LUẬN VĂN: Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành
phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại quốc tế có vai trò quan trọng.
Chính vì thế, đẩy mạnh giao lưu thương mại quốc tế, trong đó có thúc đẩy xuất khẩu hàng
hóa là một trong các mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của nhiều quốc gia, nhất là
những nước đang công nghiệp hoá như Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX của Đảng khẳng định: Nhà nước khuyến khích xuất khẩu, nhất là các mặt hàng chủ
lực có lợi thế so sánh thông qua vận hành quỹ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu về thông tin, tìm
kiếm khách hàng, tham dự triển lãm, hội chợ Đại Hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định
lại điều đó.
Những năm gần đây, khác với thị trường nhiều loại hàng hoá thực phẩm khác, thị
trường thủy sản thế giới có xu hướng tăng trưởng mạnh, đa dạng và phong phú về chủng
loại sản phẩm. Thuỷ sản trở thành mặt hàng chủ lực được nhập khẩu vào nhiều thị trường
lớn như Nhật Bản, Mỹ, EU, Trung Quốc v.v
Trong 15 năm qua, từ khi cơ chế xuất khẩu được đổi mới sản xuất và xuất khẩu

phố, qua đó, hổ trợ phát triển kinh tế của Đà Nẵng nói riêng của khu vực nói chung. Đề tài: "
Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp " được
chọn nghiên cứu trong luận văn là để góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của thành phố
Đà Nẵng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến
lĩnh vực xuất khẩu thủy sản của nước ta cũng như khu vực ven biển miền Trung. Đó là:
- PGS, TS Đỗ Đức Bình: Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam - Tạp chí kinh tế và phát triển, số 62, tháng 8/2002.
- TS Lê Thị Anh Vân: Về các chính sách thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam
trong thời gian tới - Tạp chí kinh tế và phát triển, số 67, tháng 01/2003.
- PGS, TS Hoàng Thị Chỉnh: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào Mỹ - Những vấn đề
đang đặt ra và các giải pháp - Tạp chí kinh tế và phát triển, số 67, tháng 01/2003.

- TS Lâm Minh Châu: Xuất khẩu thủy sản miền Trung - Những lợi thế và giải pháp
phát triển - Tạp chí kinh tế và phát triển, số 91, tháng 01/2005.
- TS Nguyễn Thị Thanh Hà và Th.s Nguyễn Văn Tiền: Ngành thủy sản Việt Nam -
Thực trạng và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế - Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số
321, tháng 02/2005.
- Hoàng Thị Ngân Loan: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
thúc đẩy - Tạp chí kinh tế và dự báo, số 3/2005.
- ThS Lê Bảo: Nghiên cứu chính sách tài chính hổ trợ phát triển bền vững nghành
nuôi tôm ở các tỉnh duyên hải miền trung -kỷ yếu hội thảo khoa học -trường Đại học kinh
tế - Đại học Đà Nẵng 06/2005.
- PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng Tổng Thư ký VASEP WTO, Thách thức và cơ hội với
thuỷ sản - Tạp chí Thương mại Thuỷ Sản
Các công trình trên tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn
liên quan đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách toàn diện về xuất khẩu thủy sản của thành phố Đà Nẵng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

phố Đà Nẵng.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển xuất khẩu thủy sản của thành phố Đà Nẵng
trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương, 8 tiết. Chương 1
MộT Số VấN Đề CHUNG
về hoạt động xuất khẩu thủy sản

