LUẬN VĂN: Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế tại Trung tâm Đào tạo Ngân hàng Công thương Việt Nam - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản
lý kinh tế tại Trung tâm Đào tạo Ngân
hàng Công thương Việt Nam

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong thời đại kinh tế tri thức, hoạt động kinh doanh ngân hàng (NH) đã
trở thành một ngành kinh tế tổng hợp mang tính quốc tế, được tổ chức với trình độ cao, có
tính cạnh tranh ngày càng gay gắt trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính - tiền tệ. Hoạt
động đó đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế (QLKT) trong hoạt động NH cần có một khối

chọn vấn đề: "Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế tại Trung tâm Đào
tạo Ngân hàng Công thương Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản
lý.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan tới đào tạo nhân lực nói chung, đào tạo CBQLKT, quản lý kinh doanh
NH đối với hệ thống NH nói riêng, đã có một số công trình nghiên cứu được công bố: Đề
tài nghiên cứu khoa học: "Đào tạo nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ngân hàng", Lê Trọng Khanh, Học viện Ngân hàng, Hà Nội, 2003; Đề tài
khoa học: "Nhu cầu nhân lực của ngành Ngân hàng Việt Nam thời điểm đầu thế kỷ 21", Lê
Đình Thu, Hà Nội, 2001; Đề tài khoa học: "Giải pháp đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn
nhân lực Ngân hàng Việt Nam thời điểm đầu thế kỷ 21", Phạm Thanh Bình, Hà Nội, 2003;
Đề tài khoa học: "Những vấn đề cơ bản về đổi mới công tác quản lý đào tạo và nghiên cứu
khoa học phù hợp với hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường", Vũ Thị Liên, Hà
Nội, 2001; "Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo - kinh nghiệm Đông
á", Lê Thị ái Lâm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003; "Quản lý nhân lực của doanh
nghiệp", Đỗ Văn Phức, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 2004; "Giáo trình quản lý nhân
lực trong doanh nghiệp", Nguyễn Tấn Thịnh, Nxb Lao động và xã hội, Hà Nội, 2003;
"Một số cơ sở khoa học của cơ chế, chính sách thúc đẩy sự phát triển của hệ thống đào tạo
nghề nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010", Viện chiến lược phát
triển, Hà Nội, 2000, chủ nhiệm đề tài TS. Trần Thị Tuyết Mai; "Dự báo qui mô phát triển

giáo dục và đào tạo cho các năm 2000, 2005, 2010, 2015 và 2020", Ban chiến lược phát
triển giáo dục - đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà nội, 1999; Luận văn thạc sĩ: "Phát
triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm ở Thanh Hóa", Lê Văn Kỳ, Hà Nội, 2004;
Luận văn thạc sĩ: "Quản lý giáo dục nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước", Phạm Ngọc Đỉnh, Hà Nội, 1999; Luận văn thạc sĩ: "Vấn đề qui hoạch,
đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước về kinh tế của tỉnh Đồng
Nai", Vi Văn Vũ, Hà nội, 2000; Luận văn thạc sĩ: "Hoàn thiện quản lý nhà nước về đào
tạo nghề ở nước ta hiện nay", Nguyễn Đức Tĩnh, Hà Nội, 2001; Luận văn thạc sĩ: "Hoàn
thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề ở Hà Nội đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

NHNN, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ, NH; CBQL và kinh
doanh tiền tệ, chủ yếu ở các NHTM. Loại này gồm hai bộ phận:
+ Bộ phận trung tâm đầu não: Hoạch định chiến lược, chính sách kinh doanh.
+ Bộ phận chỉ đạo cơ sở là bộ phận tác động trực tiếp đến chất lượng kinh doanh
tiền tệ của một NH; CBNV nghiệp vụ, ở cả NHNN và NHTM.
Trong luận văn này, phù hợp với lĩnh vực chuyên ngành NH, đối tượng nghiên
cứu chủ yếu của luận văn là đào tạo và đào tạo lại đội ngũ CBQL kinh doanh tiền tệ và
nhân viên nghiệp vụ (gọi chung là cán bộ quản lý ngân hàng) trong phạm vi NHCTVN.
Những vấn đề khác liên quan tới đào tạo, đào tạo lại CBQLKT nói chung, đối với
NHTM nói riêng sẽ được đề cập khi cần thiết.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp phân tích, tổng hợp,
phương pháp thống kê, xác suất, điều tra, khảo sát thực tiễn

