Luận văn: Thực trạng và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Tư vấn đầu tư và Thương mại - Pdf 15



Luận văn

Thực trạng và một số biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty Tư vấn
đầu tư và Thương mại

1LỜI NÓI ĐẦU
Từ sau đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam nền kinh tế nước ta từng
bước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, một nền kinh tế hướng ngoại. Từ đó
mọi hoạt động kinh tế, tài chính tín dụng, tiền tệ trong nước đều chịu sự tác động
của những biến động kinh tế thương mại, tiền tệ tín dụng trên thế giới và trong khu
vực.
Trong bối cảnh chung của đất nước thì bản thân mỗi đơn vị, tổ chức kinh tế hay
doanh nghiệp cũng chịu tác động ảnh hưởng theo. Các doanh nghiệp muốn tồn tại
đứng vững và ngày càng phát triển, đòi hỏi phải có tiềm lực mạnh mẽ về mặt tài

Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực tế hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu ở Công
ty Tư vấn đầu tư và Thương mại từ năm 1999 - 2001. Các phân tích của luận văn đưa
ra trên cơ sở tổng hợp các tài liệu, các kết quả nghiên cứu của Công ty Tư vấn đầu tư
và Thương mại.
Phương pháp nghiên cứu: Quán triệt phương pháp duy vật biện chứng với quan
điểm lịch sử cụ thể, sử dụng các phương pháp phân tích hiệu quả, phân tích tài chính,
phân tích thống kê, phân tích so sánh trong nghiên cứu. Vừa dựa trên những lý thuyết
cơ bản vừa dựa trên hoàn cảnh cụ thể của qúa trình kinh doanh tại đơn vị thực tập
cũng như những tác động của môi trường kinh doanh trong và ngoài Công ty.
Những đóng góp của luận văn :
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng vốn.
- Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Tư vấn đầu tư và Thương
mại trên một số chỉ tiêu tổng hợp chủ yếu.
- Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng hiệu quả
kinh doanh, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty Tư vấn đầu tư và Thương mại.
Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 phần:
- Phần 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Phần 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Tư vấn đầu tư và Thương
mại.
- Phần 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quảsử dụng vốn của Công
ty Tư vấn đầu tư và Thương mại.
Mặc dù có rất nhiều cố gắng song do những hạn chế về kiến thức và thời gian
nghiên cứu còn hạn hẹp nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong được sự đóng góp và chỉ bảo thêm của các thầy cô.


Trong cuốn kinh tế học của D. Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa vốn hiện
vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản

4xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá
của doanh nghiệp. Như vậy, D. Begg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn
của Sammelson.
Trong hai định nghĩa trên, các tác giả đã thống nhất nhau ở điểm chung cơ bản:
vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong cách định
nghĩa của mình, các tác giả đã đều thống nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Thực chất, vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang
nắm giữ. Vốn và tài sản là hai mặt hiện vật và giá trị của môt bộ phận nguồn lực
mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
Vốn biểu hiện mặt giá trị, nghĩa là vốn phải đại diện cho một loại giá trị hàng
hoá, dịch vụ nhất định, một loại giá trị tài sản nhất định. Nó là kết tinh của giá trị
chứ không phải là đồng tiền in ra một cách vô ý thức rồi bỏ vào đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hoá. Nó giống các hàng hoá
khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định. Song nó có điểm khác vì người sở hữu có thể
bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Giá của vốn (hay còn gọi là
lãi suất) là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn. Chính nhờ sự tách dời về quyền
sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh
và sinh lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ
bản, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản
xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản

Vai trò của vốn chỉ có thể được phát huy trên cơ sở thực hiện các chức năng tài
chính, thực hiện yêu cầu của cơ quan hạch toán kinh doanh. Điều đó nghĩa là thực
hành tiết kiệm, hiệu quả. Trên cơ sở tự chủ về tài chính, doanh nghiệp phải sử dụng
hợp lý, đúng mức đồng vốn bỏ ra, phải làm sao với số vốn nhất định có thể thực
hiện được nhiều việc nhất.
Để khẳng định vai trò của vốn, Mark đã nói: “tư bản đứng vị trí hàng đầu vì tư
bản là tương lai” (trích từ tài liệu: “Tích tụ và tập trung vốn trong nước – NXB
Thống kê 1997”).
3. Phân loại vốn trong doanh nghiệp