1.1. Vai trò và nội dung của xuất khẩu thủy sản
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm xuất khẩu thủy sản
1.1.1.1. Khái niệm xuất khẩu thuỷ sản
Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ
làm phương tiện thanh toán. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán trao đổi
hàng hoá (bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nước. Khi sản xuất
phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra
ngoài biên giới của quốc gia hoặc thị trường nội địa vào khu chế xuất trong nước.
Thuỷ sản là ngành sản xuất ra các loại sản phẩm, mà nguyên liệu chính khai thác từ
Biển, sông và hồ…,và nuôi trồng. Sản phẩm thuỷ sản là một phần năng lượng chính, nó
duy trì đời sống của con người, góp phần đảm bảo sức khoẻ cho người lao động, bổ sung
và nâng cao sức lao động, ngoài những đặc điểm chung còn có những đặc điểm riêng thể

vừa khai thác vừa không quên nuôi trồng và tái tạo nguồn nguyên liệu của biển. Chỉ có
như vậy mới đảm bảo nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu. Thời tiết, khí hậu, dòng nước
chảy là những điều kiện ảnh hưởng đến các sinh vật sống trong môi trường nước nên
chúng di chuyển theo qui luật sinh tồn từ vùng này sang vùng khác, điều đó muốn nói rằng
xuất khẩu thuỷ sản cũng mang tính thời vụ. Ngày nay khoa học công nghệ ngày càng phát
triển đã hỗ trợ việc nuôi trồng thuỷ sản ổn định hơn, nguyên liệu đa dạng, phong phú.
Thuỷ sản là mặt hàng tươi sống, nếu bảo quản không tốt sẽ dẫn đến tình trạng ươn
hỏng vì vậy công nghệ bảo quản rất quan trọng. Hiện nay công nghệ cấp đông và kho lạnh
bảo quản rất hiện đại, chúng có thể bảo quản hàng trong nhiệt độ từ -20
o
C đến -50
o
C. Với
nhiệt độ này hàng tươi sống có thể để rất lâu từ một năm đến hai năm và lâu hơn nữa, sản
phẩm thuỷ sản có thể bảo quản và xuất đi các nước trong thời gian dài, sản phẩm khi đến
tay người tiêu dùng vẫn tươi và đẹp.
+ Xuất khẩu thủy sản đòi hỏi tính liên ngành cao, có mối liên hệ chặt chẽ đồng bộ
các khâu: khai thác, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu

Hàng thuỷ sản Việt Nam ngày càng được nhiều nước trên thế giới quan tâm và ưa
chuộng do doanh nghiệp đã tích cực đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, an toàn vệ
sinh thực phẩm và khâu tiếp thị ngày càng được chú trọng.
Một thời gian dài, chúng ta tập trung khai thác và đánh bắt thuỷ sản gần bờ với sản
lượng lớn làm cho nguyên liệu gần như cạn kiệt. Để đảm bảo nguyên liệu đủ cho sản xuất
chế biến và xuất khẩu, chúng ta phải chuyển đổi vùng đánh bắt, đánh bắt xa hơn, dài ngày
hơn vớí qui mô lớn hơn. Song song với việc đánh bắt xa bờ thì cần phải trang bị đầy đủ
các thiết bị công nghệ, tàu thuyền sao cho phù hợp với việc đánh bắt xa bờ.Vừa qua chúng
ta thực hiện chủ trương của Nhà nước với chương trình đánh bắt xa bờ, tuy hiệu quả chưa
cao nhưng cũng góp phần giảm áp lực khai thác ven bờ, và sự chuyển dịch từ đánh bắt gần
bờ sang đánh bắt xa bờ đồng nghĩa với sự chuyển dịch từ đánh bắt với giá trị thấp sang