6. Đóng góp mới của luận văn về mặt khoa học
- Góp phần hoạch định chiến lược phát triển đội ngũ CBQLKT của NHCTVN
thông qua công tác đào tạo và đào tạo lại.
- Giúp các phòng, ban có liên quan đến quản lý nhân sự của NHCTVN xây dựng
được chính sách đào tạo và đào tạo lại, sử dụng nhân lực có hiệu quả.
- Xác định được nội dung, phương thức, hình thức đào tạo và đào tạo lại đội ngũ
CBQLKT của NHCTVN tại TTĐT NHCT trong điều kiện khoa học - công nghệ hiện đại
và tiến trình hội nhập khu vực, quốc tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3
chương, 9 tiết.


những người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định" [44].
Đại từ điển Tiếng Việt viết: "Đào tạo: dạy dỗ rèn luyện để trở nên người có hiểu
biết, có nghề nghiệp: đào tạo thành người tri thức; đào tạo chuyên môn nghiệp vụ" [45, tr.
503].
Đào tạo nói chung: Là tổng hợp những hoạt động nhằm nâng cao trình độ học
vấn, trình độ nghề nghiệp và chuyên môn cho người lao động. Hay nói cách khác, đào tạo
là những cố gắng của tổ chức được đưa ra nhằm thay đổi hành vi và thái độ của người lao
động để đáp ứng các yêu cầu về hiệu quả của công việc.
Đào tạo nghề: Là tổng hợp các hoạt động cần thiết cho phép người lao động có
được những kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành nhất định để tiến hành một nghề cụ
thể trong doanh nghiệp và trong xã hội [38, tr. 205].
Giáo dục: Theo nghĩa rộng, được hiểu là các hoạt động đào tạo hình thành nên
những con người mới. Nó bao gồm bốn mặt: Trí dục, đức dục, giáo dục thể chất và giáo
dục thẩm mỹ. Trí dục là giáo dục trí tuệ, mà kết quả là học vấn. Còn đức dục là giáo dục về
mặt đạo đức. Qua giáo dục sẽ hình thành và phát triển ở người học những năng lực nhận thức,
năng lực hành động, hình thành các thế giới quan khoa học và các phẩm chất đạo đức của một
con người [38, tr. 205].
Đào tạo lại: Là một phương thức đào tạo bổ sung cho những khiếm khuyết do
tính lạc hậu tương đối của nhận thức, do thời gian đào tạo ban đầu chưa kịp phổ cập kiến
thức phát triển của xã hội [1, tr. 53]
Đào tạo lại là một dạng đào tạo nghề cho những người lao động làm cho họ thay
đổi nghề nghiệp hay chuyên môn, do những phát sinh khách quan của sự phát triển kinh tế
- xã hội; những tiến bộ khoa học - kỹ thuật cũng như những thay đổi về tâm sinh lý của
người lao động vốn đã ổn định. Hay nói cách khác, đào tạo lại có nhiệm vụ bảo đảm cho

kết cấu nghề nghiệp, chuyên môn của người lao động phù hợp với những biến động của
sản xuất và của chính bản thân họ [37, tr. 205].
Học tập: Có hai nghĩa: "1. Học và rèn luyện cho có tri thức, cho giỏi tay nghề:
Học tập tốt, chăm chỉ học tập; 2. Noi theo: Học tập các điển hình tiên tiến: Học tập bạn bè"
[45, tr. 829].