6Vốn trong doanh nghiệp thường được chia thành nhiều phần khác nhau theo từng
cách chia khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích, thời hạn, và tính chất sử dụng vốn mà
người ta phân chia thành các loại khác nhau:
3.1. Xét về vai trò và tính chất luân chuyển vốn khi tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh có thể phân thành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động
3.1.1. Vốn cố định
Vốn cố định của một doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về
tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều
chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian
sử dụng.
Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định nên qui mô
của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định ảnh hưởng
rất lớn đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Song ngược lại những đặc điểm kinh tế của tài sản cố

hay một chu kỳ kinh doanh).
Vốn cố định được luân chuyển giá trị dần dần từng phần. Khi tham gia vào quá
trình sản xuất thì tài sản không bị thay đổi hình dáng hiện vật ban đầu nhưng tính
năng và công suất bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn cùng với sự giảm dần về giá trị
sử dụng của nó cũng bị giảm đi. Vốn cố định được tách làm hai phần sau:
- Một phần tương ứng với giá trị hao mòn được chuyển vào giá trị sản phẩm
dưới hình thức chi phí khâu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao sau khi sản
phẩm hàng hoá được tiêu thụ. Quỹ khấu hao này dùng để tái sản xuất tài sản cố
định nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
- Phần còn lại của vốn cố định được “cố định” trong hình thái hiện vật của tài sản
cố định ngày càng giảm đi trong khi phần vốn luân chuyển càng tăng lên tương ứng
với sự suy giảm dần giá trị sử dụng tài sản cố định. Kết thúc quá trình vận động đó
cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành
một vòng luân chuyển.
Thông thường, vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn
trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm luân chuyển của nó lại

8tuân theo quy luật riêng, do đó việc quản lý và sử dụng vốn cố định có ảnh hưởng
trực tiếp tới hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh.
3.1.2. Vốn lưu động
Vốn lưu động trong doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm
tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành liên tục.
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu

nhau trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông.
- Các giai đoạn vận động của vốn được đan xen vào nhau, các chu kỳ sản xuất
được lặp đi lặp lại. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng
luân chuyển.
Từ những đặc điểm trên ta thấy quản lý và sử dụng vốn lưu động là bộ phận
quan trọng trong công tác quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp. Trong đó cần
phải xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp đảm bảo vốn
lưu động để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh tình trạng ứ đọng vốn.
Trên cơ sở đó doanh nghiệp nên có những biện pháp khai thác và huy động các
nguồn tài trợ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và thực hiện tốt công tác quản lý và sử
dụng vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh.
3.2. Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Căn cứ vào nguồn hình thành thì vốn được chia làm hai loại: Vốn chủ sở hữu và
nợ phải trả.
3.2.1. Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh
nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Số vốn này không
phải là một khoản nợ và doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Tuỳ theo
loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu
có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn do chủ doanh
nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần Vốn chủ sở hữu được xác định là phần vốn còn lại
trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả.

10
11cơ sở xác định quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng vốn có
hiệu quả cao.
II/ Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn là sự so sánh giữa chí phí sử dụng vốn và những lợi ích
mà đồng vốn đó mang lại cho doanh nghiệp. Thông qua sự so sánh như vậy có thể
thấy được ta sẽ đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó là cao
hay thấp, tốt hay xấu…
2. Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung
 Hiệu suất sử dụng vốn:
Doanh thu thuần trong kỳ
Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ =
Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được bao nhiêu
vòng. Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh
nghiệp thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản doanh nghiệp đã đầu tư.
Vòng quay càng lớn thì hiệu quả càng cao.
 Suất hao phí vốn:
Là chỉ tiêu nghịch đảo chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn, phản ánh một đồng doanh
thu cần có bao nhiêu đồng vốn.
Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
Suất hao phí vốn trong kỳ =
Doanh thu thuần trong kỳ
 Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn:
Lợi nhuận thuần trong kỳ


Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định. Chỉ tiêu này thể hiện
một đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Khả năng
sinh lời của vốn cố định càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn càng tốt.
2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
 Hiệu suất sử dụng vốn lưu động:
Doanh thu thuần
Vòng quay vốn lưu động trong kỳ =
Vốn lưu động bình quân 13Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được mấy vòng.
Qua đó cho biết một đồng lưu động bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu
đồng doanh thu. Chỉ tiêu này tỷ lệ thuận với hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
 Tỷ lệ doanh lợi trên vốn lưu động:
Lợi nhuận
Tỷ lệ doanh lợi trên vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này phản ánh hiệu qủa sử dụng vốn lưu động.
 Kỳ luân chuyển vốn lưu động:
360
K =

năng thanh toán người ta chỉ xét đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Thuộc
nhóm chỉ tiêu này bao gồm:
Tổng tài sản
 Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Tổng nợ phải trả
Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện nay mà doanh nghiệp
đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả ( nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, ).
Nếu hệ số nay nhỏ hơn một là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở
hữu bị mất toàn bộ, tổng số tài sản hiện có (tài sản lưu động, tài sản cố định) không
đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán.
 Hệ số khả năng thanh toán tạm thời:

