LUẬN VĂN: Giải pháp mở rộng tín dụng ở Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn
Quảng Nam góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trên địa bàn
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế đất nước, tỉnh Quảng
Nam đến nay đã có những bước phát triển căn bản trên tất cả các mặt về đời sống, kinh tế -
xã hội, v.v Từ năm 2000 đến năm 2005: Tốc độ tăng GDP bình quân đạt 10,4%. Giá trị
sản lượng công nghiệp tăng bình quân gần 26%; dịch vụ tăng 14%; nông nghiệp tăng
4,3%. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP từ 25% (năm 2000) tăng lên 34% (năm 2005);
thúc đẩy nhanh quá trình CDCCKT của tỉnh. Thời gian qua, các TCTD trên địa bàn đã
cung ứng vốn đáng kể, nhưng vẫn chưa đáp ứng được so với tiềm năng và yêu cầu đặt ra
trong quá trình CDCCKT của điạ phương.
Từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Giải pháp mở rộng tín dụng ở Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Nam góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên
địa bàn" làm luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý chuyên ngành: Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng với sự CDCCKT là vấn đề hiện nay đang được
nhiều người quan tâm. Đã có một số công trình khoa học, bài viết được công bố với nhiều
cách tiếp cận khác nhau liên quan đến đề tài như:
- “Đổi mới hoạt động tín dụng ngân hàng nông nghiệp nhằm phát triển nông
nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” của tác giả Võ Văn Lâm - Luận án Thạc
sỹ khoa học kinh tế, Học viện CTQGHCM, Hà Nội,1999.
- “Đổi mới hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy chuyển dịch kinh tế trên
địa bàn tỉnh Nghệ An” của tác giả Hà Huy Hùng - Luận án thạc sỹ khoa học kinh tế, Học
viện CTQGHCM, Hà Nội,1999.
- "Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường" của tác giả Võ Văn Lâm -
Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện CTQGHCM, Hà Nội, 2003.
- “Hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở đồng bằng
sông Cửu Long” của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Kỷ yếu hội thảo khoa học, 2005.
- “Một số giải pháp tín dụng nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào khu công
nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc” của tác giả Hà Thạch - Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học
Đà Nẵng, 2005
- “Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng nam góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh” của TS. Võ Văn Lâm - Tạp chí Cộng
sản, số 7 (tháng 4/2006).
Các công trình khoa học có các cách tiếp cận khác nhau về vấn đề nghiên cứu.
Nhằm làm rõ hơn sự tác động của vốn tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy CDCCKT
CNH, HĐH.
- Làm rõ tác động của vốn tín dụng NHNo&PTNT với sự CDCCKT trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua, phát hiện và chỉ ra được những vướng mắc cần tháo gỡ
cũng như nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất các giải pháp thiết thực, có tính khả thi về mở rộng tín dụng ở
NHNo&PTNT Quảng Nam góp phần CDCCKT trên địa bàn.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
3 chương.
Chương 1
tác động của tín dụng ngân hàng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá 1.1. Cơ cấu kinh tế và yêu cầu về vốn cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1. Cơ cấu kinh tế và những nhân tố tác động tới việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế
1.1.1.1. Cơ cấu kinh tế
* Khái niệm cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu hay kết cấu là một phạm trù triết học, phản ánh cấu trúc bên trong của một
sự vật, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành
nên sự vật đó trong một thời gian nhất định. Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân (KTQD) là
tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế (các lĩnh vực sản xuất,
phân phối, trao đổi, tiêu dùng ); các ngành KTQD (công nghiệp, nông nghiệp, thương
nghiệp, giao thông vận tải, y tế, giáo dục ); các thành phần kinh tế ( nhà nước, tập thể, tư
nhân, tư bản ); các vùng kinh tế. Cơ cấu kinh tế (CCKT) là tổng thể các ngành, lĩnh vực,
bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối
ổn định hợp thành[14, tr 15]. Trong thực tiễn, các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ,
trình độ phát triển của phân công lao động trong nước và quốc tế; quy luật lợi thế tuyệt đối
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công
nghệ, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên cơ sở phát triển cao của công nghiệp và
tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội ở mức cao
nhất [14, tr 18]. Thực chất CDCCKT là làm biến đổi một nền kinh tế từ thấp đến cao,
từ không cân bằng đến cân bằng, đảm bảo vừa phát triển, vừa tăng trưởng nhanh, vừa
giải quyết vấn đề xã hội và phát triển con người toàn diện.
