác định được đầy đủ chủ
quyền của mình trong việc bảo vệ và phát triển quyền lợi sở hữu tài sản, sử dụng các
nguồn lực vào hoạt động kinh doanh đưa ra những quyết định kịp thời, chính xác nhằm
thực hiện các mục tiêu kinh doanh có lợi cho họ và xã hội. Mặt khác văn hóa kinh doanh
cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động theo luật định. Ngay từ đầu họ phải chú ý
đến lợi ích xã hội, đến đời sống và công việc của những người có liên hệ tới hoạt động
kinh doanh của mình để doanh nghiệp của mình thu được lợi nhuận vững chắc. Đó chính
là môi trường đảm bảo cho hoạt động của nhà kinh doanh có thể tồn tại và phát triển lâu
dài. Cách kinh doanh này thể hiện mặt ưu việt của phương thức kinh doanh có đạo đức,
có văn hóa.
Phạm trù kinh doanh có văn hóa chính là phần thể hiện cái tâm và là bản chất văn
hóa của người tham gia kinh doanh. Nó chính là thước đo văn hóa, giáo dục, tình cảm và
trách nhiệm của người kinh doanh trước nhu cầu của khách hàng và xã hội.
Một xã hội kinh doanh có văn hóa, tập hợp các nhà kinh doanh có văn hóa đó là
xã hội văn minh, lành mạnh và phát triển. Nếu ngược lại, xã hội sẽ phải trả giá cho sự bất
lực và yếu kém về trí tuệ và văn hóa trong kinh doanh. Những vụ tranh chấp đầy kịch
tính, những phi vụ làm ăn phi pháp, buôn lậu, ma túy, tham nhũng là biểu hiện của hoạt
động kinh doanh phản văn hóa. Hiện tượng này chỉ có thể khắc phục trong xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
1.2.3. Quan niệm về văn hóa kinh doanh

Kinh doanh là hoạt động gắn liền với lợi ích kinh tế, nhưng kinh doanh như thế
nào? Đem lại lợi ích cho ai? Đây là vấn đề cần được xem xét một cách nghiêm túc. Trong
quá trình thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường tất yếu sẽ xuất hiện mối
quan hệ canh tranh giữa các nhà doanh nghiệp. Sự cạnh tranh thể hiện ở mọi lĩnh vực:
sản xuất, mua, bán, Cách giải quyết các mâu thuẫn đó không thể không liên quan đến

năng suất, sản lượng, giá trị cao, giá thành thấp, sản phẩm đạt chất lượng cao, tiêu thụ
được sản phẩm trên thị trường trong nước và ngoài nước, làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà
nước, tạo được chữ tín với khách hàng. Văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp có thể
được nhận biết từ hai phương diện chính:
Một là, các nhân tố văn hóa (hệ giá trị, tâm lý, triết lý chung mà chủ thể lựa chọn
từ văn hóa dân tộc và nhân loại), được vận dụng vào quá trình kinh doanh để tạo ra các
sản phẩm hàng hóa và dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng. Nói cách
khác đây là lối kinh doanh có văn hóa, kinh doanh phù hợp với sự tiến bộ của xã hội.
Hai là, các giá trị văn hóa, kết tinh trong các sản phẩm như hệ giá trị, triết lý, tập
tục riêng, nghệ thuật mà chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh và làm
nghề kinh doanh của họ có tác dụng cổ vũ, biểu dương đối với kiểu kinh doanh có văn
hóa mà họ đang theo đuổi.
Hai phương diện trên cũng chính là hai thành tố chính của hệ thống văn hóa kinh
doanh, vốn có mỗi quan hệ biện chứng và hữu cơ với nhau. Điều này giống như việc
muốn trở thành một con người sống có văn hóa thì trước hết phải tôn trọng và hành động
theo các chuẩn mực văn hóa.
Văn hóa kinh doanh là một bộ phận, là cái đặc thù so với văn hóa chung của dân
tộc. Vì vậy không thể đồng nhất văn hóa kinh doanh với nền văn hóa dân tộc cũng như
không thể không phân biệt các đặc thù mà các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh khác tạo
ra.
Văn hóa của một cá nhân, một tổ chức cũng có cái đặc thù, có những điểm riêng
so với cá nhân, tổ chức khác trong cùng dân tộc và đương nhiên sự khác biệt này càng

