LUẬN VĂN:
Đổi mới hoạt động tín dụng đầu tư phát
triển của Nhà nước tại Chi nhánh Ngân
hàng Phát triển Thanh Hoá
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tín dụng đầu tư phát triển (ĐTPT) của Nhà nước là một hình thức tín dụng đặc biệt,
trong đó Nhà nước thực hiện tín dụng không vì mục đích lợi nhuận mà hướng tới hiệu quả
và công bằng của nền kinh tế quốc gia. ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tín dụng ĐTPT của Nhà nước cũng từng
bước được cải cách. Một trong các hướng cải cách đó là thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển
(Quỹ HTPT) và sau đó là Ngân hàng phát triển (NHPT) Việt Nam. Trong hơn 8 năm hoạt
động, tổ chức này đã đóng góp tích cực vào triển khai các dự án phát triển kinh tế thuộc
các lĩnh vực, các ngành, các vùng mà Nhà nước ưu tiên. Thực tiễn hoạt động của NHPT
dân, năm 2003.
- Nguyễn Gia Thế“Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng
ĐTPT của Nhà nước qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển”, Luận văn thạc sĩ kinh tế,
Tr−ờng Đại học Th−ơng mại, năm 2004.
- Lê Thị Định Hương,“Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng ĐTPT tại Quỹ Hỗ trợ
phát triển TP.HCM”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, năm
2004.
- Trần Thị Mỹ Hạnh (2003), Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng nhà nước qua Quỹ
Hỗ trợ phát triển, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng.
Các công trình nghiên cứu trên có đề cập đến quản lý, nâng cao hiệu quả, chất
lượng tín dụng trong hoạt động của hệ thống Quỹ HTPT/NHPT; đã tiếp cận và giải quyết
nhiều nội dung về hiệu quả tín dụng, chất lượng tín dụng của NHPT. Tuy nhiên, trên địa
bàn tỉnh Thanh Hoá và ở Chi nhánh NHPT Thanh Hoá chưa có đề tài nào nghiên cứu về
vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt
động tín dụng ĐTPT của Nhà nước, tìm và đề xuất giải pháp đổi mới hoạt động này ở Chi
nhánh NHPT Thanh Hoá trong thời gian tới.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: - Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng ĐTPT của
Nhà nước.
- Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng ĐTPT của Chi nhánh NHPT Thanh Hoá
qua hơn 2 năm từ khi thành lập và 6 năm hoạt động của Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ phát triển
Thanh Hoá (tiền thân của Chi nhánh NHPT Thanh Hoá), qua đó chỉ ra những kết quả đạt
được, những hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đổi mới hoạt động tín dụng ĐTPT
của Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Thanh Hoá trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
1.1. khái niệm, đặc điểm, vai trò Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
a. Khái niệm đầu tư
Đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt động kinh tế nhằm
thu lại một lượng giá trị lớn hơn sau một khoảng thời gian xác định. Đầu tư có hai đặc
trưng cơ bản là tính sinh lợi và thời gian kéo dài. Tính sinh lợi là đặc trưng hàng đầu của
đầu tư. Không thể coi là đầu tư nếu việc sử dụng tiền vốn không nhằm mục đích thu lại
một khoản tiền có giá trị lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra ban đầu. Đặc trưng thứ hai của đầu tư
là chỉ có thể thu hồi giá trị ứng ra sau thời gian khá dài nên thường gánh chịu nhiều rủi ro.
Có nhiều hình thức đầu tư như đầu tư phát triển, đầu tư chuyển dịch; đầu tư ngắn hạn,
đầu tư trung và dài hạn; đầu tư vào lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá…Chủ đầu tư có thể
đầu tư bằng nguồn vốn chủ sở hữu hoặc bằng nguồn vốn đi vay.
b. Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là loại đầu t− nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng
năng lực sản xuất kinh doanh và năng lực hoạt động của xã hội. ĐTPT là điều kiện chủ
yếu để tạo việc làm, cải thiện chất lượng sống của ng−ời dân trong xã hội. ĐTPT thường
thể hiện dưới các hình thức bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ
tầng, mua sắm lắp đặt trang thiết bị, bồi d−ỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi
phí th−ờng xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì năng lực hoạt
động và tạo năng lực mới cho nền kinh tế.