dụng, kế toán kiểm toán, thanh toán quốc tế, kinh doanh đối ngoại, pháp luật ngoài ra
còn đào tạo tin học, ngoại ngữ, marketing và đào tạo lý luận chính trị đối với cán bộ lãnh
đạo, QLKT theo quy định về tiêu chuẩn CBQLKT ngành NH.
Theo Luật Giáo dục, Điều 6 về hệ thống giáo dục quốc dân: "Phương thức giáo dục
gồm giáo dục chính qui và giáo dục không chính qui" [24, tr. 10], Điều 7 mục 2 qui định:
"Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học để xác nhận kết quả
học tập sau khi được đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp" [24,
tr. 10-11]. Theo qui định của Luật Giáo dục: đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ thuộc hệ
thống giáo dục quốc dân, thì được cấp chứng chỉ.
Đào tạo, đào tạo lại, học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ đan xen với nhau rất khó phân
biệt về mục đích, nội dung, chương trình. Vì vậy việc xác định ranh giới giữa đào tạo và
đào tạo lại, bồi dưỡng là rất khó phân biệt, trong luận văn này dùng cụm từ chung đó là:
Đào tạo và đào tạo lại.
1.1.2. Vai trò của đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý kinh tế ngành ngân
hàng
- Hoạt động đào tạo và đào tạo lại CBQLKT nhằm đem lại những sự thay đổi về
nhân cách cho CBQL.
Con người sinh ra không phải ai cũng có tài ngay, hoặc dù có tài bẩm sinh cũng
phải qua học tập rèn luyện mới có thể trở thành nhân tài được. Do đó, đào tạo huấn luyện
đối với đội ngũ lao động là nhiệm vụ thường xuyên của mọi tổ chức [11, tr. 171].

- Đào tạo và đào tạo lại là hoạt động nhằm nâng cao trình độ CBQL theo một mục
tiêu nhất định, tương ứng với vị trí công tác hiện hành hoặc dự kiến bố trí trong tương lai.
Đào tạo là biện pháp làm thay đổi, nâng cao trình độ của CBQL và từ đó tạo sự thay đổi và
nâng cao hiệu quả công tác. Vì vậy, công tác đào tạo và đào tạo lại có vai trò rất quan
trọng có ý nghĩa sống còn đến ngành NH nói chung và NHCT nói riêng.
- Thông qua đào tạo, xây dựng được một đội ngũ CBQL đủ sức đảm đương được
nhiệm vụ công tác trước mắt cũng như lâu dài.
- Góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ và kỹ năng cần có để hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao.

lại cho doanh nghiệp những lợi ích sau:
Một là, việc đào tạo có thể giúp cho CBNV hiểu biết sâu sắc hơn về mục tiêu và
văn hóa của doanh nghiệp, giáo dục cho CBNV có được sự đồng lòng với doanh nghiệp.
Hai là, thông qua hoạt động đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao nhận thức và
trình độ kỹ thuật chuyên ngành của CBNV giúp cho họ hiểu biết công việc, có khả năng
phân tích, giải quyết những vấn đề mà công việc đòi hỏi, để họ giảm bớt được những sai
lầm và sự cố trong khi làm việc, lao động với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn đem
lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người lao động.
Ba là, khi kết quả đào tạo giúp nâng cao khả năng hoàn thành nhiệm vụ của
CBNV cấp dưới thì CBQL cũng được giải tỏa khỏi những công việc vụn vặt như sửa chữa
sai lầm, bổ sung thiếu sót
Bốn là, khi doanh nghiệp đang thực hiện công cuộc đổi mới quản lý, thì đào tạo là
một phương pháp rất hiệu quả thúc đẩy thay đổi quan niệm nhận thức, đào tạo cho CBNV
nắm bắt được những kỹ năng cần thiết để tham gia vào công việc đổi mới này.