lớn nếu họ thuộc vào những nền văn hóa dân tộc khác nhau. Mỗi thời đại phát triển khác
nhau của lực lượng sản xuất làm cho những nhu cầu tiêu dùng cũng khác nhau. Theo nhà
nghiên cứu Đỗ Huy: "Bản chất của văn hóa kinh doanh là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ
với cái đúng, cái tốt, cái đẹp" [19, tr. 211]. Vì lý do đó người ta nói kinh doanh có văn
hóa bao chứa cả trí tuệ của nhà triết học, lòng dũng cảm của người lính và tài năng của
nhà nghệ sĩ.
Để cái lợi gắn với cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong kinh doanh nhằm thỏa mãn có

làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước, tạo lòng tin (chữ "tín") vững chắc, ổn định đối với
khách hàng trong và ngoài nước.
1.3. Những tác động của kinh tế thị trường tới hoạt động kinh doanh xuất
bản phẩm
1.3.1. Thị trường và cơ chế thị trường
- Thị trường: Thị trường là phạm vi của lĩnh vực trao đổi, mua bán, nhờ đó mà
các chủ thể kinh tế cạnh tranh nhau trong việc xác định giá cả hàng hóa, giá cả dịch vụ và
sản lượng nhằm tiêu thụ hàng hóa, nắm bắt các yêu cầu tiêu dùng, từ đó tiếp tục sản xuất
những mặt hàng quen thuộc hoặc đưa ra những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu, thị
hiếu của người tiêu dùng và xã hội. Thị trường tồn tại một cách khách quan và gắn liền
với sản xuất hàng hóa.
Khái niệm thị trường đã trải qua quá trình phát triển lâu dài. Từ khi con người
biết cách sản xuất ra sản phẩm để trao đổi sao cho có lợi cho mình thì khái niệm thị
trường xuất hiện.
Đầu tiên trong nền văn minh nông nghiệp người ta gọi thị trường là "chợ" - nơi
trao đổi hàng hóa. Khái niệm chợ gắn với một địa điểm trao đổi hàng hóa nhất định mang
tính địa phương, khu vực. Hàng hóa được đem trao đổi chủ yếu là hàng nông sản và tư
liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp. Chủ thể của chợ là nông dân và những nhà sản xuất

hàng hóa nhỏ. Do lực lượng sản xuất còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, cá nhân gắn
chặt với cộng đồng, nên lợi ích của mỗi cá nhân dựa trên lợi ích cộng đồng. Trong quá
trình trao đổi, người ta lấy công làm lãi và coi đó là chuẩn mực mang tính đạo đức của thị
trường văn minh nông nghiệp. Như vậy khái niệm thị trường xuất hiện chậm hơn khái
niệm "chợ".
Trong nền văn minh công nghiệp, sản xuất hàng hóa phát triển mạnh mẽ, quan hệ
trao đổi được mở rộng hơn và vì thế khái niệm thị trường càng được mở rộng. Từ chỗ thị
trường là địa điểm trao đổi hàng hóa cụ thể, nó trở thành một lĩnh vực trao đổi hàng hóa
mang tính xã hội, biểu hiện mối quan hệ kinh tế, mối quan hệ giữa người và người, là nơi
gặp gỡ giữa cung và cầu. Theo Philip G.Altbach thì thị trường, trong nghĩa đơn giản của
nó là "tập hợp những người mua hàng hiện có và sẽ có" [31, tr. 21].