ĐTPT khác biệt với các loại hình đầu t− khác ở chỗ:
- Đòi hỏi một số vốn lớn, khó thu hồi do mục tiêu chủ yếu là đầu t− vào tài sản cố
định (TSCĐ).
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu t− từ khi bắt đầu đến khi các thành quả
của nó phát huy tác dụng th−ờng kéo dài nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra. Do
đó, hoạt động ĐTPT không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu
- Tính vĩ mô: tín dụng ĐTPT của Nhà nước ảnh hưởng như thế nào đến các lĩnh vực then
chốt, đến ngành, vùng, hay khu vực… của nền kinh tế quốc gia?
- Tính vi mô: tín dụng ĐTPT của Nhà nước giúp các chủ thể kinh tế, các nhóm dân
cư cải thiện chất lượng hoạt động như thế nào? Tính vi mô còn thể hiện ở hiệu quả hoạt
động của các tổ chức quản lý và thực thi tín dụng ĐTPT của Nhà nước.
- Tính xã hội: tín dụng ĐTPT của Nhà nước hỗ trợ như thế nào các lĩnh vực mà tín
dụng thương mại với mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận có thể không giải quyết được (do hiệu
quả trực tiếp của nhà đầu tư không được đảm bảo, hoặc qui mô nguồn vốn quá lớn, hay
thời gian thu hồi vốn đầu tư quá dài) nhưng có vai trò quan trọng đối với xã hội và đất
nước như giải quyết việc làm cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, điều chỉnh cơ cấu
kinh tế, phát triển kinh tế vùng,
- Tính chính trị: tín dụng ĐTPT của Nhà nước hỗ trợ thực thi các chương trình của
Nhà nước như thế nào và đặc biệt là góp phần ra sao trong củng cố sức mạnh xã hội, củng
cố lòng tin của dân chúng vào Đảng và Nhà nước
Ngoài ra, ở các n−ớc đang phát triển, khi thị tr−ờng vốn còn ch−a hoàn thiện, việc
huy động đ−ợc đủ vốn dài hạn để tài trợ cho các dự án phát triển là điều không hề đơn
giản. Do vậy, tín dụng ĐTPT của Nhà n−ớc còn phải hỗ trợ thị trường thông qua bảo lãnh
cho các chủ thể vay vốn. Quy mô tín dụng ĐTPT của Nhà nước phụ thuộc vào sức mạnh
tài chính nhà nước. Đối với các Nhà nước đang chịu gánh nặng thâm hụt ngân sách thì quy
mô tín dụng ĐTPT của Nhà nước khá hạn hẹp.
1.1.2. Các hình thức tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Tín dụng ĐTPT của Nhà n−ớc bao gồm các hình thức: cho vay đầu t−, bảo lãnh tín
dụng đầu t− và hỗ trợ sau đầu t− [19].
a. Cho vay đầu t−
Cho vay đầu tư là việc tổ chức được giao nhiệm vụ cung ứng tín dụng ĐTPT của Nhà
n−ớc cho các chủ đầu t− vay vốn theo chính sách của Nhà nước để họ thực hiện các dự án
đầu t− phát triển. Cho vay đầu tư với tư cách tín dụng ĐTPT của Nhà nước có các tính
chất sau:
- Thời hạn bảo lãnh, số vốn bảo lãnh và điều kiện bảo lãnh đ−ợc xác định t−ơng tự
nh− đối với cho vay đầu t− trên cơ sở thoả thuận của các bên. Tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro
của dự án, bên đi vay (chủ đầu t−) có thể phải có tài sản bảo đảm cho bảo lãnh.
- Chủ đầu t− phải trả phí bảo lãnh cho tổ chức bảo lãnh.