và có hiệu quả nhất của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam hiện nay là học
thông qua các đối tác (khách hàng hướng dẫn, các doanh nghiệp trong nước hỗ trợ lẫn
nhau), tự nghiên cứu sau khi được xem mẫu mã sản phẩm tại hội chợ quốc tế, hoặc mẫu có
sẵn của khách hàng. Để thực hiện được công việc này, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có
đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nghệ có trình độ và năng lực tương xứng.
Bên cạnh sự phát triển các nhà máy chế biến thuỷ sản ngày càng nhiều nếu không
có biện pháp bảo vệ môi trường thì chất thải công nghiệp sẽ bị ô nhiểm nặng và ảnh hưởng
nghiêm trọng tới nghề nuôi thuỷ sản của khu vực và quá trình này đặt ngành thuỷ sản trước
những thách thức không nhỏ về an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng khắt khe hơn. Để
đảm bảo phát triển XKTS gắn liền với khả năng và nguồn cung cấp nguyên liệu sạch, an
toàn vệ sinh thực phẩm và thị hiếu của các thị trường, nhà nước đã xây dựng và ban hành
hàng loạt tiêu chuẩn về điều kiện sản xuất và an toàn vệ sinh từ khâu chế biến đến khâu
sản xuất nguyên liệu, thu mua và dịch vụ cho nghề cá như: 32 tiêu chuẩn về diều kiện vệ
sinh an toàn thực phẩm cho tất cả loại hình sản xuất theo cả chuỗi sản xuất, 28 tiêu chuẩn
ngành 102/1997 về phương pháp thử đối với hầu hết các chỉ tiêu về chất lượng an toàn vệ
sinh thuỷ sản.
Đã ban hành qui chế và thực hiện chương trình kiểm soát độc tố sinh học của vùng
thu hoạch nhuyễn thể 2 vỏ và chương trình kiểm soát dư lượng hoá chất đối với các vùng
nuôi thuỷ sản. Đến nay cả hai chương trình nói trên đã được EU công nhận với 18 vùng

nhuyễn thể trong danh sách nhóm 01 các nước được phép xuất khẩu vào EU, từ đó tạo tiền
đề được nhiều nước công nhận và có quan hệ hợp tác như Hàn Quốc, úc, Đài Loan,
Canada Ngoài ra nhiều tiêu chuẩn ngành về phụ gia, ghi nhãn, bao gói và phương pháp
kiểm nghiệm đã và đang được ban hành
Ngành thuỷ sản đã xây dựng và ban hành các quy định về thủ tục, nội dung và
phương pháp cũng như các chế tài xử phạt đầy đủ cho hoạt động quản lý chất lượng, an
toàn vệ sinh gồm:
- Các qui chế kiểm tra công nhận điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh cơ sở sản xuất
kinh doanh thuỷ sản;
- Qui chế kiểm tra chứng nhận chất lượng sản phẩm;

khai thác hải sản tốn ít nhiên liệu, chất lượng cao và lựa chọn đối tượng khai thác có
giá trị xuất khẩu.
Nhiều loại cá trước đây không xuất khẩu được nay nhờ có thị trường và đổi mới
công nghệ chế biến, đổi mới quản lý an toàn vệ sinh mà trở thành đối tượng khai thác có
hiệu quả như: cá bò, cá ngân chỉ vàng, cá ngừ sọc dưa, cá cơm và các loại cá tạp thịt trắng.
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với phát triển kinh tế - xã hội
Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã góp phần tạo nên một hình ảnh Việt
Nam khác trước với nhiều quốc gia và bạn bè trên thế giới. Đến nay, thuỷ sản Việt
Nam đã có mặt tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã đến được các thị trường tiêu
thụ thuỷ sản với những yêu cầu khắc khe về vệ sinh an toàn thực phẩm. Hiện có
171 doanh nghiệp được cấp code xuất hàng vào thị trường EU - thị trường khó tính
bậc nhất này, có 295 doanh nghiệp được Hàn quốc cho phép xuất khẩu hàng thuỷ
sản vào Hàn quốc và 300 doanh nghiệp áp dụng HACCP đủ điều kiện xuất hàng
thuỷ sản vào Mỹ.
Để xác định vai trò của ngành thuỷ sản xuất khẩu, không chỉ được xác định bởi thị
trường mà còn được Nhà nước đánh giá cao và thông qua Hội nghị và được đưa vào nghị
quyết của các kỳ Đại hội Đảng. Ngày 15/06/2000 Chính phủ đã ra nghị quyết số
09/2000/NQ-CP trong đó xác định hướng phát triển ngành thuỷ sản xuất khẩu thành ngành
kinh tế mũi nhọn trong những năm tới.
Bảng 1.1: 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Việt Nam