* Yêu cầu của chuyển dịch CCKT:
- Sử dụng tốt nhất lợi thế so sánh của quốc gia so với các nước khác trên thế giới (ví
dụ như Việt Nam có thế mạnh về du lịch phải tận dụng và phát triển tối đa ngành du lịch,
dịch vụ).
- Khai thác tối đa tiềm năng hiện có của quốc gia, vùng lãnh thổ trên cơ sở nguồn
tiềm lực sẵn có về tài nguyên, lao động nhưng phải chú trọng đến bảo vệ môi trường sinh
thái.
- CDCCKT góp phần tạo nên khối lượng tích luỹ ngày càng lớn trong toàn bộ nền
kinh tế xã hội của đất nước.
- CDCCKT phải đi đôi với việc phát triển và ổn định nền văn hoá xã hội.
- CDCCKT phải kết hợp kinh tế trong nước với kinh tế thế giới trên cơ sở hợp tác
và hội nhập.
1.1.1.2. Những nhân tố tác động tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự CDCCKT chịu sự tác động của rất nhiều các nhân tố kinh tế khách quan và chủ
quan.
- Trình độ phát triển của kinh tế thị trường:
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó nhu cầu của con người cần được thoả
mãn thông qua thị trường. Nhu cầu con người lại phụ thuộc vào việc nền kinh tế được phát
triển và chuyển dịch theo cơ cấu kinh tế như thế nào? Sản xuất cái gì? Sản xuất bằng công
nghệ gì và sản xuất cho ai? Trong nền “kinh tế chỉ huy tập trung”, các câu hỏi trên được
trả lời thông qua cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu và bao cấp gắn liền với một cơ
cấu kinh tế trì trệ, lạc hậu, kém năng động và thiếu hiệu quả. Khi nền kinh tế Việt nam
chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới thì câu trả lời
CDCCKT. Với dân số đông, người đến tuổi lao động nhiều thì nhu cầu lao động, nhu cầu việc
làm rất lớn tác động đến quy mô của CCKT khi bố trí trình độ cơ cấu kỹ thuật - công nghệ.
Hậu quả của chiến tranh, của CCKT cũ, làm hạn chế năng lực tích luỹ vốn trong nước sẽ là
nhân tố cản trở quá trình điều chỉnh khi chuyển dịch từ CCKT cũ sang CCKT mới
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ:
Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ diễn ra trên thế giới và trong nước có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến sự biến đổi CCKT của mỗi quốc gia. Trước hết, nó làm thay đổi vị trí
của các ngành trong nền KTQD do khoa học kỹ thuật và công nghệ làm thay đổi vai trò
của nguyên liệu, vai trò của lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó tiến bộ
khoa học kỹ thuật và công nghệ đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi cần có quan điểm mới
trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên trong quá trình CDCCKT thực hiện mục tiêu
CNH, HĐH ở nước ta.
- Tiết kiệm và đầu tư vốn:
Tiết kiệm và đầu tư vốn là phương tiện để khai thác các nhân tố tác động của: kinh tế
thị trường, điều kiện tự nhiên, tiềm lực kinh tế - xã hội và tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
nghệ phục vụ cho CDCCKT. Với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu, năng suất
lao động thấp, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp, đời sống nhân dân lao động vẫn còn ở
mức độ thấp dẫn đến khả năng tiết kiệm và đầu tư vốn chiếm trong GDP còn hạn hẹp. Vì vậy,
thực hiện tiết kiệm để đầu tư là điều cần đặt lên hàng đầu để nâng tỷ trọng huy động vốn đầu
tư trong GDP từ 20% trở lên [42]. Đồng thời huy động vốn nước ngoài qua các hình thức đầu
tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp để đáp ứng các nhu cầu trung dài hạn của nền kinh tế (nhất là
xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông liên lạc ). Ngoài ra một kênh huy động vốn không kém
phần quan trọng là việc huy động vốn thông qua hoạt động tín dụng phục vụ cho CDCCKT ở
nước ta.