- Tr−ờng hợp tổ chức bảo lãnh phải trả nợ thay cho bên đi vay thì sau khi trả nợ thay,
tổ chức bảo lãnh đ−ợc quyền tiếp nhận khoản tín dụng đó và bên đi vay phải nhận nợ với
tổ chức bảo lãnh, tổ chức bảo lãnh khi đó đ−ợc quyền thực hiện các biện pháp để thu hồi
vốn theo thoả thuận ban đầu đã ký và quy định của pháp luật.
c. Hỗ trợ sau đầu tư
Hỗ trợ sau đầu tư là việc tổ chức thực hiện tín dụng ĐTPT của Nhà n−ớc hỗ trợ một
phần lãi suất cho chủ đầu t− vay vốn của các tổ chức tín dụng để đầu t− dự án, sau khi dự
án đã hoàn thành đ−a vào sử dụng và trả đ−ợc nợ vay. Đây là hình thức trợ cấp bằng tiền
cho các doanh nghiệp, không có ràng buộc về trách nhiệm giữa doanh nghiệp và tổ chức
thực hiện tín dụng ĐTPT của Nhà n−ớc.
Nguồn vốn thực hiện cấp hỗ trợ sau đầu tư đ−ợc NSNN cấp. Tổ chức thực thi chịu trách
nhiệm thẩm tra hồ sơ dự án đảm bảo đúng quy định, đã hoàn thành đ−a vào khai thác sử dụng
và đã trả đ−ợc nợ vay cho các tổ chức đã cho vay.
1.1.3. Đặc điểm tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Là một loại hình tín dụng trong hệ thống tín dụng của nền kinh tế quốc dân, tín dụng
ĐTPT của Nhà nước cũng mang những đặc điểm vốn có của tín dụng nói chung (quan hệ
ba bên trong đó tổ chức tín dụng đóng vai trò trung gian giữa người có tiền tạm thời nhàn
dỗi và người có nhu cầu sử dụng tiền; quan hệ tài chính dựa trên sự tín nhiệm; quan hệ
nhượng quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định; lãi suất là giá của quyền sử dụng
tiền theo thời gian…). Tuy nhiên, do được tổ chức thực hiện bởi các cơ quan được Nhà
nước uỷ quyền nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của Nhà nước, đồng thời lại
hướng đến đối tượng phục vụ là hoạt động ĐTPT, nên tín dụng ĐTPT nhà nước mang
những đặc trưng riêng, phản ánh sự đan xen giữa đặc điểm của tín dụng và đặc điểm của
sử dụng NSNN. Những đặc trưng này là:
- Nhà nước can thiệp vào các quyết định tín dụng
vay ĐTPT cũng được Nhà nước quyết định và thông báo trong từng thời kỳ. Do thực hiện chính sách phát triển kinh tế theo mục tiêu của Chính phủ nên hoạt
động tín dụng ĐTPT của Nhà nước được Chính phủ hỗ trợ mạnh mẽ về nguồn vốn thông
qua việc cấp vốn trực tiếp hoặc hỗ trợ trong huy động vốn. Đây là một đặc điểm hết sức
quan trọng và khác biệt so với tín dụng của các NHTM. Sự hậu thuẫn này có tác dụng
nâng cao vị thế của tổ chức thực thi tín dụng ĐTPT của Nhà nước và tạo điều kiện tiếp cận
thuận lợi các nguồn vốn với lãi suất thấp.
- Ưu đãi về khối lượng, thời hạn và lãi suất
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước hàm chứa sự ưu đãi của Nhà nước đối với các đối
tượng thụ hưởng. Sự ưu đãi của Nhà nước có thể được thể hiện trên phương diện khối
lượng, thời hạn và lãi suất cho vay. Cụ thể:
+ Về khối lượng: Các dự án ĐTPT thuộc đối tượng vay vốn tín dụng ĐTPT có thể
được Nhà nước cho vay một số lượng vốn rất lớn theo ý chí của Nhà nước, không bị ràng
buộc bởi các giới hạn về tỷ lệ an toàn như trong tín dụng của ngân hàng thương mại.