Năm là, việc đào tạo có tác dụng động viên, khích lệ. Khi được đào tạo, họ sẽ có
cảm giác được coi trọng; sau khi được đào tạo, họ sẽ chủ động nắm bắt và ứng dụng những
kỹ năng mới mà họ đã được học.
ở Việt Nam, nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế tập trung, bao cấp chuyển sang
cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhà nước nên các cơ chế,
chính sách có những thay đổi cơ bản. Những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà
nước đang từng bước hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng XHCN nên các cơ chế,
chính sách và pháp luật đang được hoàn thiện phù hợp với tính chất, đặc điểm nền kinh tế
nước ta, với luật pháp và thông lệ quốc tế. Mặt khác, ngành NH nói chung, các NHTM nói
riêng đang trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế. Nhiều hoạt động và nghiệp vụ kinh
doanh trước đây của NH ở nước ta chưa có, nay đòi hỏi phải được đưa vào để hội nhập kinh tế
quốc tế. Nhiều sản phẩm dịch vụ NH như thanh toán điện tử, séc cá nhân, ATM, Cash card,
tín dụng tiêu dùng, tín dụng thuê mua, bảo hiểm phi nhân thọ, chứng khoán mới ra đời trong
hoạt động NH ở Việt Nam đòi hỏi cần phải đào tạo lại, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ để
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng tác nghiệp.

d) Chương trình, tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch, chuyển ngạch
3. Các chương trình, giáo trình đào tạo, tài liệu bồi dưỡng kiến thức tin học, ngoại
ngữ và kiến thức bổ trợ khác theo tiêu chuẩn ngạch [39, tr. 226].
Điều 14. Giảng viên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức bao gồm: Giảng viên
của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và giảng viên kiêm chức là cán bộ
lãnh đạo, quản lý các cấp của các bộ các ngành trung ương và địa phương [39, tr. 229].

Điều 15: Giảng viên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải có phẩm chất
chính trị, đạo đức tốt, trung thành với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có kinh
nghiệm thực tiễn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có phương pháp sư phạm đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ được giao [39, tr. 230].
Điều 17: Trách nhiệm của cán bộ công chức:
1. Cán bộ, công chức phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ lý luận, kiến
thức, kỹ năng hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và các kỹ năng hoạt động khác theo qui
định.
2. Cán bộ, công chức đang giữ chức vụ thuộc ngạch bậc nào phải đào tạo bồi dưỡng
đáp ứng các tiêu chuẩn qui định cho chức vụ và ngạch, chức danh đó.
3. Cán bộ, công chức sau khi đã được đào tạo, bồi dưỡng mà tự ý bỏ việc hoặc
chuyển công tác khỏi khu vực nhà nước vì lý do các nhân thì phải bồi thường cho cơ quan,
tổ chức sử dụng cán bộ, công chức các chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo qui định của nhà
nước [39, tr. 230].
Điều 18: Quyền lợi của cán bộ, công chức:
1. Cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng được cơ quan bố trí thời gian
và kinh phí theo chế độ qui định.
2. Trong trường hợp cán bộ, công chức theo nguyện vọng cá nhân mà được cơ
quan có thẩm quyền cử đi đào tạo, bồi dưỡng thì được cơ quan hỗ trợ về thời gian, kinh
phí tùy theo khả năng và điều kiện cho phép.
3. Trong thời gian được cử đi dự các khóa đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ, công chức được
hưởng nguyên lương và các chế độ khác theo qui định [39, tr. 231].
Điều 19: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Nội vụ tổ chức đào tạo, bồi