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ VI về trước, theo tư
duy cũ với những quan niệm không đầy đủ về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ đã hình
thành và tồn tại CCKT kém năng động, trì trệ lạc hậu và kém hiệu quả; một nền kinh tế
đơn nhất về thành phần kinh tế không khai thác được tiềm năng của toàn xã hội cho công
cuộc phát triển. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đến
nước, ở từng vùng, từng địa phương, trong từng dự án kinh tế - xã hội. Xây dựng cơ
cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ. Giảm chi phí trung
gian, nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là các ngành,
lĩnh vực có sức cạnh tranh cao. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân" [9, tr
87-88].
Như vậy, để đảm bảo một nhịp độ tăng trưởng cao của toàn bộ nền kinh tế như
trên đã xác định phải có một nền tảng cơ sở hạ tầng hiện đại. Do đó cần thiết đầu tư
vốn xây dựng hệ thống đường giao thông, đường sắt, cầu cảng, sân bay, điện năng,
thông tin liên lạc đáp ứng cho nhu cầu sử dụng, phục vụ phát triển của toàn bộ nền
kinh tế. Đây là các dự án đầu tư cần rất nhiều vốn và công nghệ cao, chậm thu hồi vốn
(có những dự án thu hồi vốn sau hàng chục năm) nên các doanh nghiệp hoặc là không
có khả năng đầu tư hoặc không mạnh dạn đầu tư. Do vậy, chỉ có ngân hàng với chức
năng trung gian tài chính trong nền kinh tế mới có khả năng cung ứng.
-Xuất phát từ nhu cầu vốn của chính các ngành kinh tế trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá:
Bản thân các ngành kinh tế (mà chủ yếu là công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp)
muốn phát triển đều cần một quá trình tích tụ và tập trung vốn. Một đòi hỏi của chính
bản thân các ngành kinh tế là cần đầu tư để mở rộng và duy trì các nhà xưởng, thiết bị,
nhà hàng, khách sạn với số lượng vốn ngày càng tăng. Đặc biệt với những tính chất
đặc thù trong hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ thì mức đầu tư ngày càng cao.
Cũng chính từ đó đầu tư làm gia tăng năng suất các nguồn của cải của xã hội và tạo ra
mức sống cao hơn cho cá nhân, gia đình và bản thân các ngành kinh tế
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với yêu cầu vốn đầu tư cho công nghệ mới:
Như trên đã xác định, CDCCKT hợp lý là một phần của CNH, HĐH đất nước.
Kinh nghiệm cho thấy các nước có nền kinh tế kém phát triển, tích luỹ từ nội bộ nền
kinh tế thấp không thể có ngay một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại mà phải chuyển
dần từng bước bằng cách tận dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có ở trong nước, khơi thông
những lợi thế so sánh của nước mình, thực hiện CNH, HĐH đất nước trên cơ sở lấy
Mặc dù trong mấy năm gần đây, nước ta có những bước phát triển nhất định, song
nông nghiệp và nông thôn nước ta cho đến nay vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất
nhỏ, cơ sở vật chất - kỹ thuật còn nhiều mặt yếu kém, công nghệ còn lạc hậu, năng suất lao
động và năng suất cây trồng, vật nuôi còn thấp. Nông nghiệp nhiều vùng chưa thoát khỏi
tình trạng độc canh cây lúa; con giống và cây giống chưa đổi mới kịp nhu cầu thị trường.
Sản phẩm làm ra khó bán, trở thành nỗi lo của nông dân. Năng suất lao động, vật nuôi, cây
trồng và ngành nghề tăng chậm; thu nhập và sức mua của nông dân còn rất hạn hẹp; nông
nghiệp chưa trở thành thị trường rộng lớn cho sự phát triển công nghiệp.Trong bối cảnh
đó, không thể dừng lại ở sự đổi mới cơ chế kinh tế mà phải thông qua CNH, HĐH để
CDCCKT nông nghiệp nước ta.