+ Về thời hạn: Các dự án vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước thường được hưởng
thời hạn rất dài, có thể lên đến 10 - 15 năm hoặc dài hơn; thời kỳ ân hạn đối với các dự án
vay vốn tín dụng ĐTPT nhà nước cũng thường dài hơn so với tín dụng của ngân hàng
thương mại. Đặc điểm này của tín dụng ĐTPT nhà nước xuất phát từ đặc trưng của các dự
án ĐTPT là có thời gian thực hiện và thu hồi vốn kéo dài và cũng chính do đặc điểm này
nên hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nước có mức độ rủi ro cao.
- Về lãi suất vay vốn: Về cơ bản, lãi suất cho vay trong tín dụng ĐTPT của Nhà nước
thường thấp hơn so với tín dụng của ngân hàng thương mại. Đặc điểm này xuất phát từ
mục đích phi lợi nhuận của tín dụng ĐTPT của Nhà nước. Hơn nữa, do Nhà nước có thể
huy động vốn của các chủ thể khác trong xã hội với lãi suất thấp nên có thể cho vay với lãi
suất ưu đãi.
- Tính giới hạn về đối tượng và hình thức thực hiện
Đối tượng vay vốn tín dụng ĐTPT nhà nước thường bị giới hạn trong phạm vi hẹp và
có thể thay đổi qua các thời kỳ khác nhau tuỳ theo điều kiện thực tế của nền kinh tế, khả
NSNN.
Mặt khác, do phải hoàn trả số vốn vay (cả gốc và lãi) nên chủ đầu tư phải cân nhắc
kỹ lưỡng trong việc lựa chọn phương án đầu tư có khả năng sinh lời cao, đồng thời tìm
cách giảm thiểu chi phí đầu tư bằng cách cắt giảm những khoản chi không cần thiết. Điều
đó cũng có nghĩa là việc tài trợ cho các dự án thông qua tín dụng ĐTPT góp phần hạn chế tình trạng dàn trải, thất thoát, lãng phí trong đầu tư, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư.
Hơn nữa, do nhu cầu chi của NSNN để duy trì hoạt động bình thường của bộ máy
nhà nước, đảm bảo quốc phòng, an ninh và phát triển KT-XH không ngừng tăng trong khi
nguồn thu NSNN lại bị hạn chế và tăng chậm, nên ở hầu hết các quốc gia đều xảy ra tình
trạng thâm hụt NSNN, cho dù quốc gia đó là một nước giàu, có nền kinh tế phát triển hay
là một nước nghèo, chậm phát triển. Đối với các nước đang phát triển, thâm hụt NSNN
càng trầm trọng và phổ biến hơn bởi ngân sách của các nước này luôn ở trong tình trạng
thu không đủ chi do nền kinh tế kém phát triển, trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật của nền
kinh tế lại nhỏ bé, lạc hậu nên Nhà nước cần phải tài trợ một lượng vốn ĐTPT rất lớn. Để
giải quyết nhu cầu về số vốn ĐTPT còn thiếu hụt, hầu hết các quốc gia đều lựa con đường
đi vay như là một cứu cánh cho NSNN. Điều này đã giúp giải thích khía cạnh thứ hai trong
sự cần thiết của tín dụng ĐTPT của Nhà nước - đó là Nhà nước phải đi vay để ĐTPT.
b. Tín dụng ĐTPT của Nhà nước là công cụ thực hiện chức năng của Nhà nước trong
việc khắc phục các khiếm khuyết của kinh tế thị trường.