Hệ số khả năng Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn trong kỳ
thanh toán =
tạm thời trong kỳ Tổng nợ ngắn hạn trong kỳ

Hệ số khả năng thanh toán tạm thời thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu
động với nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là khoản nợ phải thanh toán trong kỳ, do đó
doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để thanh toán bằng cách chuyển
đổi một bộ phận tài sản thành tiền. Trong tổng số tài sản mà doanh nghiệp đang
quản lý, sử dụng và sở hữu, chỉ có tài sản lưu động là trong kỳ có khả năng chuyển
đổi thành tiền.
 Hệ số khả năng thanh toán nhanh:

1516Khi hệ số nợ cao tức là chủ doanh nghiệp chỉ đóng góp một phần nhỏ trên tổng
số tài sản thì sự rủi ro trong kinh doanh được chuyển sang cho chủ nợ gánh chịu
một phần. Đồng thời khi hệ số nợ cao thì chủ doanh nghiệp càng có lợi rõ rệt vì khi
đó họ chỉ bỏ ra một lượng vốn nhỏ nhưng lại được sử dụng một lượng tài sản lớn.
Và khi kinh doanh vốn lớn hơn lãi suất tiền vay thì lợi nhuận của họ gia tăng rất
nhanh. Tuy nhiên khi hệ số nợ cao thì độ an toàn trong kinh doanh càng kém vì chỉ
cần một khoản nợ tới hạn trả, không trả được sẽ rất dễ làm cho cán cân thanh toán
mất cân bằng và xuất hiện nguy cơ phá sản.
 Tỷ suất tự tài trợ:
Đây là một chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng số
vốn hiện có của doanh nghiệp.

Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ = = 1 - hệ số nợ
Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tính độc
lập cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản vay.
Các chủ nợ thường thích tỷ suất tự tài trợ càng cao càng tốt. Chủ nợ nhìn vào tỷ số
này để tin tưởng một sự đảm bảo cho các món nợ vay được hoàn trả đúng hạn.
 Tỷ số nợ dài hạn:
Chỉ tiêu này được dùng để chỉ ra phần tài sản của doanh nghiệp được hình thành
bằng nguồn vốn vay dài hạn. Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo nợ
trên một năm, do vậy tài sản được hình thành từ nguồn vốn này có hệ số an toàn
cao hơn tài sản được hình thành từ nguồn vốn vay ngắn hạn.
Tổng số nợ dài hạn

trong kỳ.
Giá vốn hàng bán
Số vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt.
 Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho.
Công thức xác định là:
360 ngày

18Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho
 Vòng quay các khoản thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của
doanh nghiệp.
Doanh thu thuần trong kỳ
Vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bình quân các khoản phải thu
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là tốt
 Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu
(số ngày của một vòng quay các khoản phải thu).

360 ngày

được chất lượng quản lý sản xuất - kinh doanh, khả năng khai thác các tiềm năng
sẵn có, biết được mình đang ở cung đoạn nào trong quá trình phát triển (thịnh
vượng hay suy thoái), đang ở vị trí nào trong quá trình thi đua, cạnh tranh với các
xí nghiệp khác.
Qua phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhằm có biện pháp tăng cường
quản lý, sử dụng tiết kiệm các yếu tố của sản xuất để đạt hiệu quả cao hơn.
IV/ Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Trong thực tế, các doanh nghiệp ở các nghành khác nhau, thậm chí các doanh
nghiệp trong cùng một nghành cũng có cơ cấu vốn rất khác biệt. Có nhiều yếu tố
ảnh hưởng tới sự khác biệt của cơ cấu vốn như: sự dao động của doanh thu, cơ cấu
tài sản, thái độ của người cho vay và mức độ chấp nhận rủi ro của người lãnh đạo.
Chúng ta có thể đưa ra một số nhân tố sau:
1. Sự ổn định của doanh thu và lợi nhuận
Sự ổn định của doanh thu và lợi nhuận có ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô của
vốn huy động. Khi doanh thu ổn định sẽ có nguồn để lập quỹ trả nợ đến hạn, khi
kết quả kinh doanh có lãi sẽ là nguồn để trả lãi vay. Trong trường hợp này tỷ trọng
của vốn huy động trong tổng số vốn của doanh nghiệp sẽ cao và ngược lại
2. Cơ cấu tài sản

20Vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản nên đặc điểm cơ cấu vốn cũng chịu sự chi
phối của cơ cấu tài sản. Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp có thể chia ra tài sản lưu
động và tài sản số định. Tài sản cố định là tài sản có thời gian thu hồi vốn dài, do
đó nó được đầu tư bằng nguồn vốn dài hạn ( Vốn chủ sở hữu và vay nợ dài hạn ).
Ngược lại, tài sản lưu động sẽ được đầu tư một phần của vốn dài hạn, còn chủ yếu

vốn chủ sở hữu hơn, bởi lẽ với cấu trúc này nó hứa hẹn sự trả nợ đúng hạn, một sự
an toàn của đồng vốn mà họ đã bỏ ra cho vay. Khi tỷ lệ vốn vay nợ quá cao sẽ làm
giảm độ tín nhiệm của người cho vay, do đó chủ nợ sẽ không chấp nhận cho doanh
nghiệp vay thêm.
Các nhân tố trên ảnh hưởng rất lớn tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp, giúp cho
doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn về việc quản lý và sử dụng vốn.
Tóm lại, trong những điều kiện khác nhau và trong những thời kỳ khác nhau mỗi
doanh nghiệp đều phải xác định được cơ cấu vốn hợp lý phù hợp với đặc điểm
riêng của từng doanh nghiệp, luôn có sự tính toán các nhân tố có thể làm thay đổi
cơ cấu tạo sự chủ động trong sản xuất kinh doanh.
V/ Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh bao
gồm hàng loạt các phương pháp, biện pháp, công cụ quản lý nhằm sử dụng tiết
kiệm, với hiệu quả kinh tế cao nhất các nguồn vốn hiện có, các tiềm năng về kỹ
thuật công nghệ, lao động và các lợi thế khác của doanh nghiệp. Dưới đây là một số
biện pháp chủ yếu:
- Lựa chọn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm
- Lựa chọn và sử dụng hợp lý các nguồn vốn
- Tổ chức và quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh
- Tăng cường hoạt động Marketing
- Mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh
- Tổ chức tốt công tác kế toán và phân tích hoạt động kinh tế.
1. Lựa chọn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, quy mô và tính chất sản xuất, kinh doanh
không phải do chủ quan doanh nghiệp quyết định, mà do thị trường quyết định.
Khả năng nhận biết, dự đoán thị trường và nắm bắt thời cơ là những yếu tố quyết 23Để đạt mục tiêu nêu trên, các doanh nghiệp phải tăng cường quản lý từng yếu tố
của quá trình sản xuất.
 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định:
- Bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý, khai thác hết công suất thiết kế và nâng cao
hiệu suất máy móc, thiết bị , sử dụng triệt để diện tích sản xuất, giảm chi phí khấu
hao trong giá thành sản phẩm.
- Xử lý nhanh những tài sản cố định không cần dùng, hư hỏng nhằm thu hồi vốn
nhanh, bổ sung thêm vốn cho sản xuất kinh doanh.
- Phân cấp quản lý tài sản cố định cho các bộ phận sản xuất nhằm nâng cao trách
nhiệm trong quản lý và sử dụng tài sản cố định, giảm tối đa thời gian nghỉ việc.
- Thường xuyên quan tâm đến việc bảo toàn vốn cố định, thực hiện nghiêm
chỉnh các nội dung của công tác bảo toàn và phát triển vốn.
 Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn
lưu động nói riêng phụ thuộc vào việc tiết kiệm và tăng nhanh tốc độ luân chuyển
vốn lưu động. Các biện pháp chủ yếu thường được áp dụng trong quản lý vốn lưu
động như sau:
- Xác định đúng nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho từng thời kỳ sản xuất, kinh
doanh nhằm huy động hợp lý các nguồn vốn bổ sung.
- Tổ chức tốt quá trình thu mua, dự trữ vật tư nhằm đảm bảo hạ giá thành thu
mua vật tư, hạn chế tình trạng ứ đọng vật tư dự trữ, dẫn đến kém phẩm chất gây ứ
đọng vốn lưu động.
- Quản lý chặt chẽ việc tiêu dùng vật tư theo định mức nhằm giảm chi phí
nguyên, nhiên, vật liệu trong giá thành sản phẩm.

có thể tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tăng giá bán, tăng lợi nhuận. Đồng thời
nhờ áp dụng kỹ thuật tiến bộ, doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ sản xuất sản
phẩm, giảm tiêu hao nguyên vật liệu hoặc sử dụng các loại vật tư thay thế nhằm
tăng tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí vật tư, hạ giá thành sản phẩm.
6. Tổ chức tốt công tác kế toán và phân tích hoạt động kinh tế
Qua số liệu, tài liệu kế toán, đặc biệt là các báo cáo kế toán tài chính doanh
nghiệp thường xuyên nắm được số vốn hiện có, cả về mặt giá trị và hiện vật, nguồn

Trích đoạn Tăng cường năng lực tài chính Khai thác, huy động các nguồn vốn cho kinh doanh Về nguồn cung ứng Về sử dụng hình thức thương mại điện tử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status