ĐVT: triệu USD
STT

Mặt Hàng 2000 2001 2002 2003 2004 2005
01 Dầu thô 4.500

3.400

2.900

04 Giày dép 1.471

1587

1.875

2.260

2.691

3.039

05 Thuỷ sản 1.478

1.816

2.021

2.199

2.408

2.738

06 Cà Phê 733

931

722


09 Than đá
10 Lạc nhân 76

78

106

82

46

54

Nguồn: Bộ Thương mại.
Xuất khẩu thuỷ sản ngày càng phát triển và phát triển nhanh chóng cả về lượng và
về chất, tính đến năm 2005 ngành thuỷ sản đã khẳng định vị trí quan trọng của mình trong
vai trò xuất khẩu, giá trị đạt 2.738 triệu USD chiếm hơn 10% tổng kim ngạch xuất khẩu
toàn quốc.
Với vai trò chủ lực trong các ngành xuất khẩu, XKTS đã góp một phần công sức
của ngành trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như sau:
1.1.2.1. Tạo nguồn vốn để tái sản xuất trong nội bộ ngành theo hướng đổi mới trang
thiết bị, công nghệ và tăng thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân
Trong sự phát triển kinh tế theo xu hướng CNH,HĐH đất nước, để phù hợp với điều
kiện phát triển chung của thế giới đòi hỏi chúng ta phải hiện đại hoá việc khai thác, nuôi

khẩu và xuất khẩu trở thành động lực trong sự phát triển kinh tế. Những yếu tố tiềm năng
của Việt Nam là tài nguyên thiên nhiên và lao động, còn những yếu tố thiếu hụt là: vốn, thị
trường và khả năng quản lý.Chiến lược hướng về xuất khẩu thực chất là giải pháp mở cửa
nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng

trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền
kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển trong khu vực.
XKTS đã làm tốt vai trò cầu nối giữa sản xuất với thị trường, thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu trong nội bộ ngành, Trong nuôi trồng kích thích được bộ phận nuôi trồng chuyển
dịch từ nuôi trồng cổ truyền sang nuôi hiện đại và nhân giống các loại sản phẩm có giá trị
cao như: Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá cam, tôm hùm, cá mú, nhuyễn thể cũng như
khai thác hải sản, cân đối giữa khai thác gần bờ và khai thác xa bờ và đã nâng cao chất
lượng khai thác loại sản phẩm có giá trị cao như cá ngừ đại dương, mực, Thực hiện chủ
trương đánh bắt xa bờ theo quyết định 159/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tăng
đầu tư đóng tàu công suất lớn để đánh bắt, khai thác thuỷ sản xa bờ và trang bị thiết bị bảo
quản nguyên liệu sau khi khai thác, hạn chế những phế phẩm bị bỏ đi do công nghệ bảo
quản lạc hậu. Nguyên liệu dần đáp ứng đủ cho Nhà máy, góp phần thay đổi tư duy làm ăn
cá thể của ngư dân mà chuyển thành các tổ chức như: tổ hợp tác sản xuất, hợp tác xã
Bằng việc triển khai mạnh hoạt động xúc tiến thượng mại, đổi mới công nghệ thiết
bị máy móc, áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm theo các tiêu
chuẩn tiến tiến của thế giới, đã nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ, kỹ thuật, đổi
mới quản lý doanh nghiệp, đưa chế biến thuỷ sản trở thành ngành sản xuất công nghiệp
hiện đại, có đủ năng lực chủ động hội nhập và cạnh tranh quốc tế.
1.1.2.3. Giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Nước ta có nhiều lợi thế và tiềm năng phát triển kinh tế thuỷ sản, phải coi đây là
một trong những hướng đi chủ đạo của kinh tế biển và ven biển nhằm góp phần phát triển
kinh tế xã hội cải thiện đời sống cư dân và thay đổi bộ mặt của nông thôn ven biển, tạo
nhiều việc làm, tăng thu nhập cho ngư dân và cho nền kinh tế quốc dân, góp phần vào
công cuộc xoá đói giảm nghèo của đất nước. Hiện nay theo thống kê của Bộ Thuỷ sản cho
thấy, tổng số lao động trong ngành thuỷ sản có khoảng gần 4 triệu người [6, tr.07], tỷ lệ