Mặc dù kinh tế thị trường là bước phát triển cao của nền kinh tế sản xuất hàng hoá
với rất nhiều điểm ưu việt nhưng bên cạnh đó nó cũng có khá nhiều khiếm khuyết mà bất
cứ quốc gia nào trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường cũng đều phải đối mặt như
ô nhiễm môi trường, tình trạng phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội, phát triển không cân
đối giữa các vùng miền… Để khắc phục những khiếm khuyết này, Nhà nước có thể sử dụng
nhiều công cụ (thuế, chi NSNN, tín dụng ĐTPT nhà nước…) trong việc điều tiết, phân bổ các
nguồn lực, đảm bảo cho các vùng, các ngành, hoặc thành phần kinh tế phát triển một cách
đồng đều, trong đó tín dụng ĐTPT được sử dụng như là công cụ chủ yếu để tài trợ cho các dự
thành một nước công nghiệp phát triển. Nội dung trọng tâm của quá trình này là xây dựng
cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh tế mà trong đó chủ yếu là xây dựng các công trình
kết cấu KT-XH và phát triển các ngành công nghiệp quan trọng, đưa công nghiệp trở thành
ngành giữ vai trò chủ đạo và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế.
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước là công cụ quan trọng để Nhà nước tài trợ cho các dự
án ĐTPT nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH (giao thông, điện lực, thông tin, thuỷ lợi,
cấp - thoát nước…) và phát triển các ngành công nghiệp then chốt (cơ khí, điện tử - viễn
thông, công nghệ sinh học, vật liệu mới…), do đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Mặt khác, việc tập trung nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước cho xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại và phát triển các ngành công nghiệp then
chốt, có khả năng đi tắt đón đầu cũng là nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó góp phần
đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế.
e. Tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần tạo việc làm cho người lao động, giữ
vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, việc giải quyết việc làm là vấn đề hết sức quan trọng được
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Tín dụng ĐTPT của Nhà nước với mục đích là hỗ trợ
các dự án ĐTPT của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng,
chương trình kinh tế lớn, các lĩnh vực mà không có sự ưu đãi đầu tư của Nhà nước thì sẽ
không phát triển được, hoặc các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà ít có hiệu quả kinh tế
trực tiếp. Do đó, khi thực hiện ĐTPT sản xuất tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn và đặc biệt khó khăn như: các tỉnh miền núi, biên giới hải đảo, vùng sâu, vùng xa
hoặc các ngành nghề thuộc diện khuyến khích ưu đãi đầu tư của Nhà nước đối với các
thành phần kinh tế, ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế là thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng thu
ngân sách, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế…còn góp phần tạo thêm nhiều việc làm
cho người lao động, giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội. Ví dụ như thông qua
cho vay chương trình mía đường của Chính phủ, tín dụng ĐTPT của Nhà nước không chỉ
góp phần giảm nhập khẩu đường mà còn tạo việc làm cho trên 470.000 nông dân ở các
vùng nông thôn, miền núi; cho vay chương trình đánh cá xa bờ của Chính phủ, ngoài ý
thủ tục, thao tác thừa, chuẩn hoá công việc, nhờ đó giảm chi phí, nâng cao chất lượng hoạt
động này, mà còn giúp Nhà nước dễ dàng kiểm soát vốn và hiệu quả sử dụng vốn nhà
nước. Bởi vì NHPT Việt Nam không cung cấp tín dụng thương mại nên sẽ dễ dàng trong
việc kiểm soát mục đích sử dụng vốn giao cho ngân hàng. Mặt khác, các quy trình, chế độ,
định mức hoạt động ở NHPT Việt Nam có thể được chuẩn hoá dưới sự phê chuẩn của Nhà
nước nên không gặp rủi ro do khó tách biệt các hoạt động như ở ngân hàng thương mại.
Thứ hai, NHPT Việt Nam giúp Nhà nước thực thi các chính sách hỗ trợ các chủ đầu tư
một cách chuyên nghiệp. Một số trong những hoạt động chính của NHPT Việt Nam được Nhà
nước uỷ quyền là cung cấp các hình thức hỗ trợ sau đầu tư cho các tổ chức kinh tế thông qua
hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng. Nếu giao các nhiệm vụ này cho các ngân hàng thương mại
quốc doanh thì dễ dẫn đến sự lẫn lộn giữa kết quả kinh doanh và kết quả thực thi nhiệm vụ
Nhà nước giao. Nhiều ngân hàng thương mại quốc doanh có thể kêu ca về sự can thiệp của
Nhà nước hoặc biện hộ cho kết quả thua lỗ trong kinh doanh. Tách các hoạt động hỗ trợ ra khỏi hoạt động kinh doanh ngân hàng của Nhà nước và giao nó cho một tổ chức chuyên môn
hoá là NHPT Việt Nam sẽ có lợi trên các mặt:
- Nhà nước có thể hạch toán riêng hoạt động hỗ trợ để dễ dàng đánh giá hiệu quả của
nó, từ đó có phương hướng, quyết định chính xác.