Trong đổi mới QLKT ở nước ta từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã phân
định rõ hai chức năng QLKT, đó là: Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng
quản lý sản xuất kinh doanh [9, tr. 338]. Vì vậy, CBQLKT ngành NH được phân thành:
- CBQL nhà nước về kinh tế: loại này chủ yếu ở NHNN.
- CBQL sản xuất - kinh doanh: Loại này chủ yếu ở NHTM.
Trong luận văn này, phù hợp với lĩnh vực chuyên ngành NH, đối tượng nghiên
cứu chủ yếu của luận văn là đào tạo và đào tạo lại đội ngũ CBQL kinh doanh tiền tệ và
nhân viên nghiệp vụ (gọi chung là CBQLKT ngành NH) trong phạm vi TTĐT NHCTVN
như đã trình bày ở phần đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn. Từ phân tích trên
ngoài tiêu chuẩn của một người cán bộ nói chung, của một nhà kinh doanh nói riêng thì
Tiêu chuẩn chung của CBQLKT Ngân hàng Công thương là:
- Nắm vững các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước và các chính sách liên quan đến hoạt động kinh doanh
tiền tệ - tín dụng và dịch vụ NH.
- Có kiến thức chuyên sâu về nghiệp vụ NH vì QLKT là một nghề, mỗi vị trí công
việc cần có qui định về mức độ bằng cấp bắt buộc, cần được đào tạo.
- Có khả năng tư duy tổng hợp, hiểu biết về những ngành kinh tế, kỹ thuật liên
quan, có tầm nhìn chiến lược đối với nhiệm vụ cần thực hiện.
- Đánh giá được mức độ hiệu quả và khả năng thua lỗ, rủi ro trong hoạt động cho
vay, đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác thuộc trách nhiệm quản lý. Đánh giá phân
tích được tình hình kinh tế - xã hội, con người và xây dựng được những biện pháp triển
khai tối ưu.
- Có sức khỏe chịu đựng được những áp lực của công việc, có tinh thần tự giác
trong học tập, tự chịu trách nhiệm theo chức năng nhiệm vụ được giao, thực hiện nhiệm vụ
một cách tự giác, sáng tạo.

1.2. Sự cần thiết khách quan và yêu cầu mới đối với đào tạo và đào tạo lại đội
ngũ cán bộ quản lý Ngân hàng Công thương Việt Nam
1.2.1. Sự cần thiết khách quan đối với đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ
quản lý Ngân hàng Công thương Việt Nam

động phức tạp nhỏ hơn thì tương đương với một lượng lao động giản đơn lớn hơn" [26, tr.
75]. Sản xuất hàng hóa và sự phát triển kinh tế cần ba yếu tố cơ bản: Vốn, tài nguyên, con
người. Hàng hóa là sản phẩm của lao động được sản xuất ra để trao đổi với nhau. Những
hàng hóa là sản phẩm của lao động phức tạp - phải tốn công đào tạo, học tập, rèn luyện - là
biểu hiện người lao động được đào tạo nhiều hơn, chi phí sản xuất cao hơn. Trong thời đại
ngày nay vai trò của nguồn nhân lực (nhân tố con người đặc biệt là người QLKT) càng trở
nên quan trọng mang tính chi phối nhiều hơn. Giáo sư, tiến sĩ Letter C.Thurow nhà kinh tế,
nhà quản trị học thuộc viện công nghệ kỹ thuật Matsachuset viết: "Điều quyết định cho sự
tồn tại và phát triển của công ty là những con người mà công ty đang có. Đó phải là những
con người có học vấn cao, được đào tạo tốt, có đạo đức, có văn hóa và biết cách làm việc có
hiệu quả".
Giáo sư tiến sĩ Gary Backơ người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1992
với các công trình khoa học về vốn con người đã viết: "Các công ty nên tính toán, phân
chia hợp lý cho việc chăm lo sức khỏe, huấn luyện, nâng cao trình độ người lao động để đạt
năng suất cao nhất. Chi phí cho giáo dục, đào tạo, chăm lo sức khỏe của nhân viên phải được
xem là một hình thức đầu tư".
Giáo sư Felix Migro thì kết luận rằng: "Quản trị nhân lực là nghệ thuật chọn lựa
các nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc
của mỗi người đạt mức tối đa có thể được" [13].
Qua các nhận định trên chúng ta thấy tầm quan trọng của nhân tố con người đối
với doanh nghiệp, vì vậy các nhà quản lý phải có cơ chế tuyển chọn, sử dụng, bồi dưỡng
nhân lực một cách có hiệu quả. Từ đó yêu cầu ban lãnh đạo doanh nghiệp phải biết cách