Trong lĩnh vực công nghiệp, trình độ công nghệ còn lạc hậu; công nghiệp truyền
thống chậm được đổi mới; ngành công nghệ mới, mũi nhọn hầu như chưa có hoặc mới bắt
đầu; sản phẩm làm ra chưa đảm bảo chắc chắn đứng vững trên thị trường trong nước, nên
rất khó có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; vì vậy mà khó hội nhập với nền
kinh tế các nước trên thế giới và khu vực
Hệ thống kết cấu hạ tầng dịch vụ sản xuất kinh doanh và dịch vụ xã hội tuy có
những tiến bộ nhất định; song về trình độ còn rất thấp kém; nhất là đối với vùng núi, hải
đảo, vùng sâu, vùng xa so với các nước trong khu vực đã và đang cản trở sự hình thành và
phát triển kinh tế thị trường trong nước; cản trở việc mở rộng đầu tư của nước ngoài vào
Việt Nam.
Với điều kiện thuận lợi so với một số nước về tài nguyên, khí hậu và vị trí địa lý,
nhưng cho đến nay tiềm năng đó chưa được khai thác có hiệu quả. Do đó, muốn giải quyết
thực trạng này thì điều tiến quyết là vấn đề vốn đầu tư. Cần cung ứng vốn đầu tư cho các
ngành, các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để tạo ra được sự phát triển mới, sự
tăng trưởng tiến tới một CCKT hợp lý.
Ngoài ra để thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn
minh” theo định hướng XHCN đã chọn, đưa nước ta nhanh chóng vượt qua ngưỡng nghèo
nàn lạc hậu và tụt hậu trở thành nước có nền kinh tế phát triển đòi hỏi phải CDCCKT hợp
lý. Vì vậy để có thể đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, ngoài các giải pháp khác về mặt xã hội
cho vay và hoàn trả mà còn bao gồm cả quá trình sử dụng tiền vay được thực hiện trong
lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng hoá. Như vậy, một quá trình tín dụng khép kín có thể
chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay;
- Giai đoạn sử dụng vốn tín dụng trong quá trình sản xuất;
- Và giai đoạn hoàn trả của tín dụng [40, tr134,135].
Từ những phân tích trên luận văn rút ra:
Thực chất tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa
họ có mối quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị. Vốn tín dụng được biểu
hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hoá từ người cho vay chuyển sang người đi vay và sau
một thời gian nhất định quay về với người cho vay với lượng giá trị lớn hơn ban đầu.
Tín dụng được cấu thành từ sự kết hợp của 3 yếu tố chính là: Lòng tin; thời hạn của
quan hệ tín dụng; sự hoàn trả. Đây cũng chính là 3 đặc trưng chủ yếu của tín dụng[12,
tr101]. Cùng với thời gian, hoạt động tín dụng chuyên nghiệp đã xuất hiện và ngày nay,
khi nói tới tín dụng, người ta thường nghĩ ngay tới các tổ chức tín dụng mà đại diện tiêu
biểu là ngân hàng, cơ quan chuyên cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và cả phát hành giấy bạc.
Và tín dụng ngân hàng được hiểu là:
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn bằng tiền tệ, hàng hoá và dịch vụ
theo nguyên tắc hoàn trả giữa một bên là ngân hàng và một bên là các đơn vị kinh tế, các
tổ chức xã hội và dân cư. Quá trình hình thành quan hệ tín dụng chính là quá trình hình
thành các quan hệ vay mượn lẫn nhau trong xã hội. Đó là mối quan hệ vay mượn có hoàn
trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian nhất định, là quan hệ chuyển dịch tạm thời
quyền sử dụng vốn, là quyền bình đẳng cả hai bên đều có lợi. Trong nền kinh tế thị trường,
đại bộ phần quỹ cho vay tập trung qua ngân hàng và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung
cho các doanh nghiệp và cá nhân. Tín dụng ngân hàng không những chỉ đáp ứng nhu cầu
vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cá nhân mà còn tham gia
cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến đổi mới kỹ thuật công nghệ sản xuất. Ngoài
ra tín dụng ngân hàng còn đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Như
vậy, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó đáp
Tính hoàn trả tiền vay là một trong những dấu hiệu thể hiện bản chất của tín dụng.