- Nhờ chuyên môn hoá, NHPT Việt Nam có thể hoàn thiện quy trình hỗ trợ theo
hướng giảm chi phí, nâng cao chất lượng, gắn bó với mục tiêu của Nhà nước hơn.
- Nhà nước dễ kiểm soát nguồn lực dùng để hỗ trợ, để cấp tín dụng, từ đó có thể so
sánh lựa chọn hình thức tác động hiệu quả hơn.
Thứ ba, NHPT Việt Nam giúp Nhà nước quản lý và huy động tốt hơn nguồn lực
nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH. Nhà nước thường có các nguồn huy động
vốn lãi suất thấp hoặc được tài trợ cho không. Nếu giao cho các ngân hàng thương mại
quốc doanh đảm nhiệm thì dễ rất đến sự phản đối từ phương diện bao cấp và phân biệt đối
xử. Trong khi đó Nhà nước rất cần cung cấp nguồn vốn đó cho ĐTPT đất nước. Bằng cách
giao cho NHPT Việt Nam quản lý và sử dụng cho vay theo chính sách không nhằm mục
đích thương mại, Nhà nước vừa có thể sử dụng nguồn vốn một cách chuyên nghiệp, vừa có
xem xét ở hiệu quả cá biệt từng dự án mà phải được xem xét trên bình diện nền kinh tế
quốc dân. Đối với nền kinh tế quốc dân, hiệu quả của tín dụng ĐTPT là khoản tín dụng đó
phải có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển KT-XH của đất nước. Đối với NHPT Việt
Nam, hiệu quả của tín dụng ĐTPT của Nhà nước chỉ có thể thực hiện được thông qua hoạt
động hiệu quả của bản thân ngân hàng, tức NHPT Việt Nam thu được nợ gốc và lãi đúng
hạn. Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của NHPT Việt Nam là việc NHPT Việt Nam
cùng các đối tượng khác trong quan hệ tín dụng và các cơ quan chức năng chủ động tìm ra
giải pháp để bên cho vay hạn chế tới mức thấp nhất nợ quá hạn phát sinh, hạn chế rủi ro và
bảo toàn được nguồn vốn, đồng thời hỗ trợ bên đi vay vốn sản xuất kinh doanh sử dụng
vốn vay có hiệu quả, có lợi nhuận càng cao càng tốt và hoạt động của các dự án đó sẽ góp
phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH của đất nước.
Nh− vậy, áp dụng nguyên tắc hiệu quả trong hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà n−ớc
tại NHPT Việt Nam là hoạt động tín dụng phải hướng tới một tập hợp các lợi ích mang lại
cho nền kinh tế và các chủ thể tham gia, bao hàm cả khía cạnh kinh tế và xã hội xét trên
ph−ơng diện vĩ mô và vi mô; cả hiệu quả đối với nền kinh tế, đối với tổ chức thực hiện tín
dụng ĐTPT của Nhà n−ớc và đối với các doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng ĐTPT của
Nhà n−ớc. b. Huy động và sử dụng vốn theo quy định của Nhà nước
Vốn cho vay theo chính sách của nhà nước thường có lãi suất ưu đãi nên nguồn vốn huy
động cũng phải có lãi suất thấp hoặc phải được Nhà nước bù đắp chênh lệch lãi suất. Vì
NSNN không dư dả nên Chính phủ phải kiểm soát chặt tổng khối lượng vốn có thể đem cho
vay cũng như tổng lượng bù chênh lệch lãi suất. Do đó, ngoài vốn Nhà nước cấp, vốn viện trợ,
ủy thác, khối lượng vốn huy động, hình thức huy động của NHPT Việt Nam phải được Nhà
nước phê chuẩn.