dùng người và đòi hỏi họ phải là người có tài năng thực sự, có phẩm chất đạo đức, có học
vấn, có văn hóa, có nghệ thuật quản lý. Họ phải được đào tạo một cách cơ bản.
Trong lịch sử nhân loại, từ khi có nhà nước thỡ việc dựng người luôn luôn được
đặt ra, nó quyết định sự thành bại của mọi chế độ chính trị, quyết định sự nghiệp của từng
nhà chính trị, tướng lĩnh
Trong hệ thống tư tưởng chính trị và văn hoá Hồ Chí Minh thỡ phộp dựng người là
một bộ phận đặc sắc và quan trọng nhất.Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ sở hữu

Sự ra đời của sản xuất hàng hóa do hai điều kiện là có sự phân công lao động xã
hội và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất, theo V.I. Lênin thì:
"Sản xuất hàng hóa chính là cách tổ chức kinh tế xã hội" [21, tr. 106].
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, hình
thức trao đổi trực tiếp giữa những người sản xuất hàng hóa với nhau không còn thích hợp
nữa, do đó cần thiết phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất. "Vật ngang giá chung
được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến thì có hình thái tiền tệ của giá trị" [8, tr.
57]. Như vậy, tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và
sản xuất hàng hóa và của hình thái giá trị. Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt dùng làm vật ngang
giá chung cho tất cả các hàng hóa, tiền tệ là công cụ để trao đổi giữa hàng hóa này và hàng
hóa khác. Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển mọi giao dịch bằng tiền đều thông qua
trung tâm thanh toán trong nền kinh tế quốc dân đó là hệ thống NH, ngân hàng trong nền
kinh tế hàng hóa phát triển phản ánh nhịp sống của xã hội. Nền kinh tế quốc dân nếu được
coi như một cơ thể sống thì hệ thống NH là những mạch máu chảy lan tỏa khắp mọi vùng
cơ thể, mọi giao dịch thanh toán đều thông qua tiền tệ, kinh tế thị trường càng phát triển
kéo theo thị trường tiền tệ cũng phát triển tương ứng làm cho vị trí của hệ thống NH đối
với nền kinh tế hết sức quan trọng. Đối với nước ta kinh tế thị trường chưa phát triển cao
nhưng hoạt động của hệ thống NH đã và đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
nền kinh tế. Mọi sự biến động về tiền tệ đều ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sản xuất
xã hội: Sản xuất-phân phối-lưu thông-tiêu dùng và ảnh hưởng to lớn đến đời sống của

hàng triệu người dân. Hệ thống NH có một mạng lưới rộng khắp đất nước đã góp phần
quan trọng vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, từng bước hình thành kinh tế tri thức, thực
hiện thành công đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là hoạt động phi sản xuất nhưng thông qua các kênh
đầu tư của NH nó lại tạo ra cơ sở vật chất, của cải và góp phần tạo ra lợi nhuận cho xã hội.
Vì vậy NH là một ngành kinh tế tổng hợp, đặc thù trong nền kinh tế quốc dân. Tiền tệ là
hàng hóa đặc biệt, hoạt động NH là ngành hoạt động đặc biệt, nhà nước ta xếp các doanh
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực NH là doanh nghiệp xếp hạng đặc biệt. Cho nên cán bộ
làm công tác NH cần có trình độ tổng hợp phải "có tầm và có tâm" mới đáp ứng được yêu