Khác với các hàng hoá khác, giá trị và giá trị sử dụng của nó trong khi bán được chuyển từ
người bán sang người mua, còn vốn được chuyển giao thông qua tín dụng chỉ tạm thời
chuyển nhượng quyền sử dụng. Thực chất trong quan hệ tín dụng, chỉ có giá trị sử dụng
được chuyển đến người chủ mới. Tính hoàn trả không tự nó xuất hiện mà dựa vào quá
trình vật chất, vào sự kết thúc tuần hoàn vốn và được đảm bảo bằng hiệu quả cụ thể sau
một chu kỳ sử dụng vốn cuả người vay cá biệt [40, tr134]. Như vậy bản chất của tín dụng
được thể hiện là hình thức vận động của vốn tiền tệ trong xã hội theo nguyên tắc có hoàn
trả nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức
sống cho dân chúng.
1.2.2. Nội dung, vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế
* Nội dung của hoạt động tín dụng ngân hàng:
Trong nền kinh tế hàng hoá, tín dụng thực hiện 2 chức năng cơ bản là:
Thứ nhất, tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả. Thực hiện
chức năng này, tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối
lại vốn đó dưới hình thức cho vay để bổ sung vốn cho doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu
về vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Tập trung và phân phối lại
vốn tiền tệ là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng. ở đây tín
dụng được xem như chiếc cầu nối giữa các nguồn cung - cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh
tế, trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn tạm thời từ nơi thừa sang nơi thiếu[7, tr215].
Thứ hai, phản ánh một cách tổng hợp và kiểm soát các hoạt động của nền kinh tế.
Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu
cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình
hoạt động của nền kinh tế[7, tr102]. Do đó, tín dụng còn được coi là một trong những công
cụ quan trọng của Nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các tiết kiệm tiền
mặt trong lưu thông, do tín dụng gắn liền với thanh toán không dùng tiền mặt trong nền
kinh tế. Đồng thời, tín dụng có thể phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm
quốc dân trong nền kinh tế.
trong nền kinh tế và thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần.
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn.
Nước ta có tài nguyên thiên nhiên ưu đãi, dân nông nghiệp chiếm đại đa số và hình thành
nhiều làng nghề. Nhờ có tín dụng ngân hàng mà có thêm nhiều sản phẩm của làng nghề đạt
tiêu chuẩn xuất khẩu ra nước ngoài thu được lợi nhuận cao.
Hai là, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp và nền kinh
tế.
Tín dụng ngân hàng có chức năng giám sát bằng đồng tiền để đảm bảo hiệu quả của
đồng vốn cho vay không bị mất gốc và sinh lời, nên tín dụng ngân hàng cần phải đầu tư
vào các dự án, các đơn vị làm ăn có hiệu quả, có sức cạnh tranh lớn. Để vay được vốn
ngân hàng, các doanh nghiệp, cá nhân phải tính toán, cân nhắc các dự án trước khi xin vay.
Quá trình sàng lọc, tín dụng ngân hàng sẽ đầu tư vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân sản
xuất kinh doanh có yếu tố đầu vào thấp nhưng đầu ra được thị trường chấp nhận. Vì vậy,
các đơn vị phải tiết kiệm chi phí, tăng vòng quay vốn, tăng năng suất lao động để hạ giá
thành sản phẩm. Kết quả là thúc đẩy các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng
kinh tế trong hoạt động kinh doanh [12, tr103].
Trong nền kinh tế thị trường, các NHTM phải thường xuyên cạnh tranh với nhau,
nên các sản phẩm dịch vụ ra đời ngày càng đa dạng, phong phú và phù hợp với các nhu
cầu của doanh nghiệp và cá nhân. Vì thế, các tổ chức và cá nhân khi tạm thời thừa vốn sẵn
sàng gửi vào ngân hàng để nâng cao hiệu quả vốn, doanh nghiệp vay vốn ngân hàng sử
dụng vốn có hiệu quả hơn. Kết quả đồng vốn của doanh nghiệp, cá nhân và NHTM có hiệu
quả hơn, làm cho vốn của toàn bộ nền kinh tế được sử dụng hiệu quả hơn .