NHPT Việt Nam chỉ được cho vay các đối tượng được Nhà nước quy định. Cụ thể,
theo Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín
dụng xuất khẩu của Nhà nước thì hiện tại NHPT Việt Nam chỉ được cho vay ĐTPT đối với
các dự án thuộc ngành nghề, lĩnh vực sau [19]:
Phát triển
a. Xác định nguồn vốn cho vay đầu tư phát triển
Nguồn vốn NHPT Việt Nam được phép sử dụng để cho vay đầu tư là:
- Vốn điều lệ. Hiện tại NHPT Việt Nam có 10.000 tỷ đồng nhưng phải cân đối cho cả
ba nhiệm vụ là cho vay đầu tư trong nước, cho vay nước ngoài và tín dụng hỗ trợ xuất
khẩu. Mặc dù NHPT Việt Nam không phải dự trữ bắt buộc như các ngân hàng thương mại,
nhưng so với nhu cầu, vốn điều lệ của ngân hàng còn quá nhỏ bé.
- Vốn NSNN cấp cho các chương trình, mục tiêu của Chính phủ. Nguồn vốn này có
ưu thế ổn định được kế hoạch hoá chặt chẽ nhưng việc giải ngân không những phụ thuộc
vào khả năng chi trả theo thời điểm của NSNN, mà còn phụ thuộc vào tiến độ triển khai
thực hiện chương trình của đối tượng vay vốn. Hơn nữa, nguồn vốn này chỉ được cho vay
theo mục đích hẹp, nhiều chương trình thực hiện không hiệu quả nên NHPT Việt Nam
cũng chịu hậu quả theo.
- Vốn huy động. Chính phủ cho phép NHPT Việt Nam được phát hành trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu NHPT Việt Nam, kỳ phiếu,
chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn tài trợ cho hoạt động cho vay. Ngoài trái phiếu Chính
phủ và trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh có khối lượng lớn, các hình thức huy động qua
NHPT Việt Nam thường không mang lại kết quả mong đợi do lãi suất huy động thấp.
- Vốn vay các tổ chức tài chính của Nhà nước như Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu
điện, Bảo hiểm xã hội. Các khoản vay này khá lớn do NHPT Việt Nam được Nhà nước bảo trợ nên là đối tượng đi vay có tín nhiệm cao. Ngoài ra, NHPT Việt Nam có thể vay các
tổ chức tài chính khác nhưng khối lượng hạn chế.
b. Điều kiện cho vay vốn [19]
* Đối với dự án: NHPT Việt Nam chỉ cho vay các dự án đủ điều kiện sau:
- Thuộc danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư theo quy định hiện hành của
Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước nhưng chưa được bảo lãnh tín dụng đầu tư
hoặc hỗ trợ sau đầu tư.
- Được lập và trình duyệt theo quy trình hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng.
ngân theo cam kết và thực hiện giám sát sử dụng vốn vay đúng mục đích.
f. Quyết toán, thu nợ và lãi vay
Khi hạng mục công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, chủ đầu tư phải lập báo cáo
quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy
định của Bộ Tài chính. NHPT Việt Nam kiểm tra, xác nhận tổng số vốn tín dụng ĐTPT
của Nhà nước đã cho vay, số dư nợ và số lãi phát sinh gửi cấp có thẩm quyền phê duyệt
báo cáo quyết toán đầu tư.
NHPT Việt Nam thu nợ và lãi theo hợp đồng tín dụng. Nếu trả chậm, chủ đầu tư phải
chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay [19].
g. Xử lý rủi ro
Với nhiệm vụ tài trợ cho đầu tư các dự án phát triển thông qua các hình thức tín
dụng, NHPT Việt Nam phải đảm bảo an toàn về vốn và tín dụng, hạn chế thấp nhất các rủi
ro có thể xảy đến với hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt các mục tiêu, yêu cầu đối với
tín dụng ĐTPT của Nhà nước.