Việt Nam [18, tr. 16].
Trong quá trình hoạt động các NHTM muốn tồn tại và phát triển phải luôn luôn
đổi mới. Các nghiệp vụ NH truyền thống trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung
quan liêu bao cấp, không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Cho nên
các NHTM nhà nước bắt buộc phải đổi mới hoạt động để phù hợp với cơ chế mới, chấp nhận
cạnh tranh không những giữa các NHTMNN với nhau mà còn phải cạnh tranh quyết liệt với
các NH nước ngoài. Cùng với xu thế phát triển của đất nước, đổi mới hoạt động của nền kinh
tế đòi hỏi phải đổi mới hoạt động của ngành NH và các NHTM nhà nước trong đó có
NHCTVN là một tất yếu khách quan. Muốn đổi mới trước hết phải đổi mới công nghệ NH,
kinh doanh những sản phẩm mới, đa dạng hóa dịch vụ NH, để theo kịp các nước trong khu
vực và tiến tới hội nhập quốc tế, muốn vậy phải đào tạo và đào tạo lại đội ngũ CBQLKT ngân
hàng để nắm vững công nghệ mới, chuyển từ lao động thủ công sang lao động tri thức sử
dụng thành thạo công nghệ tin học, truyền thông, các công cụ NH điện tử, đưa tin học hóa
vào hoạt động NH.
Ngân hàng là ngành kinh tế tổng hợp. Hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và
dịch vụ NH của các NHTM là hoạt động kinh doanh rất nhạy cảm. Mọi sự biến động trong
nền kinh tế, mọi sự thay đổi trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đều tác động trực
tiếp đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Vì vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ,

cập nhật kiến thức đối với CBNV trong các NHTM phải được tổ chức thường xuyên, để
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động kinh doanh hiện đại và sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật và công nghệ. Nhằm mục đích đưa hoạt động kinh doanh của NHTM sát thực
tế, tránh được rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh tế.
* Thực trạng trình độ đội ngũ CBQL NHCT còn nhiều bất cập
Khi thành lập NHCT, "nguồn nhân lực hình thành phần lớn do lịch sử để lại, một
bộ phận lao động tuyển dụng mới chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng thực tế. Số lao động
dôi dư chiếm khoảng 20% tổng số lao động trong toàn hệ thống" [31, tr. 69].
Hình thành và hoạt động trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, nay các
NHTMVN chưa kịp thích ứng với kinh tế thị trường và tiếp xúc với công nghệ NH hiện
đại, CBQLKT NHCT ít được giao lưu với nước ngoài. Quá trình đổi mới kinh tế của Đảng

mọi lúc mới có thể lao động tri thức có hiệu quả. Trong nền kinh tế mới, tỷ lệ
được đào tạo tăng lên mạnh, công tác và học tập đan chéo nhau tạo thành yếu tố
vững chắc nhất của năng lực làm việc [40, tr. 336].
Nền kinh tế tri thức yêu cầu học tập suốt đời, cho nên doanh nghiệp phải có trách
nhiệm tự đào tạo ngày càng lớn. Stan Davit và Jim Botkin đã viết trong cuốn sách:
Monster under the bed (Quái vật dưới gầm giường): "Chức trách giáo dục từ xưa đã thuộc
về nhà thờ, về sau chuyển sang chính phủ, ngày nay lại dần dần rơi vào tay các doanh
nghiệp, bởi vì cuối cùng, phụ trách đào tạo người làm việc tri thức phải là doanh nghiệp".
Hai tác giả cho rằng:
Khi nền kinh tế nông nghiệp chuyển sang nền kinh tế công nghiệp, các
trường học xây gạch to lớn thay thế cho các trường học nhỏ bé ở nông thôn. 40
năm trước đây, chúng ta bắt đầu chuyển sang loại hình thái kinh tế mới. Nhưng
cho đến nay ta còn chưa phát triển ra một mô hình giáo dục mới, chưa nói đến

Trích đoạn Chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Giảng viên ngoài NHCT Cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện giảng dạy Đánh giá chung 1 Những thành công Những hạn chế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status