trên địa bàn nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định. Trên cơ sở đó nâng cao khả
năng cung cấp để thoả mãn nhu cầu của thị trường. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu thuỷ
sản còn giúp doanh nghiệp biết được xu hướng và sự biến đổi nhu cầu thị hiếu của khách
hàng, sự phản ứng của họ đối với sản phẩm thuỷ sản của mình.
Tiến hành nghiên cứu thị trường XKTS thế giới cần trả lời vấn đề sau:

Đâu là thị trường có triển vọng đối với sản phẩm xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam. Khả
năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường đó ra sao.Thị trường đang cần những mặt hàng thuỷ
sản nào, mẫu mã, chủng loại, tập quán, thị hiếu của người tiêu dùng như thế nào. Mặt hàng
đang ở thời kỳ nào trong chu kỳ sống của sản phẩm.Tình hình cung cấp thuỷ sản cho thị
trường đó của các nước khác như thế nào và tình hình sản xuất, cung cấp của các doanh
nghiệp Việt Nam ra sao. Luật pháp và các qui định bắt buộc khi đưa thuỷ sản vào thị
trường đó.Hệ thống phân phối tiêu thụ thuỷ sản xuất khẩu trên thị trường đó như thế nào.
Nghiên cứu tỉ suất ngoại tệ để lựa chọn mặt hàng kinh doanh.
Nghiên cứu thị trường XKTS thông qua các phương pháp nghiên cứu tại phòng làm
việc, và nghiên cứu tại hiện trường. Kết quả nghiên cứu thị trường XKTS tốt sẽ cho phép
doanh nghiệp tổ chức sản xuất, chế biến những sản phẩm thuỷ sản thích ứng với thị
trường, về số lượng, chất lượng, giá cả, mẩu mã, và thời gian mà thị trường yêu cầu.
Kết quả nghiên cứu thị trường sẽ là cơ sở giúp doanh nghiệp hoạch định chiến lược,
xây dựng phương án và lựa chọn phương án giao dịch hiệu quả.
1.1.3.2. Lập phương án bán hàng
Các doanh nghiệp tiến hành lập phương án kinh doanh căn cứ vào kết quả thu được
trong quá trình nghiên cứu thị trường nhằm đạt được mục tiêu xác định. Việc lập phương
án kinh doanh bao gồm:
Bước I:
- Đánh giá tình hình thị trường, phát hoạ bức tranh tổng thể về hoạt động kinh
doanh, những thuận lợi, khó khăn.
- Lựa chọn mặt hàng và thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh.
- Đề ra mục tiêu cụ thể như bán hàng cho ai (đối tác nào có lợi), giá cả, khối lượng
bao nhiêu

Đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng xuất khẩu: Mục đích của công việc này là xem
xét hiệu quả của hoạt động xuất khẩu, xem xét những nhược điểm gặp phải để giúp cho
việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu thuỷ sản sau này tốt hơn. Để đánh giá kết quả thực
hiện hợp đồng xuất khẩu cần dựa vào các chỉ tiêu như: doanh thu xuất khẩu, lợi nhuận xuất
khẩu, mức doanh lợi xuất khẩu, các chi phí cho hoạt động xuất khẩu.
1.1.3.4. Thanh lý hợp đồng và giải quyết vụ việc phát sinh