Ba là, tác động tới sự hình thành đồng bộ hệ thống thị trường tạo điều kiện thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hệ thống thị trường càng đầy đủ thì các câu hỏi: Cái gì? như thế nào? cho ai? càng
đòi hỏi phải được trả lời đầy đủ chính xác. ở đó, các nhà sản xuất kinh doanh và người tiêu
dùng đã tìm đến với nhau và hiểu nhau không phải bằng lời nói mà phải thể hiện bằng vật
chất, hàng hoá, thành phẩm, vật phẩm cần trao đổi.
Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng đã cho các nhà sản xuất kinh doanh, dịch
Năm là, góp phần lành mạnh tình hình chính trị, xã hội và tạo điều kiện phát triển
kinh tế tri thức.
Tín dụng ngân hàng cho vay làng nghề truyền thống, cho vay đi lao động xuất khẩu,
cho vay tạo việc làm để người lao động có thu nhập say mê công việc, vừa tạo ra tích luỹ
cho bản thân gia đình và xã hội vừa góp phần giữ trật tự chính trị - xã hội. Tình hình chính
trị - xã hội ổn định, sẽ góp phần CDCCKT được thuận lợi hơn và có hiệu quả hơn.
Tín dụng ngân hàng còn cho các sinh viên vay để trang trải chi phí trong quá trình
học tập, tạo điều kiện cho những học sinh học giỏi nhưng có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế
được yên tâm học tập, phát huy tài năng sau này cho đất nước. Giáo dục đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế tri thức. Nguồn nhân lực dồi dào,
kinh tế tri thức phát triển sẽ góp phần đắc lực để CCKT chuyển dịch theo hướng CNH- HĐH.
Tín dụng ngân hàng có vai trò rất to lớn đối với việc CDCCKT. Thông qua các chính
sách, quy định của Ngân hàng Nhà nước và cơ chế quản lý tín dụng của NHTM, tín dụng
ngân hàng đã tác động gián tiếp và trực tiếp vào việc mở rộng khối lượng cung ứng vốn cho
nền kinh tế một cách hiệu quả để thực hiện việc CDCCKT theo hướng CNH, HĐH đất nước
và cũng chính từ đó tạo nên những hiệu quả kinh tế xã hội to lớn hơn.
1.2.3. Yêu cầu mở rộng tín dụng ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong CDCCKT thì CDCCKT ngành có vai trò quyết định nhất vì nó quyết định
sản xuất cái gì? bao nhiêu? chất lượng ra sao? Sản xuất cho ai? Có phù hợp với yêu cầu
của thị trường không? Trong tổng GDP hàng năm thì giá trị sản lượng ngành nông nghiệp
mặc dù vẫn tăng tuyệt đối nhưng phải giảm về tương đối còn giá trị sản lượng ngành công
nghiệp và dịch vụ thì tăng cả về số tuyệt đối, số tương đối và ngày càng chiếm tỷ trọng cao
trong GDP. Đảng ta xác định: “Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông
thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị
trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thuỷ lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ
thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh
tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương” [9, tr88]. Phấn đấu đạt được cơ cấu
nông nghiệp, nông thôn hợp lý với chuyển đổi mạnh cơ cấu nội ngành, áp dụng tiến bộ kỹ
khu kinh tế đã ra đời bằng nguồn vốn chủ yếu của người thân ở Hải ngoại và vốn vay ngân
hàng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề. Sản phẩm sản xuất ra được những nhà buôn
bán đường dài cả trong và ngoài tỉnh tiêu thụ. Vì vậy, khi hệ thống chính sách chưa được
hoàn thiện, ngân hàng thường hay đầu tư vào các DNNN. Từ năm 1993 - 1996 các DNNN
ở Trung Quốc được vay vốn ngân hàng tới 90% trong tổng số vốn kinh doanh của họ. ở
nơi nào, thành phần kinh tế nào được ngân hàng đầu tư nhiều thì ở nơi đó thành phần kinh
tế đó có điều kiện phát triển. Ngược lại, nếu thiếu đường lối hướng dẫn của nhà nước, tín