Trước hết NHPT Việt Nam phải phân loại và đánh giá các loại rủi ro khác nhau, bao
gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tài chính (hay rủi ro phá sản), rủi ro hệ
thống, rủi ro đạo đức, rủi ro pháp lý, rủi ro thị tr−ờng Thường NHPT Việt Nam quan tâm
đến các rủi ro sau:
* Rủi ro tín dụng
Đây là loại rủi ro thất thoát tài chính có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực
hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng, bao gồm cả việc không thực
hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay lãi khi khoản nợ đến hạn. Để tránh rủi ro này
cần thẩm định kỹ càng các dự án trước khi cho vay. * Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản xảy ra khi cung về tiền ít hơn cầu về tiền, rủi ro thanh khoản liên
quan đến khả năng huy động vốn, khả năng chuyển các tài sản tài chính thành tiền một
cách nhanh chóng mà không phải chịu tổn thất do nguyên nhân giá cả. Điều này cực kỳ
quan trọng vì hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà n−ớc đòi hỏi l−ợng vốn đầu t− lớn, khi
Mặc dù hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà n−ớc không vì mục đích lợi nhuận nh−ng
NHPT Việt Nam vẫn phải bảo tồn đ−ợc vốn của mình mới có nguồn vốn tái đầu t−, hạn
chế sự bao cấp của nhà n−ớc, phát triển hoạt động, thực hiện đắc lực hơn mục tiêu đã đề ra
cho tổ chức này. Trong những tr−ờng hợp thị tr−ờng biến động, lãi suất có thể biến động
mạnh, nếu chính sách lãi suất không đ−ợc điều chỉnh kịp thời thì hoạt động tín dụng ĐTPT
của Nhà n−ớc tại NHPT Việt Nam sẽ bị ảnh h−ởng rất mạnh. Nếu lãi suất tín dụng ĐTPT
của Nhà n−ớc quá thấp sẽ làm gia tăng áp lực về vốn, trong điều kiện khả năng huy động
vốn có hạn, sẽ dễ dẫn tới nguy cơ về thanh khoản. Ng−ợc lại, nếu lãi suất tín dụng ĐTPT
của Nhà n−ớc quá cao thì các khách hàng có thể sẽ tìm đến với các ngân hàng thương mại
thay vì đến với NHPT Việt Nam và nh− vậy mục tiêu đặt ra cho tổ chức này sẽ không
hoàn thành.
Bên cạnh đó, việc xác định chính sách tín dụng hợp lý về ph−ơng diện thời hạn vay,
tài sản bảo đảm… cũng có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động tín dụng của NHPT Việt
Nam. Đặc điểm của hoạt động này là cần l−ợng vốn lớn và dài hạn, nên nếu chính sách
về tài sản bảo đảm, thời hạn vay… không đ−ợc xác định phù hợp với đặc điểm của dự
án, lĩnh vực ngành nghề hoạt động của dự án thì sẽ dẫn đến các kết cục: Một là, các chủ
đầu t− không đáp ứng đ−ợc các điều kiện đặt ra (ví dụ: yêu cầu về tài sản bảo đảm v−ợt
quá khả năng…) và sẽ không triển khai đ−ợc dự án; Hai là, các điều kiện quá nới lỏng
dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ rủi ro tín dụng. Đồng thời, các chính sách về hạn chế tín dụng,
giám sát tín dụng nếu không đ−ợc xây dựng chặt chẽ, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn
sẽ dẫn tới những nguy cơ về rủi ro đạo đức, rủi ro tín dụng, tác động trực tiếp đến hiệu
quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà n−ớc…
1.2.4.2. Thực trạng nền kinh tế
* Môi tr−ờng chính trị
Môi tr−ờng chính trị xã hội có sự ảnh h−ởng rất lớn tới sự phát triển của bất kỳ doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế-xã hội nào trong xã hội. Trong tình hình chính trị không ổn định