Sau khi thực hiện xong hợp đồng với đối tác là nước ngoài (bên nhận hàng và bên
nhận tiền), có nghĩa là hợp đồng đã chấm dứt.
Nếu sự cố xảy ra khi và chỉ khi một bên không thực hiện đúng cam kết trong hợp
đồng mà làm thiệt hại cho bên kia thì bên thiệt hại có quyền phát đơn kiện.Trường hợp này
sẽ được pháp luật Nhà nước mà giữa hai bên đã thống nhất với nhau ghi trong hợp đồng để
giải quyết (nếu có tranh chấp). Kết luận của của cơ quan có thẩm quyền đó tuyên bố sẽ có
giá trị cho những cuộc tranh cãi sau này (nếu có).
1.2. Đặc điểm về thị trường xuất khẩu thủy sản và các yếu tố ảnh hưởng đến
xuất khẩu thủy sản của nước ta
1.2.1. Đặc điểm thị trường xuất khẩu thủy sản (nhu cầu, thị hiếu, quy mô, thuế,
tính ổn định, pháp luật )
Đến nay sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 119 nước và vùng lãnh thổ,
trong đó chủ yếu tập trung ở các thị trường lớn như: Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc, ASEAN,
Hàn Quốc
Nước truyền thống nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới là Nhật Bản chiếm 22,5%
thế giới, 13.453/59.695 triệu USD và đến năm 2003 là 12.395/67.250 triệu USD chiếm
18,43% và chiếm 18,4%, 12.766/69.267 (FAO 2005).
Thứ hai là Hoa Kỳ năm 2001 là 10.289 tỷ USD, 2003 là 11.655 tỷ USD và 2004 là
12.004 tỷ USD chiếm 17-18% thị trường thế giới. Các nước phát triển Tây Âu (đặc biệt
các nước thuộc liên minh châu Âu) chiếm tỷ trọng xuất khẩu là 37% thế giới và nhập khẩu
là 25.933 tỷ USD năm 2005. Hiện nay, người ta thấy có tên của các nước đang phát triển
như Hồng Kông, Thái Lan, Trung Quốc. Từ năm 1995 đến nay, tiêu thụ thuỷ sản của mỗi
gia đình Trung Quốc tăng lên gấp 3,5 lần. Hơn thế nữa, Trung Quốc được coi là thị trường

Thiết lập hệ thống tổ chức để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xuất khẩu.
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, định mức của các hoạt động xuất khẩu, lấy tiêu
chuẩn quốc tế làm nền tảng của mình có sự điều tiết của nhà nước cho phù hợp với thuần
phong mỹ tục của Việt Nam.
Trên nền tảng của luật quốc tế và luật Việt Nam đã điều tiết để kiểm tra, kiểm soát
những hoạt động xuất khẩu.
Đội ngũ cán bộ quản lý làm công tác xuất khẩu phải biết ngoại ngữ đọc được luật
quốc tế, am hiểu về luật Việt Nam, biết về chính sách hổ trợ cho các doanh nghiệp làm

công tác xuất khẩu, mở rộng mối quan hệ quốc tế và các nước trong khu vực, đồng thời
không được sách nhiễu các nhà xuất khẩu.
1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Để khai thác triệt để tiềm năng thuỷ sản, tránh nguy cơ can kiệt tài nguyên, đồng
thời nâng cao hiệu quả sản xuất và XKTS, phải giải quyết những yếu tố ảnh hưởng đến
xuất khẩu thuỷ sản bằng hành động quyết liệt của các doanh nghiệp và ngư dân, với sự tổ
chức phối hợp có hiệu quả của các hiệp hội và vai trò quản lý thúc đẩy, hổ trợ thiết thực
của Nhà nước.
1.2.2.1. Điều kiện tự nhiên và môi trường đánh bắt, lực lượng đánh bắt, chế biến,
cung ứng hàng thuỷ sản
Nước ta trải dài trên 13 độ vĩ bắc kề sát biển đông, bờ biển dài từ Móng Cái (Quảng
Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) dài 3260 km với 112 cửa sông lạch. Theo công bố của
chính phủ nước CHXHCN Việt Nam năm 1977, biển ta gồm nội hải, lãnh hải, vùng tiếp
giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và hàng
ngàn đảo lớn nhỏ.
Môi trường nước mặn xa bờ: bao gồm vùng nước ngoài khơi thuộc vùng đặc quyền
kinh tế. Mặc dù chưa nghiên cứu kỹ về mặt nguồn lợi nhưng những năm gần đây ngư dân
đã khai thác rất mạnh cả 4 vùng biển khơi (Vịnh Bắc Bộ, Duyên hải Trung Bộ, Đông Nam
Bộ, Tây Nam Bộ và vịnh Thái Lan). Nhìn chung, nguồn lợi thuỷ sản nước ta mang tính
phân tán, quần tụ, dàn nhỏ nên rất khó tổ chức khai thác công nghiệp cho hiệu quả kinh tế
cao. Thêm vào đó khí hậu thuỷ văn của vùng biển này rất khắc nghiệt, nhiều dông bão làm