dụng ngân hàng đầu tư vào nền kinh tế sẽ bị rủi ro rất cao hoặc bảo hộ ngân hàng quá mức
sẽ giảm tính tự chủ, năng động và tính chịu trách nhiệm của ngân hàng cũng đem đến rủi
ro lớn trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Singapore: Việc huy động vốn trong nước, chủ yếu tập trung thông qua ngân hàng
tiết kiệm. Thời kỳ đầu khi chưa có đủ vốn để đầu tư lớn, nhà nước quy định phải tiết kiệm
42% tiền lương của người lao động mà ngân hàng tiết kiệm là người thực thi. Khi nền kinh
tế đã chuyển đến điểm cân bằng tăng trưởng cao thì tiết kiệm cũng cao. Lúc này, chính phủ
không phải quy định bắt buộc về tiết kiệm nữa, mà các NHTM phải tự tổ chức huy động,
người dân tự nguyện gửi tiết kiệm và mức tiết kiệm của họ cũng rất cao, thường xuyên đạt
31% GDP. Trên cơ sở vốn huy động được các NHTM cho vay nền kinh tế, đặc biệt những
dự án lớn gồm cả các NHTM nhà nước và ngân hàng tư nhân cùng tham gia. Nhà nước chỉ
tạo điều kiện về hành lang pháp lý, đường lối chính sách còn các công ty phải tự chịu trách
nhiệm về kinh doanh có hiệu quả đảm bảo tồn tại và phát triển. Nhờ có đường lối đúng
đắn, đi đúng quy luật khách quan, tận dụng hết lợi thế của mình, Singapor đã có bước
CDCCKT đáng kể, tỷ trọng dịch vụ trong GDP lớn tạo ra mức tăng trưởng kinh tế khá cao,
từ năm 1970 - 1990 tốc độ tăng trưởng bình quân 8% năm. Từ đó mà cơ sở hạ tầng ngày
được cải thiện và xây dựng ở mức khá hoàn chỉnh.
Nhật Bản: Lại diễn ra quá trình chuyển hoá sâu sắc trong mọi lĩnh vực đời sống xã
hội, ở đây quá trình HĐH thực hiện theo kiểu cải biến ''xã hội truyền thống'' thành ''xã hội
phương Tây'' nhưng vẫn giữ được tính độc lập cao về chính trị và kinh tế. Như vậy, CNH,
HĐH ở Nhật bắt đầu từ thời kỳ Minh trị (1868), họ đã tiếp thu một cách chọn lọc tri thức,
khoa học kinh nghiệm của các nước đi trước với bản sắc truyền thống dân tộc của mình tạo
khẩu là chính, sao cho hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Đó cũng là cơ sở để ngân hàng đầu
tư cho nền kinh tế, đồng thời vốn đầu tư có hiệu quả.
- Mở rộng khả năng tăng tổng mức đầu tư trong tỉnh ở mọi giai đoạn của quá trình
CDCCKT thì sự tích tụ và đặc biệt tập trung vốn qua tín dụng ngân hàng là quan trọng
nhất. Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, các chi nhánh ngân hàng sẽ huy động vốn
tiền gửi ở mọi tầng lớp trong tỉnh, ngoài tỉnh và đầu tư lại nhờ nghiệp vụ cho vay đối với
doanh nghiệp và hộ cá nhân.
- Xây dựng một "sân chơi" cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng, thực
hiện cho vay chính sách xã hội riêng biệt thông qua ngân hàng chính sách đối với các hộ
nông dân nghèo vay với lãi suất thấp nhằm xoá đói giảm nghèo, cho vay sinh viên để đào
tạo nhân tài
Những kinh nghiệm trên đây được rút ra từ các nước trên thế giới tiến hành CNH,
HĐH thành công. Thời gian CDCCKT theo hướng CNH, HĐH dài hay ngắn là do áp dụng
vào điều kiện của mình, tiếp thu một cách có chọn lọc và sáng tạo để phù hợp với đặc điểm
và điều kiện cụ thể từng giai đoạn phát triển kinh tế tỉnh Quảng Nam.
Do đó, để CDCCKT theo hướng tích cực cần phải xây dựng CCKT trên cơ sở phù
hợp với các điều kiện khách quan, chủ quan và phát huy được các lợi thế so sánh, kết hợp
với HĐH để có hiệu quả cao nhất. Đồng thời phải tính tới các nhân tố tác động tới quá
trình CDCCKT. Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết và tác động vào nhau để thúc đẩy
quá trình chuyển dịch nhanh hoặc ngược lại. Nên khi xây dựng các CCKT không thể bỏ