xuất riêng (trình độ kỹ thuật, trang thiết bị kỹ thuật, tổ chức quản lý để sản xuất ra một
loại hàng hóa, và mỗi loại hàng hóa thường có chi phí khác nhau gọi là chi phí cá biệt).
Nhưng khi đưa ra thị trường loại hàng hóa đó chỉ có thể bán theo một giá trị có tính chất
trung bình hay theo một chi phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa. Người
nào có chi phí cá biệt nhỏ hơn chi phí trung bình của xã hội thì có lãi, ngược lại người
nào có chi phí cá biệt lớn hơn chi phí trung bình thì lỗ, thậm chí mất vốn hoặc phá sản.
Quy luật giá trị có tác dụng điều tiết việc phân phối sản phẩm tư liệu sản xuất và
sức lao động xã hội vào các ngành khác nhau thông qua quy luật cung - cầu trên thị
trường. Điều tiết lưu thông hàng hóa từ nơi giá bán thấp đến nơi giá bán cao kích thích
ứng dụng kỹ thuật mới cải tiến quản lý, tăng năng suất lao động, phân hóa người sản
xuất, đào thải sự yếu kém kích thích phát triển tài năng.
- Quy luật cung - cầu: Là một quy luật của sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị
trường.
Cầu là nhu cầu của xã hội được đảm bảo bằng lượng tiền tương ứng hay còn gọi
là nhu cầu có khả năng thanh toán. Còn cung là tổng số hàng hóa có trên thị trường hoặc
có khả năng cung cấp cho thị trường.

Cung và cầu có quan hệ mật thiết với nhau và thường xuyên tác động lẫn nhau,
đồng thời chúng có quan hệ trực tiếp đến giá cả. Nếu mặt hàng nào đó mà cung lớn hơn
cầu thì khó tiêu thụ, giá cả giảm và do đó sản xuất bị thu hẹp. Khi đó người ta cần giảm
dần việc sản xuất loại mặt hàng đó hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác. Nếu cung
nhỏ hơn cầu thì hàng bán chạy giá cả tăng, sản xuất mở rộng, làm tăng khối lượng. Khi
đó một số người trước đây chưa sản xuất mặt hàng này thì nay chuyển sang sản xuất mặt
hàng đó, vì nó đang có nhu cầu lớn và thu được lợi nhuận cao hơn.
Như vậy quy luật cung - cầu cùng với quy luật giá trị có vai trò điều tiết các tỷ lệ
cân đối giữa các ngành làm cho sản xuất gắn liền với tiêu dùng hơn. Tuy nhiên, sự hoạt
động của chúng diễn ra tự phát thường gây nhiều hậu quả tiêu cực, như lãng phí của cải
xã hội, kích thích thị hiếu tiêu dùng xa thực tế. Trong chủ nghĩa xã hội các quy luật này
được vận dụng có ý thức nhằm kích thích sản xuất phát triển và hạn chế tác động tiêu cực
của chúng.

dẫn nhiều hơn là định lượng, các chỉ tiêu Nhà nước chỉ dừng lại như là các chương trình mục
tiêu toàn ngành, định hướng phát triển của ngành. Cơ chế cũ vì thế đã dẫn tới nguy cơ quan
liêu hóa hoạt động xuất bản, bởi lẽ các đề tài, mục tiêu xuất bản không xuất phát từ việc nắm
bắt nhu cầu thực sự của quần chúng, mà chỉ xuất phát từ ý đồ chiến lược, từ phương hướng
công tác tư tưởng trong mỗi thời kỳ. Những người làm công tác biên tập xuất bản không phát
huy được tính chủ động sáng tạo trong việc tìm chọn, phát hiện đề tài nảy sinh từ cuộc sống
thực tế; tạo thói quen ỷ lại, dựa dẫm vào các cấp lãnh đạo quản lý Cơ chế thị trường buộc
những người làm xuất bản phải nắm vững nhu cầu của thị trường. Nhu cầu đó chính là đòi
hỏi thực tế của cuộc sống, từ đó họ đề xuất được những đề tài thiết thực mang lại hiệu quả
thực tế to lớn.
Trong cơ chế cũ, Nhà nước quản lý và phân phối mọi nguồn lực sản xuất, kinh
doanh của xuất bản như tiền vốn, kho giấy, máy móc, thiết bị in (nhân bản), các trung
tâm PHS. Việc tổ chức sản xuất của các đơn vị xuất bản hoàn toàn phụ thuộc vào sự phân

Trích đoạn Hoạt động liên doanh, liên kết Công tác xây dựng đời sống văn hóa Công tác chính trị tư tưởng, xây dựng đạo đức, lối sống phát triển văn hóa thông tin trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phương hướng xây dựng và phát huy văn hóa kinh doan hở côngty phát hành sách hà nộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status