lưới kéo (30,6%), nghề lưới rê (21,3%), nghề câu (18,6%), nghề vây (7,5%)và các nghề
khác (22,0%).
Tổ chức khai thác: hiên nay có khoảng 580.000 lao động đánh bắt hải sản; có 452
HTX và 4300 tổ hợp tác khai thác hải sản, đã thu hút gần 36.650 lao động. Trong 580.000
lao động nghề cá có 60.000lao động (10,5%) là lực lượng đánh bắt xa bờ, số còn lại là lao
động trên các tàu khai thác ven bờ. Như vậy ta thấy áp lực đánh bắt ven bờ là quá lớn.
Hầu hết các lao động đánh bắt hải sản không qua đào tạo, họ chỉ học tập lẫn nhau
qua quá trình đi biển hay dạng cha truyền con nối do đó chỉ thạo nghề thuần tuý và các
kinh nghiệm đánh bắt cổ truyền, thiếu kiến thức chuyên môn hàng hải và các công nghệ
khai thác hiện đại. Một số có kinh nghiệm đánh bắt cao, nhưng cũng chưa đủ về mặt số

lượng, cũng như năng lực tổ chức đánh bắt xa bờ có hiệu quả, vì họ chưa quen ngư trường
xa bờ, chưa có khả năng để điều hành những con tàu có công suất lớn và các trang thiết bị
hàng hải hiện đại.
Nuôi trồng thuỷ sản: từ năm 1999 đến 2005, trong cả nước đã chuyển đổi 377.269
ha đất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản.Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp sang nuôi
trồng thuỷ sản mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn một số ngành nghề sản xuất nông nghiệp
khác, sản phẩm không chỉ tiêu dùng nội địa mà còn là nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến
xuất khẩu.
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản cả nước đến năm 2005 là 959.945 ha, tăng hơn năm
1999 là 435.327 ha (tăng 82,8%).
Về sản lượng tăng liên tục, năm 1999 sản lượng là 480.767 tấn, năm 2000 là
589.595 tấn, năm 2001 là 709.891 tấn, năm 2002 là 844.810 tấn, năm 2003 là 1.003.095
tấn, năm 2004 đạt 1.202.486 tấn. Năm 2005, ước đạt 1.437.350 tấn (gấp 3 lần năm 1999;
trong đó sản lượng nuôi nước mặn, lợ là 546.716 tấn (tăng 1,5 so năm 2000), sản lượng
nuôi nước ngọt là 890.640 tấn (tăng gấp 4 lần so năm 2000) [23, tr.5].
Chế biến xuất khẩu: công nghiệp chế biến thuỷ sản ngày càng được tăng cường cả
về số lượng, công suất và trình độ công nghệ, trong đó hình thành các khu tập trung các
nhà máy chế biến thuỷ sản gắn liền với các nguồn cung cấp nguyên liệu và các dịch vụ
phục vụ cho xuất khẩu, như cảng, kho thương mại, vận chuyển.

doanh nghiệp Việt Nam và DNNN trên thị trường.
Về pháp luật:
- Chúng ta tiếp tục nghiên cứu, hiệu chỉnh hệ thống luật của ta nhằm hoàn thiện (bổ
sung các điều mới) và loại bỏ một số điều mà nó đã lạc hậu nhằm phù hợp với quy định
của thương mại thế giới.
- Luật Thương mại, luật đầu tư cần mở rộng phạm vi, thêm các qui định để đảm bảo
nguyên tắc hội nhập WTO, làm rõ chức năng quản lý nhà nước trong xuất khẩu.
- Tạo môi trường pháp lý ổn định, cải thiện thủ tục hành chính, khuyến khích,
hướng dẫn các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư lâu dài, gây dựng niềm tin cho doanh nghiệp.
Về môi trường:
- Quản lý tốt việc đánh bắt hải sản xa bờ và nuôi trồng thuỷ sản để đảm bảo nguồn
nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.

- Đẩy mạnh xúc tiến hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường thế giới.
- Thúc đẩy hợp tác kinh tế - kỹ thuật với nước ngoài trong sản xuất và chế biến hàng
thuỷ sản xuất khẩu; đẩy nhanh tiến độ hội nhập khu vực và thế giới.
- Vận dụng linh hoạt chính sách tài chính tín dụng khuyến khích xuất khẩu hàng
thuỷ sản (miễn giảm các loại thuế đối với sản xuất và xuất khẩu hàng thuỷ sản, có chính
sách tài trợ xuất khẩu và thành lập quĩ hỗ trợ sản xuất -xuất khẩu hàng thuỷ sản)
Về thông tin:
- Nhà nước phải hỗ trợ thông tin về thị trường, thông tin về luật pháp, phong tục tập
quản, thị hiếu từng thị trường, quảng bá thương hiệu, marketing và lập các trang Web,
đồng thời Bộ cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia hội chợ quốc tế hàng năm mở
ra ở nước ngoài, thành lập các Hiệp hội nghề cá để hỗ trợ lẫn nhau và không bị phá giá,
chèn ép lẫn nhau trên thương trường để doanh nghiệp không bị thiếu thông tin và ảnh
hưởng về thị trường.
Về nguồn lực:
Để nâng cao trình độ cho đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp chế biến -xuất
khẩu thuỷ sản, đòi hỏi Nhà nước phải liên tục mở các khoá đào tạo tay nghề một cách
chính qui cung ứng cho doanh nghiệp.Đây là vấn đề đặt ra ở các doanh nghiệp của ta vì

luyện, trung tâm chế biến, trung tâm trú bão neo đậu tàu thuyền và cứu hộ cứu nạn.
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng chủ yếu là nuôi trồng công nghiệp đi đôi
với việc quản lý môi trường nuôi, nhằm đảm bảo sản phẩm sạch đáp ứng yêu cầu chế biến
xuất khẩu.
Đẩy mạnh chế biến thuỷ sản xuất khẩu bằng cách tập trung đầu tư đổi mới thiết bị
công nghệ cao, phát triển thêm các nhà máy chế biến
Tập trung đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng trọng điểm các công trình.
Tăng cường các hoạt động giám sát môi trường đối với các hoạt động phát triển
kinh tế thuỷ sản và có biện pháp ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường nhằm bảo tồn
và giữ gìn môi trường tự nhiên phục vụ cho phát triển kinh tế du lịch biển.
1.2.2.3. Năng lực của các doanh nghiệp
Để hàng hoá ngày càng nhiều và càng đa dạng đồng thời tỉ lệ sản phẩm công
nghiệp, sản phẩm chứa hàm lượng kỹ thuật cao buộc các doanh nghiệp phải tăng cường
đầu tư các dây chuyền công nghệ hiện đại, công nghệ tiến tiến. Để nâng cao tỉ trọng công

Trích đoạn Nâng cao tính cạnh tranh của hàng thủy sản xuất khẩu của Đà Nẵng Huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế tham gia vào xuất khẩu thủy sản Đổi mới các chính sách xuất khẩu thuỷ sản Tạo nguồn nguyên liệu bền vững và gắn kết với các vùng nguyên liệu Các giải pháp về mở rộng thị trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status